Mục Lục
ToggleCách đây vài năm, vợ chồng tôi thống nhất với nhau rằng mỗi tháng, sau khi trừ hết chi phí sinh hoạt, mỗi tháng phải để ra ít nhất 10 triệu đồng cho quỹ hưu trí. Đây được xem như là một khoản chi bắt buộc, giống như tiền điện hay tiền học của con và tuyệt đối không đụng vào nếu không thật sự nguy kíp.
Khoản tiền đó, mỗi năm chúng tôi lại cân đối để mua vàng để giữ giá trị trong bối cảnh lạm phát khó đoán. Khi tích lũy đủ, chúng tôi sẽ bắt đầu tìm đất vườn ở những khu vực xa trung tâm, giá còn thấp để dành.
Chúng tôi tin rằng vài chục năm nữa, những vùng đất hôm nay còn heo hút rồi cũng sẽ thay đổi. Sau này chúng tôi sẽ về đó sống.
Chúng tôi chọn cách này vì nhìn tới lui và phát hiện một thực tế rất rõ: Nhiều gia đình gần như không có tích lũy vì họ tiêu hết cho con cái trong thời gian dài.
Với nhiều gia đình, việc nuôi con dường như không có điểm dừng rõ ràng. Con 18 tuổi vẫn được xem là chưa đủ lớn. 25 tuổi, đi làm rồi nhưng vẫn ở nhà, ăn uống, sinh hoạt phụ thuộc vào cha mẹ. Thậm chí có những trường hợp ngoài 30 tuổi, chưa lập gia đình thì vẫn sống như một đứa trẻ lớn. Mọi chi phí từ ăn uống, điện nước đến cả những khoản cá nhân vẫn do cha mẹ gánh.
Không dừng lại ở đó, khi con lập gia đình, nhiều người vẫn không ra riêng. Cha mẹ tiếp tục hỗ trợ, thậm chí nuôi luôn cả cháu. Một vòng lặp kéo dài khiến tài chính của cha mẹ bị bào mòn dần theo năm tháng. Đến khi nhận ra cần chuẩn bị cho tuổi già thì đã muộn.
Tôi từng chia sẻ quan điểm này với nhiều người, nhưng không phải ai cũng đồng tình. Lý do lớn nhất vẫn là yếu tố văn hóa “hy sinh tất cả vì con” được xem là chuẩn mực. Nhiều người cho rằng, đã là cha mẹ thì phải lo cho con đến khi nào không lo nổi nữa mới thôi.
Về phía con cái thì sao, chúng suy nghĩ gì? Con cái ngày nay có thể phải di chuyển liên tục vì công việc, sống ở những thành phố đắt đỏ, thậm chí ra nước ngoài. Không gian sống ngày càng thu hẹp, chi phí ngày càng cao. Việc ở chung nhiều thế hệ không còn dễ dàng như trước. Ngay cả khi muốn báo hiếu, không phải ai cũng đủ điều kiện về tài chính hay thời gian.
Quan trọng hơn, kỳ vọng “con cái sẽ chăm sóc mình khi về già” đôi khi là một sự đặt cược đầy rủi ro. Không hẳn là chúng bất hiếu, mà là vì hoàn cảnh không cho phép. Như tôi chỉ có một đứa con, nếu không tự lo cho tuổi già của hai vợ chồng, thì trong tương lai, làm sao có thể “ép” hay “trách” đứa con một phải hiếu thảo, chăm sóc chúng tôi?
Vậy nên, theo tôi, cách báo hiếu thiết thực nhất mà cha mẹ có thể dạy cho con, chính là tự lo được cho chính mình. Mà muốn lo được cho chính mình sau này, cha mẹ cần phải bớt “thương” con.
Tin Gốc: Vnexpress
Ý Kiến
Tôi không còn 'kiếm tiền là duy nhất' sau hai năm sống chậm tuổi trung niên

Tôi bước sang tuổi 40 trong một trạng thái mà nhiều người có thể gọi là ổn định. Công việc đều, thu nhập đủ, có nguồn thu cho thuê, gia đình không có biến động lớn. Nếu nhìn từ bên ngoài, tôi không có lý do gì để dừng lại.
Nhưng chỉ có tôi mới cảm nhận rõ một điều là mình đang chậm lại. Không phải là thất bại, cũng không phải một cú sốc nào rõ rệt. Tôi vẫn đi làm, vẫn hoàn thành công việc, vẫn đạt những mục tiêu quen thuộc.
