Mục Lục
ToggleNgày 9.4, Trường ĐH Y dược Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) tổ chức lễ tốt nghiệp và trao bằng cho các tân bác sĩ chuyên khoa I ngành nội khoa, ngoại khoa và tân bác sĩ y khoa đợt 1 năm 2026.
Phát biểu tại buổi lễ, GS-TS-BS cao cấp Cao Tiến Đức, Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược Buôn Ma Thuột, cho biết các sinh viên đã vượt qua những năm tháng học tập, trực bệnh viện áp lực và cả những lần muốn bỏ cuộc, nhưng các em đã đứng vững và đã có quyền tự hào mang trên mình một danh xưng cao quý là bác sĩ.
“Tuy nhiên, sự kiện này không phải là đích đến, mà là lời cam kết bắt đầu cho một hành trình lớn hơn của các em. Hãy nhớ ngành y không cho phép tự mãn, tri thức phải cập nhật mỗi ngày, tay nghề phải rèn luyện suốt đời. Và y đức là điều tuyệt đối không được phép đánh mất”, GS-TS-BS cao cấp Cao Tiến Đức phát biểu.
Trong đợt tốt nghiệp này, Trường ĐH Y dược Buôn Ma Thuột đã trao bằng cho 16 tân bác sĩ chuyên khoa I (khóa 2023 – 2025) và 120 tân bác sĩ y khoa thuộc các lớp liên thông (khóa 2021 – 2026). Kết quả đào tạo ghi nhận nhiều dấu ấn tích cực với 3 thủ khoa toàn khóa, gồm ngành ngoại khoa, ngành nội khoa, y khoa hệ liên thông.
Khoảnh khắc các tân bác sĩ chuyên khoa I và tân bác sĩ y khoa cùng hướng về khán đài, nơi có gia đình đang dõi theo với niềm tự hào, đã tạo nên điểm nhấn giàu cảm xúc của buổi lễ. Tiếp nối mạch cảm xúc, nghi thức tuyên thệ Hippocrates được cử hành trong không gian trang nghiêm, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ giảng đường sang môi trường hành nghề.
Tại buổi lễ, thủ khoa Bùi Mạnh Hùng xúc động chia sẻ: “Hôm nay, khi chuẩn bị rời mái trường, chúng em càng thêm trân trọng những kỷ niệm đã qua và tự hào vì đã nỗ lực hết mình. Tốt nghiệp không phải là điểm kết thúc, mà là sự khởi đầu cho một chặng đường mới, nơi chúng em sẽ tiếp tục học hỏi, rèn luyện và cống hiến nhiều hơn nữa cho xã hội”.
Lao động đổ về đô thị, nhà trẻ quá tải: Lời giải nào cho chất lượng mầm non?

Ngày 6.4, tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục mầm non, Ngân hàng Thế giới và Sở GD-ĐT thành phố Đà Nẵng tổ chức hội thảo "Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non".
Hội thảo thu hút gần 100 cán bộ quản lý đến từ các Sở GD-ĐT khu vực miền Trung cùng nhiều chuyên gia, tập trung trao đổi về nhu cầu và giải pháp phát triển giáo dục mầm non trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp.
Theo ban tổ chức, quá trình đô thị hóa nhanh, đặc biệt tại các khu công nghiệp, kéo theo sự gia tăng lực lượng lao động khiến nhu cầu gửi trẻ, chăm sóc và giáo dục mầm non cho con em người lao động, nhất là lao động nữ, tăng mạnh.
Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ mầm non bảo đảm chất lượng, an toàn và phù hợp với điều kiện làm việc vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách.
Tại hội thảo, các đại biểu được chia sẻ kết quả nghiên cứu đánh giá nhu cầu nhà trẻ, giáo dục mầm non tại các đô thị có khu công nghiệp; đồng thời giới thiệu chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045.
Nhiều ý kiến cũng tập trung đề xuất các giải pháp, khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh giáo dục mầm non là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của trẻ. Giai đoạn từ 3 - 6 tuổi được xem là "thời điểm vàng", khi trẻ phát triển nhanh nhất về thể chất, nhận thức và kỹ năng sống.
Theo ông Vinh, nhiều nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận giáo dục sớm giúp trẻ đạt kết quả học tập tốt hơn ở các cấp học sau, kéo dài thời gian học tập và hình thành năng lực học tập suốt đời. Do đó, đầu tư cho giáo dục mầm non không chỉ bảo đảm công bằng mà còn là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Thời gian qua, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành, trong đó Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030 đặt mục tiêu mở rộng phổ cập cho trẻ từ 3 tuổi, tăng tỷ lệ trẻ đến trường và nâng cao chất lượng tại các địa bàn khó khăn, khu công nghiệp.
Đáng chú ý, năm 2026 bắt đầu triển khai thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với 7 điểm cải cách, theo hướng tiếp cận năng lực, liên thông với chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và chú trọng phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ. Chương trình khung cũng tăng quyền chủ động cho địa phương, phù hợp thực tiễn từng cơ sở, đồng thời bảo đảm chế độ dinh dưỡng và giảm áp lực cho giáo viên.
Tuy nhiên, theo các đại biểu, tại các đô thị đông dân, khu công nghiệp có tỷ lệ di cư lớn vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục mầm non. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn tác động đến việc làm của phụ nữ và sự ổn định xã hội.
Ông Lê Anh Vinh cho biết thêm, thông qua hội thảo, ban tổ chức mong muốn tiếp nhận thêm ý kiến từ cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục để hoàn thiện mô hình giáo dục mầm non tại các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng sát thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Tuyển sinh Y Dược Cần Thơ có tổ hợp C00: văn - sử - địa

