Trong bài Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng, người đứng đầu Chính phủ nêu rõ tăng trưởng hai con số là yêu cầu khách quan từ đòi hỏi phát triển đất nước và khát vọng vươn lên của dân tộc, đồng thời là mục tiêu chiến lược phải thực hiện cho bằng được. Tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, Thủ tướng cho biết trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, đất nước đã vượt qua “giông bão”, kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, duy trì tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Nền kinh tế giữ vững ổn định vĩ mô, nợ công, bội chi trong giới hạn cho phép; các đột phá chiến lược được triển khai, mở ra không gian phát triển mới theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh”.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ; nhiều tồn đọng kéo dài được xử lý, góp phần giải phóng nguồn lực. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến; an sinh xã hội được bảo đảm với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 1,3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín đất nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng cho giai đoạn tới. Bài học đầu tiên là phải kiên định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đồng thời triển khai chủ trương, chính sách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả, nhất là với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ.
Cùng với đó là yêu cầu không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đoàn kết quốc tế, đi cùng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Người dân được xác định là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đồng thời là nguồn lực và động lực quan trọng nhất của phát triển, từ đó tạo dựng và củng cố niềm tin xã hội.
Một bài học xuyên suốt khác là phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, mang tính quyết định; ngoại lực là quan trọng, cần thiết và có thể tạo đột phá. Tư duy phát triển phải nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn, coi trọng thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán đúng thời điểm.
Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; phân công nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Bước vào nhiệm kỳ 2026-2030, bối cảnh thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược gia tăng; chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu biến động mạnh; các yếu tố an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục tác động sâu rộng. Trong nước, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở cao, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cần tiếp tục được củng cố.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy bị động sang chủ động thích ứng, “biến nguy thành cơ”, “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, kiểm soát rủi ro hiệu quả thành lợi thế cạnh tranh. Các bộ, ngành, địa phương phải khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội 14 thành chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với mục tiêu, lộ trình, giải pháp rõ ràng, có thể “cân đong, đo đếm, lượng hóa được”, gắn trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích.
Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa 14, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát 5 nội dung công việc quan trọng của nhiệm kỳ, gồm: công tác chính trị, tư tưởng với “4 kiên định”; mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số; phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó, tăng trưởng hai con số được xác định là yêu cầu khách quan, gắn với khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu này, Thủ tướng nhấn mạnh phải khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng hiệu quả ngoại lực; vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, vừa thúc đẩy mạnh mẽ các động lực mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh giữ vai trò nền tảng.
Giải pháp được đặt ra theo hướng đồng bộ, có trọng tâm. Về điều hành vĩ mô, các cơ quan tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, vừa giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Về đầu tư, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân, khai thác hiệu quả dư địa nợ công để huy động thêm nguồn lực phát triển.
Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ thị trường nội địa trở thành bệ đỡ của nền kinh tế; đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh. Nguyên tắc “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” được quán triệt trong hợp tác công tư.
Ba đột phá chiến lược tiếp tục được xác định là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng đồng bộ. Trong đó, thể chế là “đột phá của đột phá”, phải đi trước, mở đường, xóa bỏ cơ chế “xin cho”, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi. Nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là giao thông, năng lượng, hạ tầng số.
Cùng với đó, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển các ngành công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng tái tạo; hình thành các động lực tăng trưởng mới. Các mô hình kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu tiếp tục được khuyến khích phát triển.
Song song với phát triển kinh tế, yêu cầu bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân, phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường được đặt ngang tầm. Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, chăm lo người yếu thế tiếp tục được thực hiện hiệu quả; không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm hành động “1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa”. Trong đó, “1 mục tiêu” là chăm lo để người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, năm sau tốt hơn năm trước. “2 bảo đảm” là bảo đảm phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. “3 có” là có sự tham gia, đóng góp của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. “4 không” là không lãng phí một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm. “5 hóa” gồm xanh hóa, số hóa, tối ưu hóa tiềm năng, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích.
Cùng với đó, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch, chuyển từ quản lý sang quản trị phát triển; cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh theo hướng chủ động, tích cực, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong nâng cao vị thế đất nước, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.
Theo Thủ tướng, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề nhưng cũng rất vinh quang. Với nền tảng tích lũy qua nhiều năm đổi mới, cùng sự đoàn kết, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam có đủ điều kiện để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
>>> Nội dung bài viết của Thủ tướng Phạm Minh Chính
Ngày 10-4, Quân đoàn 34 cho hay Đội quy tập hài cốt liệt sĩ của đơn vị vừa phát hiện và quy tập 12 hài cốt liệt sĩ tại làng Doch 1, xã Ia Ly, tỉnh Gia Lai.
Trước đó, từ thông tin anh A Hải, người dân trú tại làng Doch 1, cung cấp trong thời gian đi bắt dơi tại khu vực núi Chư Pa, anh tình cờ phát hiện một hang đá có chứa nhiều vật dụng sinh hoạt nghi liên quan đến bộ đội.
Nhận được tin báo, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Quân đoàn 34 nhanh chóng triển khai lực lượng đến nơi nguồn tin báo. Qua tìm kiếm nhiều ngày liên tục, đơn vị này đã phát hiện 12 hài cốt liệt sĩ.