Nhưng cảm giác hứng thú gần như biến mất. Những thứ trước đây từng khiến tôi có động lực, giờ chỉ còn là trách nhiệm. Tôi bắt đầu sống theo quán tính, và điều đó khiến tôi thấy bất an hơn cả áp lực.
Có một câu hỏi cứ lặp lại trong đầu tôi thời điểm đó: Nếu cứ tiếp tục như vậy, 5 hay 10 năm nữa, mình sẽ trở thành phiên bản nào của chính mình?
Tôi không tìm được câu trả lời khi vẫn đang quay trong guồng công việc. Vì thế, ở tuổi từ 40 đến 42, tôi quyết định cho mình một khoảng nghỉ. Không phải nghỉ hẳn, cũng không buông bỏ tất cả, mà là một bước lùi có chủ đích để không tiếp tục đi trong trạng thái mơ hồ.
Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm, công việc không còn là trung tâm của mọi quyết định. Tôi bắt đầu dành thời gian cho những thứ trước đây luôn bị xếp sau. Tôi đi nhiều hơn. Tôi gặp gỡ bạn bè một cách thoải mái, không cần gắn với lợi ích nào. Tôi cho phép mình có những khoảng thời gian không làm gì cả, điều mà trước đây gần như không tồn tại.
Và tôi bắt đầu tập thể thao đều đặn, ba đến bốn buổi mỗi tuần. Tôi bắt đầu trồng cây cảnh, nuôi cá, đọc sách, viết lách, đi du lịch thường xuyên
Ban đầu, cảm giác không dễ chịu. Tôi quen với việc luôn phải bận rộn, luôn phải tạo ra kết quả. Khi nhịp độ chậm lại, tôi có cảm giác như mình đang tụt lại phía sau. Nhưng càng đi qua giai đoạn đó, tôi càng nhận ra dừng lại không phải là thụt lùi. Có những lúc, đó là cách duy nhất để không đi sai đường quá xa.
Khoảng thời gian đó cho tôi một quãng thời gian để nhìn lại, thứ mà trước đây tôi gần như không có.
Tôi nhận ra suốt nhiều năm, mình sống rất nhanh. Luôn đặt mục tiêu tiếp theo ngay khi vừa đạt được mục tiêu hiện tại. Luôn cố gắng làm nhiều hơn, tốt hơn, nhanh hơn. Nhưng lại rất ít khi tự hỏi mình có thực sự muốn điều đó hay không.
Ở tuổi 20-30, cách sống đó giúp tôi tiến lên. Nhưng đến tuổi 40, nếu vẫn tiếp tục như vậy, cảm giác trống rỗng bắt đầu xuất hiện. Không phải vì thiếu thành tựu, mà vì thiếu hiểu biết với chính mình.
Hai năm chậm lại không mang đến cho tôi tất cả câu trả lời, nhưng nó giúp tôi đặt lại những câu hỏi đúng.
Khi quay lại công việc, tôi không còn là người trước đó nữa. Tôi không đặt mục tiêu duy nhất là kiếm tiền, cũng không cố làm nhiều nhất có thể. Tôi bắt đầu chọn cách làm việc phù hợp với trạng thái của mình hơn.
Khi còn năng lượng, tôi làm việc tập trung và hiệu quả. Khi mệt, tôi nghỉ mà không còn cảm thấy áy náy. Khi có thời gian rảnh, tôi đi chơi, tận hưởng hoặc đơn giản là ở yên trên sân thượng cho cá ăn, dọn bể, cắt tỉa cành. Những điều trước đây từng khiến tôi thấy không hiệu quả, giờ lại trở thành một phần cần thiết.
Việc tập thể thao vẫn được duy trì đều đặn. Không phải để đạt thành tích gì, mà để giữ cho cơ thể đủ khỏe và đầu óc đủ rõ ràng hoặc rủ bỏ stress của ngày đó. Sau một thời gian, tôi nhận ra năng lượng của mình không còn bùng nổ như trước, nhưng lại bền và ổn định hơn.
Đi qua giai đoạn đó, tôi hiểu rõ hơn về cái gọi là khủng hoảng tuổi trung niên. Thực ra, đó không hẳn là khủng hoảng. Đó là lúc con người bắt đầu nhìn lại và nhận ra những gì từng phù hợp trước đây có thể không còn phù hợp nữa.
