Mục Lục
ToggleBà Lê Thị Hồng Thủy, Hiệu trưởng trường THCS Thanh Đa, phường Bình Quới, chiều 13/4 cho biết dừng tổ chức bán trú cho đến khi có kết luận của cơ quan chức năng.
Quyết định được đưa ra trong bối cảnh nhiều phụ huynh lo ngại, chủ động rút suất ăn, sau vụ gần 200 học sinh trường Tiểu học Bình Quới Tây ngộ độc thực phẩm giữa tuần trước.
Hiện, phụ huynh đón con về buổi trưa hoặc chuẩn bị cơm cho con mang theo. Tiền suất ăn 37.000 đồng một ngày sẽ được trường hoàn trả.
“Việc này gây bất tiện cho phụ huynh nhưng họ yên tâm hơn. Hôm nay có gần 200 bé được chuẩn bị cơm, ở lại trường nghỉ trưa”, bà Thủy nói, cho biết trường có 950 học sinh, hơn 520 em ăn bán trú trước đó.
Trường THCS Lam Sơn và THCS Bình Quới Tây cũng ra quyết định tương tự. Trong đó, trường Lam Sơn có khoảng 300/1.000 học sinh đăng ký bán trú.
Ba trường này và Tiểu học Bình Quới Tây vốn cùng dùng suất ăn chế biến sẵn từ một công ty ở phường Thạnh Mỹ Tây.
Trường Tiểu học Bình Quới Tây với 900 học sinh đã dừng tổ chức ăn bán trú từ ngày 9/4. Sở Y tế xác định vi khuẩn Salmonella là tác nhân khiến học sinh ngộ độc thực phẩm.
Sở An toàn Thực phẩm nghi ngờ bữa ăn ngày 7/4 của trường này “có vấn đề”. Hôm đó, học sinh ăn gà kho gừng, canh bắp cải nấu thịt, dưa leo xào; bữa xế có bánh flan.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/them-3-truong-o-tp-hcm-dung-bua-an-ban-tru-5061841.html

ĐH Quốc gia TP.HCM chính thức công bố điểm thi đánh giá năng lực (ĐGNL) đợt 1 năm nay. Thống kê sơ bộ từ ĐH này cho thấy, phân bố điểm thi đợt 1 năm 2026 có dạng gần với phân bố chuẩn, có xu hướng đối xứng quanh giá trị trung tâm, giá trị điểm trung bình và trung vị bằng nhau, với mật độ tập trung cao ở vùng điểm trung bình và giảm dần về hai phía.
Độ lệch chuẩn của điểm thi ở mức 141,2 cho thấy mức độ phân tán tương đối cao, phản ánh khả năng phân loại tốt của bài thi. Dải điểm trải rộng từ mức rất thấp đến gần mức tối đa, phản ánh khả năng bao phủ phổ năng lực rộng của đề thi; điều này cho thấy đề thi có khả năng phân hóa tốt, giúp phân loại thí sinh (TS) theo nhiều mức độ năng lực khác nhau. Dải điểm rộng và sự phân bổ hợp lý của các mức điểm góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng kết quả thi trong công tác tuyển sinh.
Đợt 1 năm nay phổ điểm có dạng gần phân bố chuẩn với điểm trung bình và trung vị đều bằng 682 điểm. Khoảng 30% TS đạt dưới 600 điểm, 55% dưới 700 điểm và chỉ khoảng 6% đạt từ 900 điểm trở lên, cho thấy sự phân tầng rõ rệt giữa các nhóm năng lực.
So với năm 2025, phổ điểm năm 2026 có xu hướng dịch chuyển nhẹ về phía điểm cao, đồng thời độ phân tán tăng, cho thấy TS đã thích nghi tốt hơn với cấu trúc đề thi mới, trong khi đề thi vẫn đảm bảo tính phân loại hiệu quả. Các chỉ số về độ khó và độ phân biệt của câu hỏi đều đạt mức tốt, với phần lớn câu hỏi nằm trong khoảng độ khó trung bình và hơn một nửa đạt mức phân biệt rất tốt, góp phần nâng cao giá trị sử dụng của kết quả thi trong tuyển sinh ĐH.
Tiến sĩ Phạm Tấn Hạ, cố vấn tuyển sinh và đào tạo Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng nhìn vào thống kê các đặc trưng của kết quả thi đợt 1 trong 3 năm (2024 - 2026), có thể thấy năm nay điểm thi đạt mức cao nhất. Trong đó, điểm trung bình năm nay ở mức 682 điểm (trong khi năm 2024 đạt mức 643,4 và 2025 đạt mức 618,4). Điểm trung vị - khoảng điểm nhiều TS đạt được nhất, năm nay cũng ở mức cao nhất, lên tới 682 điểm (năm 2024 ở mức 638 và 2025 là 609 điểm). Hơn nữa mức điểm thi cao nhất TS đạt được của năm nay cũng ở mức kỷ lục, lên tới 1.098 điểm trên tổng điểm 1.200 toàn bài thi (năm 2024 ở mức 1.076 điểm và 2025 đạt 1.060 điểm).
