Cụ thể, đối với đá xây dựng nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3.
Trong khi cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3.
Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3, thiếu đến 25,96 triệu m3.
Đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trước tình trạng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM đưa ra hàng loạt giải pháp.
Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất được hơn 7 triệu m3, vượt nhu cầu.
Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ nạo vét 22 hồ của thành phố.
Đối với 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu, Sở đưa ra bốn giải pháp: 2,3 triệu m3 nạo vét tuyến sông Sài Gòn – Đồng Nai, 0,56 triệu m3 từ Sông Thị Tính, 5,1 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại Hồ Sông Ray, 18 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại 22 hồ.
Giải pháp khác được đưa thay thế là xay đá, rửa cát biển.
Đối với 11 triệu m3 đất san lấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai giải pháp là cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 cho 16 khu đất, thu hồi khoáng sản từ các công trình hầm như metro, công trình hầm…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu.
Qua kiểm tra thực tế, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Toàn Thắng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM có cơ chế đối với việc đề xuất nâng công suất khai thác mỏ.
Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thành phố có cơ chế về giá và thanh toán nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư được thanh toán khối lượng vật liệu mua trước.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh tình trạng nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Theo phản ánh của một số chủ mỏ, thực tế vẫn còn phát sinh trường hợp nhà thầu thi công đề nghị nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư tăng cường chấn chỉnh, quản lý các nhà thầu thi công, bảo đảm việc mua bán vật liệu xây dựng đúng giá thực tế, đúng quy định pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra việc nâng khống giá vật liệu hoặc các hành vi tiêu cực liên quan.
Tương tự, chấn chỉnh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được. Cụ thể, một số công trình sau khi nhà thầu trúng thầu với đơn giá vật liệu thấp không ưu tiên sử dụng vật liệu từ các mỏ xa do phát sinh chi phí vận chuyển. Đồng thời từ chối mua ở các mỏ xa với lý do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù các mỏ này vẫn đáp ứng yêu cầu và đang cung cấp cho nhiều dự án vốn ngân sách khác. Việc này dẫn đến tập trung nhu cầu vào một số mỏ gần gây mất cân đối cung – cầu cục bộ.
Do vậy đề nghị nhà thầu chịu trách nhiệm đối với đơn giá đã chào thầu, tính toán đầy đủ chi phí vật liệu; tránh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được, gây áp lực lên nguồn cung vật liệu xây dựng trên thị trường.
Có cơ chế tháo gỡ đối với phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm. Cho phép chủ mỏ được bán thương mại phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm.
Có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỉ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của thành phố, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Nguồn vật liệu tăng thêm từ việc “mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách” được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của thành phố. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Đối với các dự án đầu tư tư nhân thuộc công trình trọng điểm của thành phố, cho chủ trương được áp dụng cơ chế đặc thù về vật liệu xây dựng để cấp trực tiếp các mỏ vật liệu cho chủ đầu tư, nhà thầu thi công, được nâng công suất để phục vụ cho các dự án…
Ngày 7.4, Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An chủ trì cuộc họp với các Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty điện lực, lãnh đạo Ban Quản lý dự án Điện 1 bàn giải pháp triển khai BESS trên lưới điện.
Theo ông Đặng Huy Cường, Thành viên HĐTV EVN, đến năm 2025, tổng công suất BESS được đầu tư trên toàn cầu khoảng 300.000 MW, cho thấy BESS đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tại Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống và có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm...
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương tại Thông báo kết luận số 198/TB-BCT ngày 8.8.2025, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN giao các Tổng công ty, đơn vị chủ động đầu tư lắp đặt BESS trên lưới điện.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), cho biết qua rà soát, khảo sát, các trạm biến áp 110 kV có khả năng triển khai BESS với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
EVNNPC đã trao đổi, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong giai đoạn 1 đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6 và tiếp tục triển khai những năm tới.
EVN giao Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. EVNHANOI đang thí điểm triển khai BESS với công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp.
Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), cho biết đơn vị đang làm việc với các doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Trên lưới truyền tải điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp. Ban Quản lý dự án Điện 1 (EVNPMB1) được EVN giao nghiên cứu đầu tư BESS với tổng quy mô từ 300 - 500 MW, đến nay đã khảo sát và bước đầu xác định 4 vị trí tiềm năng tại miền Bắc.
Trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW. Theo EVN, triển khai các dự án BESS vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, cần sớm được tháo gỡ từ quy hoạch, loại hình đầu tư, đến lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn áp dụng… Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ trong lắp đặt, vận hành BESS đặt ra yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh, phát triển BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Có ưu điểm nổi bật với thời gian triển khai lắp đặt nhanh, dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao nhưng khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN yêu cầu các đơn vị cần nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò và chức năng, không chỉ giới hạn ở 2 mục tiêu là phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải hệ thống điện; và cần xây dựng lộ trình phát triển BESS bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
EVN sẽ cùng Viện Năng lượng và NSMO kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện triển khai BESS trên diện rộng.
Theo đó, đối tượng rà soát, chuẩn hóa dữ liệu mã số thuế cá nhân gồm: các mã số thuế của cá nhân có quốc tịch Việt Nam và cá nhân có phát sinh thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, là người phụ thuộc theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Cá nhân có phát sinh nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; lệ phí trước bạ nhà đất, ô tô, xe máy...
Cá nhân đại diện hộ kinh doanh sử dụng mã số thuế 10 số được cấp trước thời điểm 1.7.2025 để kê khai các nghĩa vụ thuế của cá nhân đại diện hộ kinh doanh.
Về nội dung rà soát, người nộp thuế cập nhật đầy đủ, chính xác 3 thông tin vào dữ liệu của các mã số thuế thuộc phạm vi rà soát để đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, gồm: họ và tên; số căn cước công dân hoặc số định danh đối với cá nhân chưa có căn cước công dân; ngày, tháng, năm sinh của cá nhân.
Thuế TP.Hà Nội hướng dẫn người nộp thuế đổi thông tin đăng ký thuế theo phương thức điện tử như sau: cách 1, đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia và làm theo hướng dẫn.
Cách 2, người nộp thuế là cá nhân chủ động rà soát, cập nhật thông tin cá nhân tại chức năng "Đăng ký thuế" => "Thay đổi thông tin đăng ký thuế" trên ứng dụng Etax Mobile.
Để được hoàn thuế thu nhập cá nhân tự động, Thuế TP.Hà Nội nêu rõ, thứ nhất, thông tin kê khai của người nộp thuế phải khớp đúng với thông tin tổng hợp quyết toán thuế của các cơ quan chi trả đã kê khai với cơ quan thuế.
Cụ thể, tổng thu nhập chịu thuế trên tờ khai khớp đúng với số liệu tổng hợp trong kỳ quyết toán; chỉ tiêu "Tổng số thuế đề nghị hoàn trả" nhỏ hơn hoặc bằng số liệu tổng hợp trong kỳ quyết toán thuế theo cơ sở dữ liệu quản lý thuế của ngành thuế tại thời điểm giải quyết hồ sơ; người nộp thuế không thay đổi chỉ tiêu trên tờ khai gợi ý; số căn cước công dân tồn tại duy nhất 1 mã số thuế.
Thứ hai, cơ quan chi trả đã nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho người nộp thuế. Tất cả cơ quan chi trả của người nộp thuế không còn nợ trong kỳ đề nghị hoàn.
Cạnh đó, người nộp thuế đã liên kết tài khoản ngân hàng trên eTax Mobile. Số tài khoản ngân hàng khớp với số tài khoản đã được hệ thống ngân hàng gửi dữ liệu về cơ quan thuế. Cá nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của các kỳ trước.
Thứ ba, tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân không kèm theo hồ sơ giảm thuế do thiên tai, hỏa hoạn, bệnh hiểm nghèo.
Nếu xác định hồ sơ hoàn thuế không thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn thuế tự động, hồ sơ sẽ chuyển về cho cán bộ thuế xử lý.
Trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ông Vũ Khánh Toàn - một hộ kinh doanh gửi câu hỏi nêu: hộ kinh doanh đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu từ tháng 7.2025. Trong năm 2025, doanh thu của hộ kinh doanh vượt 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sang năm 2026, hộ ước tính doanh thu sẽ dưới 3 tỉ đồng. Vậy hộ kinh doanh có thể tiếp tục được áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay bắt buộc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập tính thuế (doanh thu trừ chi phí) nhân (x) thuế suất?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho biết căn cứ vào một số quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó gồm Điều 2 về thuế giá trị gia tăng; Điều 4 về thuế thu nhập cá nhân; Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 3 tỉ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất...
Căn cứ quy định nêu trên và trình bày của hộ kinh doanh, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho rằng, trường hợp hộ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai trong năm 2025 có mức doanh thu trên 500 triệu đồng thì thực hiện kê khai, nộp thuế của năm 2026 theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Nếu hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm 2026 từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng thì được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Hộ kinh doanh khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng; Trường hợp hết năm 2026 hộ kinh doanh xác định doanh thu thực tế năm 2026 trên 3 tỈ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất quy định tại điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.