Vấn đề không nằm ở việc chững lại, mà nằm ở cách mình phản ứng với nó.
Nhiều người tiếp tục chạy, dù không còn động lực. Nhiều người khác chọn dừng hẳn và thu mình lại. Cả hai đều dễ dẫn đến một trạng thái chung: Sống theo quán tính.
Trong khi đó, tuổi 40-60 vẫn là một quãng thời gian rất dài. Nếu không có sự điều chỉnh, rất dễ rơi vào việc làm cầm chừng, ngại thay đổi, tự hài lòng với những gì đang có. Và theo thời gian, cả thể chất lẫn tinh thần đều đi xuống.
Tôi không nghĩ ai cũng cần phải có một khoảng nghỉ như tôi. Nhưng tôi nghĩ ai bước vào tuổi 40 cũng sẽ có lúc phải đối diện với câu hỏi mình muốn sống phần đời còn lại như thế nào?
Với tôi, khoảng nghỉ đó không làm tôi mất đi điều gì quá lớn. Ngược lại, nó giúp tôi hiểu rõ hơn về bản thân, biết điều gì thực sự quan trọng, và học cách cân bằng giữa làm việc và sống.
Tôi không làm ít đi mà chỉ làm việc có chọn lọc hơn. Nếu nhìn lại, tôi không hối tiếc vì đã chững lại ở tuổi 40. Không phải vì đó là một quyết định hoàn hảo, mà vì đó là một quyết định cần thiết.
Ở thời điểm đó, tôi nhận ra mình không còn nhiều thời gian để thử sai một cách vô thức. Nhưng mình vẫn còn đủ thời gian để sống một cách có ý thức. Và đôi khi, để làm được điều đó, mình cần đủ dũng cảm để chậm lại và đủ mạnh mẽ để khởi động lại bản thân sau thời kỳ tạm ngủ đông.
Nguyen Thanh Phat
Ý Kiến
'Ba tôi không biết đường về quê nhưng con cháu vẫn ghi nguyên quán Quảng Ninh'

"Tôi là người bị vướng rắc rối vì cái vụ nguyên quán kia khi giấy tờ mấy cháu nhỏ bị yêu cầu cập nhật, hoặc trước đây nhập vào không đúng.
Ba tôi sinh ra ở Quảng Ninh, và vào trong miền Nam từ lúc ông 5 tuổi. Đến bây giờ, nói thật, ba tôi có hỏi đường để về làng, nơi sinh ra thì chắc chắn 100% cũng không biết ông là ai.
Tôi sinh ở Đồng Nai, trong khai sinh, chứng minh nhân dân và bây giờ là căn cước công dân của tôi cũng ghi nguyên quán Quảng Ninh. Hiện tại là đời cháu, tức là con tôi, sinh ở TP HCM, vẫn giữ nguyên thông tin nguyên quán là Quảng Ninh.
Tôi cũng không hiểu ở ngoài đó gia đình tôi còn gì, hay ai đó ngoài đó biết gì về gia đình tôi? Trong khi lỡ có sai lệch một chút là giấy tờ không làm được. Thật là rắc rối, cái gì quan trọng thì ghi vào, không quan trọng thì bỏ ra".
Độc giả nickname Mít Tơ Bin chia sẻ như trên, về câu chuyện nhiều thế hệ trong một gia đình vẫn mang cùng một quê quán trên giấy tờ, dù thực tế không còn bất kỳ mối liên hệ nào. Bình luận này được viết sau bài Quê quán để làm gì?,trong bài viết này, tác giả trình bày rằng người lớn cũng dễ nhầm lẫn giữa các khái niệm như nơi sinh, nơi cư trú, thường trú, tạm trú, quê quán hay nguyên quán dù chúng có ý nghĩa pháp lý khác nhau.
Nơi cư trú là nơi đang sinh sống, gồm thường trú và tạm trú; nơi sinh là địa điểm được ghi trên giấy khai sinh và không thay đổi.
Trong khi đó, quê quán là thông tin bắt buộc trên giấy khai sinh và trong dữ liệu dân cư nhưng chưa có định nghĩa rõ ràng, chủ yếu xác định theo quê cha hoặc mẹ. Còn nguyên quán là khái niệm mơ hồ hơn, thường được hiểu là quê gốc của ông bà và hiện ít sử dụng.