"Theo xu hướng các năm trước, kết quả thi đợt 2 của TS thường cao hơn đợt 1 do số lượng lớn TS dự thi lại để cải thiện điểm. Nếu theo đúng xu hướng này như các năm trước, kết quả thi của TS dự thi trong toàn năm 2026 dự báo cũng sẽ ở mức cao", tiến sĩ Hạ phân tích thêm.
Thạc sĩ Phùng Quán, chuyên gia tuyển sinh Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cũng cho rằng phổ điểm năm 2026 hợp lý, phân hóa tốt, giúp các trường thuận lợi trong phân loại và chọn lọc TS. Theo đó, phổ điểm cho thấy một xu hướng rõ rệt: mặt bằng điểm tăng lên đáng kể, đồng thời độ phân hóa vẫn được duy trì. So với năm 2025, phổ điểm năm nay dịch chuyển về phía cao, đặc biệt ở các nhóm điểm từ 750 trở lên. Tỷ lệ TS đạt từ 800 điểm tăng mạnh, trong khi nhóm điểm thấp thu hẹp đáng kể. Điều này cho thấy đề thi không "dễ hóa", mà khả năng làm bài của TS được cải thiện và phổ điểm được kéo giãn ở vùng trên.
Tuy nhiên, theo thạc sĩ Quán, khi nhìn sâu vào cấu trúc phổ điểm, có thể thấy vùng từ 700 - 900 trở thành khu vực tập trung đông TS nhất. Điều này đồng nghĩa việc các mốc điểm từng được xem là an toàn trước đây đang dần mất đi ý nghĩa. Nếu như trước đây 700 điểm đã có thể tạo lợi thế, thì năm nay mốc 800 mới chỉ là điểm khởi đầu cho cạnh tranh ở nhiều ngành. Mặt bằng điểm năm nay cao lên rõ, nhưng không phải theo kiểu "đề dễ nên mất phân loại". Ngược lại, phổ điểm năm 2026 vừa cao hơn, vừa rộng hơn.
Nhìn ở phụ lục khoảng điểm, nhóm 751 - 800 tăng từ 7,2% năm 2025 lên 10,9% năm 2026; nhóm 801 - 850 tăng từ 4,9% lên 9,3%; nhóm 851 - 900 tăng từ 3% lên 7%; nhóm 901 - 950 tăng từ 1,6% lên 4% - tức là phần "đuôi phải" dày lên rất mạnh và đây mới là điểm làm mùa tuyển sinh năm nay khó đoán.
Ở chiều ngược lại, thạc sĩ Quán cho rằng nhóm điểm thấp co lại rõ. Ví dụ nhóm 451 - 500 giảm từ 10,5% xuống 5,6%, nhóm 501 - 550 giảm từ 13,1% xuống 8,2%, nhóm 551 - 600 giảm từ 13,9% xuống 10,7%; nghĩa là phổ điểm không chỉ dịch sang phải, mà còn làm cho vùng 650 - 900 trở thành vùng đông TS nhất. Khoảng 30% TS dưới 600 điểm, 55% dưới 700, 78% dưới 800, và chỉ khoảng 6% từ 900 điểm trở lên. Hay nói cách khác, năm nay 700 điểm không còn là mốc nổi trội, 800 điểm mới bắt đầu là vùng cạnh tranh khá, còn 900 điểm trở lên vẫn mạnh nhưng không còn "hiếm đến mức an toàn tuyệt đối".
Thạc sĩ Quán nhấn mạnh những con số biết nói từ phổ điểm thi đợt 1 năm nay, và cho rằng vùng 700 - 900 điểm có thể trở thành "chảo lửa" khi tập trung đông TS nhất, khiến mốc 700 điểm không còn là lợi thế vượt trội, và 800 điểm mới chỉ là điểm khởi đầu cho cuộc đua vào các ngành khá.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, điều đáng chú ý không nằm hoàn toàn ở số điểm, mà ở sự thay đổi căn bản cách thức tuyển sinh năm nay của nhiều trường.
Tiến sĩ Phạm Tấn Hạ nhìn nhận: "Phổ điểm thi chưa đủ cơ sở để đánh giá mức độ cạnh tranh hoặc xu hướng điểm chuẩn trong xét tuyển. Năm nay, vấn đề quan trọng còn nằm ở việc thay đổi phương thức xét tuyển, khi mà nhiều trường chuyển sang xét tuyển kết hợp đồng thời nhiều tiêu chí. Điểm chuẩn được xác định trên nhiều yếu tố, trong đó riêng cách tính điểm xét tuyển còn phụ thuộc cả điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm học bạ…". Do đó, theo tiến sĩ Hạ, điểm chuẩn sẽ khó đoán với những trường lần đầu áp dụng cách thức tuyển sinh mới; tuy nhiên TS có điểm cao bài thi ĐGNL sẽ có nhiều lợi thế trong xét tuyển, đặc biệt những trường tính trọng số cao với điểm bài thi này, ví dụ Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM).