Theo đó, năm 2026 Trường đại học Y Dược Cần Thơ sẽ tuyển sinh hai ngành học mới là Kỹ thuật phục hồi chức năng và Tâm lý học (dự kiến), trong tổng số 14 ngành tuyển sinh bậc đại học chính quy.
Các ngành còn lại gồm Y khoa, Y học dự phòng, Y học cổ truyền, Răng hàm mặt, Dược học, Kỹ thuật y sinh, Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học, Y tế công cộng, Dinh dưỡng.
Năm nay nhằm đáp ứng nhu cầu của người học, nhà trường áp dụng đa dạng phương thức tuyển sinh. Cụ thể, xét tuyển dựa vào kết quả kỳ thi THPT 2026, áp dụng cho toàn bộ 14 ngành, xét tuyển thí sinh có điểm thi phù hợp với tổ hợp môn xét tuyển, điểm xét tuyển không nhân hệ số.
Đối với phương thức xét tuyển kết quả thi đánh giá năng lực V-SAT, nhà trường sẽ áp dụng xét tuyển tổ hợp 3 môn tương ứng tổ hợp xét tuyển thi THPT của một ngành (không nhân hệ số).
Môn thi của kỳ thi V-SAT được dùng xét tuyển sẽ lấy dữ liệu điểm cao nhất của thí sinh (ở tất cả các đợt thi thí sinh tham dự). Áp dụng xét tuyển phương thức này cho tất cả các ngành bậc đại học chính quy.
Ngoài ra, các phương thức khác như xét tuyển thẳng, ưu tiên xét tuyển và xét tuyển đào tạo theo hợp đồng vẫn giữ theo quy chế của trường và theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Riêng với phương thức xét tuyển của thí sinh người nước ngoài, Trường đại học Y Dược Cần Thơ chỉ xét tuyển đối với ngành Y khoa. Xét tuyển đối với người tốt nghiệp THPT hoặc trung cấp có học chương trình THPT ở nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài.
Điều kiện thí sinh đạt chuẩn năng lực tiếng Anh theo yêu cầu của ngành đào tạo, được đào tạo THPT theo chương trình tiếng Anh hoặc các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế tương ứng (IELTS, TOEFL, TOEIC…)
Đáng chú ý, năm 2026 trường mở rộng đến 7 tổ hợp xét tuyển, ngoài các ngành xét tuyển tổ hợp truyền thống A00 (toán - lý - hóa), B00 (toán - hóa - sinh)… còn có các tổ hợp mở rộng như B08 (toán - sinh - tiếng Anh), X06 (toán - lý - tin), D07 (toán - hóa - tiếng Anh).
Đối với một số ngành học mới như Tâm lý học, ngoài tổ hợp truyền thống B00 còn tuyển sinh cả tổ hợp D01 (văn - toán - tiếng Anh) và C00 (văn - sử - địa). Ngành Y tế công cộng cũng tuyển sinh ở hai tổ hợp này.
Theo quy chế tuyển sinh, năm nay chỉ tiêu tuyển sinh của Trường đại học Y Dược Cần Thơ là 2.460 chỉ tiêu, cao nhất là ngành Y khoa với trên 1.000 chỉ tiêu. Xét tuyển theo mã ngành lấy điểm từ cao xuống thấp (theo chỉ tiêu của trường), không phân biệt nguyện vọng giữa các thí sinh (nguyện vọng 1 là ưu tiên cao nhất), điểm xét tuyển theo thang điểm 30 và làm tròn đến hai chữ số thập phân.
Đối với hệ liên thông chính quy, trường xét kết quả học tập cấp THPT (học bạ), kết hợp với kết quả học tập trung cấp hoặc cao đẳng...
Đối với mức học phí dự kiến, sinh viên đại học chính quy năm học này, mức học phí từ trên 50 triệu đồng đến trên 70 triệu đồng/năm học. Học phí cao nhất là ngành Y khoa và Dược học.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/tuyen-sinh-y-duoc-can-tho-co-to-hop-c00-van-su-dia-20260407135855844.htm
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn ngoại ngữ cần thoát khỏi lối mòn điểm số

Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.