Độc giả Hằng kể: "Bố chồng tôi sinh ra và lớn lên ở Nam Định, sau đó lên Hà Nội năm 18 tuổi và lấy vợ ở Hà Nội. Chồng tôi sinh ra ở Hà Nội vẫn ghi quê quán Nam Định, giờ con trai tôi cũng sinh ở Hà Nội vẫn ghi mục quê quán Nam Định.
Chồng tôi và con trai tôi không có khái niệm về quê quán mấy vì bố chồng tôi có hai anh em, mọi người tản mát đi thoát ly nơi khác nên ít gặp nhau. Vậy, thử hỏi cái quê quán Nam Định ấy phải ghi đến đời thứ bao nhiêu mặc dù không có khái niệm gì về nơi ông, cụ mình sinh ra".
Tương tự, độc giả nickname Hannah: "Bố tôi và tôi đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng quê quán thì vẫn ghi theo quê gốc của ông nội, và các con tôi cũng sẽ như vậy mặc dù các cháu (thậm chí cả tôi) không có ký ức hay kỷ niệm nào với nơi đó (do ông bà đều không còn nhà ở quê và cũng không còn họ hàng thân thiết ở quê gốc nữa).
Mỗi lần bạn bè hỏi quê ở đâu, tôi cũng không biết trả lời sao cho đúng, nói là Hà Nội lại bảo mất gốc, mà nói ở quê quán lại thấy sai sai".
Vấn đề càng trở nên phức tạp trong môi trường giáo dục và quản lý hồ sơ, độc giả Phạm Minh nói: "Đúng là vấn đề nan giải, giáo viên chủ nhiệm các cấp và quản lý cũng đang đau đầu vấn đề này. Ví dụ như nơi sinh, chưa có hướng dẫn ghi thế nào, có em học sinh được ghi trên giấy khai sinh là bệnh viện mình sinh ra, có em ghi nơi bố mẹ ở khi sinh ra mình.
Còn quê quán và nguyên quán mới đau đầu. Quê quán mà ghi nơi bố sinh ra thì nếu bố lại ghi theo bệnh viện mình sinh ở tận bệnh viện lớn do gia đình đưa lên thì sao?
Hay là ghi theo quê của bố? Nếu cứ ghi theo quê quán của bố thì có khi đến 10 đời nữa mặc dù họ ở qua hết các tỉnh thành thì vẫn chỉ ghi một quê vì cứ truyền lại cho nhau theo tính chất bắc cầu: quê ông là quê bố, quê bố là quê con, quê con là quê cháu... Qua nhiều đời sẽ nhiều thế hệ không còn biết ai ở quê đó nữa nhưng vẫn ghi như vậy thì rất vô lý".
Độc giả hieuleminhbloc:
"Tôi xin trích dẫn nguyên một đoạn mà cô giáo chủ nhiệm lớp 12 của con tôi gửi cho quý phụ huynh (QPH) như sau:
'Kính gửi QPH, thông tin học sinh, mỗi bạn sẽ nằm ở 2 trang, kính nhờ QPH cùng tham gia dò lại thật chính xác, vì đây là dữ liệu ký số gửi về Bộ, mọi sai sót sau này nếu PH không dò kỹ sẽ không thể thay đổi và phải chịu trách nhiệm. QPH nói cho các con tổ/thôn/xóm theo quê quán đầy đủ để các con báo lại với cô vào ngày mai. Các mục khác nếu sai chỗ nào QPH nhắn tin riêng cho GVCN trong hôm nay. Trân trọng cảm ơn QPH'.
Bản thân tôi còn không biết tổ/thôn/xóm của cái gọi là quê quán thì làm sao con tôi biết? Hơn 50 năm từ ngày sinh ra đã không sinh ở nơi gọi là "quê quán" thì làm sao biết được những thay đổi về địa giới ở nơi đó.
Mỗi lần mấy đứa nhỏ phải khai báo những thông tin liên quan đến quê quán thì mình thấy càng áp lực và bức xúc vì thấy việc yêu cầu thông tin ngày càng chi tiết hơn, trong khi từ ngày xưa lúc còn nhỏ mình còn không phải khai báo thế này".
Trong khi đó, một số độc giả lại nghĩ khác. Độc giả nickname simpler1981 nói:
"Quê quán trên trường dữ liệu cá nhân là hình thức minh bạch đâu là quê hương của một cá nhân. Đối với nhiều người, quê hương là một phạm trù thiêng liêng, trân quý, là cội nguồn truyền thống.