Thạc sĩ Phùng Quán cũng nhấn mạnh: "Năm 2026, nhiều trường chuyển sang mô hình xét tuyển tổng hợp, kết hợp điểm ĐGNL với học bạ và các tiêu chí khác. Khi đó, điểm thi năng lực không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà trở thành một thành phần trong tổng thể hồ sơ".
Chuyên gia này cho rằng điểm chuẩn theo điểm ĐGNL thuần sẽ khó dự báo, vì hai TS cùng 800 điểm bài thi ĐGNL nhưng học bạ khác nhau sẽ tạo ra hai vị trí cạnh tranh khác nhau. Nhóm bị ảnh hưởng mạnh nhất là vùng giữa phổ điểm, trong khoảng 700 - 850 điểm. Đây là vùng năm nay tăng đông nhất nhưng khi xét tổng hợp, nhóm này sẽ bị phân hóa tiếp bởi học bạ. Nhóm TS đạt từ 900 điểm trở lên vẫn có lợi thế lớn, nhưng không tuyệt đối như trước, vì phổ điểm năm nay cho thấy 900 điểm trở lên chiếm khoảng 6% TS, tức không còn quá hiếm.
"Quan trọng vẫn là biến động sẽ khác nhau giữa các trường, các ngành. Ngành "hot" sẽ bị ảnh hưởng mạnh nhất vì TS dồn đông ở vùng 800 - 900 điểm. Ngành trung bình sẽ có hiện tượng "mềm hơn dự đoán", vì phần chênh được giãn sang học bạ", thạc sĩ Quán nhận định.
Tin Gốc: Thanh Niên

Thời gian gần đây, tình trạng học sinh sử dụng xe điện "độ chế" có xu hướng gia tăng. Việc tự ý nâng công suất, tháo bỏ thiết bị an toàn hoặc lắp thêm phụ kiện không đúng quy chuẩn khiến xe điện mất ổn định, khó kiểm soát, đặc biệt trong các tình huống bất ngờ dễ xảy ra tai nạn nếu các em không có kỹ năng xử lý, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm gia tăng nguy cơ tai nạn giao thông.
Trước tình hình đó, sáng 14-4, Đội Cảnh sát giao thông An Lạc thuộc Phòng Cảnh sát giao thông (PC08) Công an TP.HCM phối hợp Công an xã Vĩnh Lộc tiến hành kiểm tra bất ngờ bãi xe Trường THCS Đồng Đen và Trường THCS Vĩnh Lộc A.
Theo ghi nhận, tại bãi xe Trường THCS Đồng Đen trên đường Quách Điêu (ấp 67), hàng trăm học sinh sử dụng xe đạp điện để đi học mỗi ngày.
Kết quả lực lượng chức năng kiểm tra cho thấy đa số các xe điện giữ nguyên thiết kế ban đầu của nhà sản xuất, không phát hiện trường hợp "độ chế" hay thay đổi kết cấu trái quy định. Tuy nhiên nhiều trường hợp xe điện được học sinh tự ý gắn thêm hoặc tháo bớt các phụ kiện như đèn, phuộc... để trang trí cũng tiềm ẩn nguy cơ cháy, nổ.
Qua công tác kiểm tra, đây được xem là kết quả bước đầu ghi nhận từ sự phối hợp giữa lực lượng chức năng, nhà trường và gia đình trong công tác tuyên truyền, quản lý các em học sinh.
Làm việc với Ban giám hiệu nhà trường, thiếu tá Lê Minh Trí, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông An Lạc, cho biết không chỉ dừng lại ở việc các em học sinh có "xu hướng" thích "độ chế" xe điện, hành vi tham gia giao thông của học sinh cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như không đội mũ bảo hiểm, đi dàn hàng ngang, chở ba, bám đẩy nhau hoặc sử dụng điện thoại khi đang chạy xe.
Những thói quen này không chỉ đe dọa trực tiếp đến an toàn của các em, mà còn ảnh hưởng đến những người tham gia giao thông xung quanh.
Trước thực trạng đó, lực lượng chức năng đã tăng cường kiểm tra tại các trường học, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền về độ tuổi lái xe đạp điện, xe máy điện, tác hại của việc "độ chế" xe điện và kỹ năng tham gia giao thông an toàn. Bên cạnh đó, lực lượng chức năng cũng tăng cường tuần tra, xử lý học sinh vi phạm giao thông trên đường liên quan xe điện.
Ban giám hiệu nhà trường ký cam kết trong việc tuyên truyền, nhắc nhở các em học sinh chấp hành nghiêm Luật Trật tự, an toàn giao thông, không sử dụng xe điện "độ chế"... Nếu học sinh vi phạm nội quy, nhà trường sẽ có biện pháp xử lý kỹ luật, đây được xem là giải pháp thiết thực nhằm nâng cao ý thức tự giác ngay từ sớm của các em học sinh.
Thiếu tá Lê Minh Trí cho biết thêm để hạn chế tai nạn giao thông trong lứa tuổi học sinh, cần sự chung tay của toàn xã hội. Phụ huynh phải quản lý chặt chẽ xe của con em, nhà trường tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, còn lực lượng chức năng tiếp tục kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