Tôi nghĩ không có lý do gì để loại bỏ trường thông tin 'quê quán' trên dữ liệu cá nhân; điều quan trọng là cần minh bạch, cụ thể, thống nhất cách xác định quê quán của mỗi cá nhân".
Đồng tình, độc giả nickname hoanghai.ats: "Xin hỏi nếu không có quê quán thì khi bạn cần xác minh nguồn gốc bạn dựa vào cái gì? Có một số ngành nghề khi con em đăng ký thi cần được xác minh các đời trước nữa đấy. Mình nghĩ có vẻ tác giả không có quê xa hay chưa phải gặp trường hợp làm giấy tờ cần nhiều thủ tục xác minh.
Ngoài ra, về cách hiểu, quê quán nó không chỉ là một nét văn hóa mà còn là trách nhiệm của thế hệ trước chỉ dẫn, truyền đạt cho thế hệ tiếp theo biết về nguồn gốc cũng như văn hóa của quê mình, đừng chỉ lo chạy theo cơm áo gạo tiền mà quên đi nguồn cội".
Độc giả Lê Hoàng đề xuất: "Đầu tiên, cần có định nghĩa và giải thích rõ để tất cả mọi người hiểu và ghi cho đúng bởi hiện có nhiều cách hiểu và ghi khác nhau, ví dụ: có người cho rằng đó là nơi sinh, sống từ bé của ông bà nội, có người lại cho rằng đó là nơi sinh, sống từ bé của bố mẹ...
Ngay cả trẻ em hoặc những người lần đầu phải khai hồ sơ cũng đều phân vân khi ghi quê quán bởi có bố mẹ sinh ra lớn lên ở Hà Nội và bản thân sinh ra ở Hà Nội nhưng vẫn ghi quê quán theo bố mẹ trước đây đã từng ghi (tức là căn cứ theo ông bà, cụ kỵ...). Sau này, các đời kế tiếp mặc dù tiếp tục sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng vẫn mặc định ghi bắt buộc như đời trước đã từng ghi.
Vậy nên có chuyện vui là có nhiều người căn cứ vào quê quán ghi trong hồ sơ và đến nhận đồng hương (hoặc xin tham gia vào các hội đồng hương), thậm chí bảo là cùng xã, cùng huyện nhưng thực tế mấy đời nay đã sống ở Hà Nội, đâu có biết quê quán có xã, có huyện đó ở đâu đâu?
Tiếp đến, đó là mục đích quản lý thông tin phần quê quán để làm gì? Để thống kê về việc di dân, chuyển địa bàn sinh sống hay để xác định gốc gác nhân thân của người dân? Còn nếu đây chỉ là việc từ xưa để lại và đến nay không thấy có giá trị gì thì đề xuất xem xét bỏ".
Tin Gốc: Vnexpress

Theo tôi, đề xuất xe máy dưới 5 năm không phải kiểm định khí thải trực tiếp đang đi theo hướng quản lý theo "tuổi xe". Cách làm này có ưu điểm là đơn giản, nhưng lại bỏ qua một yếu tố quan trọng hơn, mức độ sử dụng thực tế.
Nếu mục tiêu là giảm ô nhiễm và đảm bảo an toàn giao thông, thì câu hỏi đúng không phải là "xe bao nhiêu năm", mà là "xe đã chạy bao nhiêu kilomet".
Giả sử một nhân viên văn phòng trung bình mỗi ngày đi khoảng 20 km, tương đương 4.000 - 5.000 km mỗi năm. Sau 5 năm, tổng quãng đường chỉ khoảng 25.000 - 30.000 km, xe vẫn còn rất tốt. Ngược lại, một người chạy dịch vụ có thể đi 25.000 - 35.000 km mỗi năm, chỉ sau 3 năm đã đạt ngưỡng 100.000 km.
Đây là giai đoạn mà động cơ bắt đầu hao mòn sâu, phát thải tăng và rủi ro an toàn cao hơn. Như vậy, nếu quản lý theo năm sử dụng, sẽ xảy ra nghịch lý: Xe chạy ít nhưng "già tuổi" lại bị kiểm định sớm, trong khi xe chạy nhiều nhưng "trẻ tuổi" lại chưa bị kiểm soát.
Tôi nghĩ có một cách tiếp cận hợp lý hơn là quản lý theo số kilomet, với mốc giới hạn cao nhất là 100.000 km. Có thể chia làm ba nhóm:
Xe dưới 50.000 km gần như chưa cần kiểm định. Xe từ 50.000 đến 100.000 km là giai đoạn cần kiểm định định kỳ sau mỗi 10.000 km để kiểm soát phát thải và an toàn. Còn xe đã vượt 100.000 km thì không cho tiếp tục lưu thông trong khu vực nội đô.
Điểm quan trọng là với nhóm trên 100.000 km, nên áp dụng biện pháp hành chính: Hạn chế hoặc cấm lưu thông ở khu vực trung tâm, nhưng vẫn cho phép sử dụng ở ngoại thành, nông thôn, miền núi. Cách làm này giúp giảm nhanh lượng xe phát thải cao tại nơi đông dân mà không gây lãng phí tài sản xã hội.
Chính sách này sẽ tạo ra một cơ chế rất đáng chú ý: Thị trường tự điều chỉnh. Khi xe vượt 100.000 km không còn được chạy trong đô thị, người sử dụng sẽ buộc phải bán nếu muốn đổi xe mới. Do nhu cầu trong nội đô không còn, giá xe sẽ giảm rất mạnh.
Những chiếc xe này sẽ trở thành lựa chọn giá rẻ cho người thu nhập thấp ở ngoại thành hoặc nông thôn. Nói cách khác, thay vì cấm đoán hay thu hồi, chính sách sẽ khiến xe cũ tự động "chảy" ra khỏi đô thị. Người có điều kiện sẽ đổi xe sớm hơn. Người thu nhập thấp vẫn có phương tiện phù hợp với nhu cầu của họ. Tài sản được sử dụng hết vòng đời, nhưng đúng nơi, đúng mục đích.
Đồng thời, chính sách này cũng buộc người dân thay đổi hành vi. Thay vì cố gắng sử dụng xe đến khi "nát" mới bỏ, họ sẽ chủ động bán khi xe còn giá trị. Điều này không chỉ tốt cho môi trường mà còn giúp giảm rủi ro tai nạn do phương tiện xuống cấp.
Một lợi ích khác là thị trường xe máy trở nên ổn định hơn. Nhu cầu xe mới sẽ tăng, nhưng không phải do ép buộc hành chính mà do quy luật kinh tế. Thị trường xe cũ cũng minh bạch hơn, khi giá trị xe gắn liền với số kilomet đã sử dụng.
Tất nhiên, để triển khai cần có hệ thống ghi nhận số kilomet đáng tin cậy, có thể thông qua nền tảng như VNeTraffic kết hợp với dữ liệu từ kiểm định, sang tên, bảo dưỡng. Nhưng đây là vấn đề kỹ thuật có thể giải quyết theo lộ trình, không phải rào cản về tư duy.
Điều quan trọng là xác định đúng hướng tiếp cận. Tóm lại, theo tôi, quản lý theo tuổi xe là cách làm dễ, nhưng không chính xác. Quản lý theo số kilomet phản ánh đúng bản chất sử dụng, và quan trọng hơn, tạo ra cơ chế để thị trường tự loại bỏ xe cũ nát mà không cần can thiệp hành chính nặng nề.
Khi một chiếc xe đã chạy hơn 100.000 km không còn chỗ đứng trong đô thị, nó sẽ tự động rời khỏi đó. Không cần kiểm định phức tạp, không cần cưỡng chế, chính người sử dụng sẽ đưa ra quyết định.
Xe máy dưới 5 năm, chủ xe không cần đưa đến cơ sở đăng kiểm
Trong dự thảo thông tư, Bộ Xây dựng đề xuất xe máy dưới 5 năm (60 tháng) từ khi sản xuất, chủ xe đi kiểm định lần đầu không cần đưa phương tiện đến cơ sở đăng kiểm. Căn cứ kết quả chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu xe, cơ sở đăng kiểm cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải. Thời gian giải quyết thủ tục chỉ khoảng 3 giờ.
Dự thảo cũng nhấn mạnh việc sử dụng dữ liệu điện tử và liên thông giữa các cơ quan. Mỗi phương tiện sẽ chỉ có một hồ sơ quản lý duy nhất từ lần đầu kiểm định. Các loại giấy tờ như đăng ký xe, căn cước công dân có thể sử dụng bản điện tử hoặc tích hợp trên tài khoản định danh. Trường hợp phương tiện chưa hoàn tất xử phạt vi phạm hành chính, hệ thống có thể từ chối kiểm định.
Tin Gốc: Vnexpress