Tại hiện trường, các hài cốt liệt sĩ hầu hết đã bị phân hủy do thời gian dài, chỉ còn lại những mảnh xương nhỏ và răng. Việc nhận dạng liệt sĩ dựa vào các di vật đi kèm như tăng võng, vải dù, bút sắt, băng đạn AK, cúc áo, đế dép cao su, dây thông tin, bàn chải đánh răng, lọ thuốc, quân hiệu, bát sắt...
Tra cứu tài liệu ghi chép, đây là khu vực hoạt động của các đơn vị thuộc Trung đoàn 609, Trung đoàn 66, Trung đoàn 24, Trung đoàn 320 và các đơn vị Phòng Tham mưu, Phòng Hậu cần thuộc mặt trận Tây Nguyên (B3) trong giai đoạn 1966 - 1969.
Trước đó, trong giai đoạn 2020 - 2025, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Quân đoàn 34 đã tìm thấy 46 bộ hài cốt liệt sĩ tại khu vực núi Chư Pa.
Sau khi phát hiện, quy tập, hài cốt 12 liệt sĩ đang được đưa về bảo quản tại hội trường UBND xã Iakreng (cũ) để hương khói.
Bộ Tư pháp đang đề xuất thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ (gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp - Môi trường) và UBND 10 tỉnh, thành phố (Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ).
Việc thí điểm luật sư công là cần thiết nhằm tăng khả năng kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định hành chính trước khi ban hành, đẩy mạnh việc tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, đồng thời tăng khả năng giải quyết các tranh chấp quốc tế và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng nên mở rộng phạm vi thí điểm đối với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, thay vì chỉ với 18 đơn vị như đề xuất của cơ quan soạn thảo.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ nhiệm Cơ quan truyền thông Liên đoàn Luật sư Việt Nam , Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, dẫn điều 9 Hiến pháp quy định MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
MTTQ Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân đến các cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo ông Hậu, các chức năng trên của MTTQ Việt Nam đều đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ phải thực sự am hiểu về pháp luật. Việc thí điểm luật sư công, một đội ngũ pháp lý chuyên nghiệp, sẽ giúp hoạt động của khối mặt trận chuyên nghiệp, chất lượng hơn.
Chẳng hạn hoạt động giám sát, phản biện xã hội, liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng, tác động đến chính sách pháp luật và các quyết định quản lý nhà nước. Do đó, thận trọng, chính xác, hiệu quả là những yếu tố bắt buộc cần có.
Dự thảo quy định luật sư công phải đảm bảo rất nhiều tiêu chí như: trình độ cử nhân luật trở lên, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp, đã được đào tạo luật sư công… Những phẩm chất này của luật sư công chắc chắn sẽ giúp hoạt động giám sát, phản biện trở nên hiệu quả hơn.
Một khía cạnh khác là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, nhất là người yếu thế. Ông Hậu cho rằng nên mở rộng vai trò của luật sư công trong việc tăng cường tiếp cận công lý cho các đối tượng chính sách, thay vì giới hạn ở bảo vệ quyền, lợi ích của cơ quan nhà nước. Nếu nhìn nhận ở góc độ này, việc thí điểm luật sư công với khối mặt trận là hoàn toàn phù hợp cả về chức năng và bối cảnh, khi Liên đoàn Luật sư Việt Nam cùng các tổ chức luật sư đã quy tụ về MTTQ Việt Nam.
Theo ông Lưu Anh Cường, Giám đốc Công ty luật Thái Dương FDI Hà Nội, Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhấn mạnh yêu cầu "phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật". Nội dung trên cho thấy khi bàn về nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, Đảng không chỉ đặt trọng tâm ở cơ quan quản lý nhà nước, mà còn đặt trọng tâm ở các chủ thể giám sát và phản biện việc thực thi pháp luật.
Tại dự thảo của Bộ Tư pháp, danh sách thí điểm luật sư công gồm 18 đơn vị, tập trung phần lớn vào khối hành pháp. Điều này dẫn tới hệ quả là kết quả thí điểm dù có giá trị nhưng sẽ chủ yếu cho thấy cách luật sư công vận hành trong bộ, ngành và chính quyền địa phương, chưa chắc phản ánh đầy đủ tác dụng của chế định này trong các thiết chế có chức năng quan trọng khác, nhất là giám sát, phản biện xã hội.
Thực tế cho thấy các thiết chế thuộc khối mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương có tính chất hoạt động khác đáng kể so với bộ, ngành và chính quyền địa phương. Bộ, ngành và UBND chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong khi Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội vừa là chủ thể trong hệ thống chính trị, vừa có vai trò giám sát, phản biện xã hội, tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh kiến nghị của nhân dân và trong nhiều trường hợp là đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức mình hoặc của các nhóm xã hội mà mình đại diện.
So sánh về nhu cầu pháp lý, ở cơ quan hành chính thường gắn với quản lý, điều hành, xử lý tranh chấp, tham gia tố tụng hoặc giải quyết rủi ro pháp lý trong hoạt động công vụ. Còn ở khối mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội thường gắn nhiều hơn với giám sát, phản biện và các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như đã nêu.
Như vậy, nếu chỉ thí điểm trong một loại môi trường, kết quả thu được chủ yếu phản ánh môi trường đó. Trong khi đó, để quyết định có nên luật hóa mô hình luật sư công hay không thì không nên dừng lại ở việc xem xét mô hình này có vận hành được hay không mà cần biết nó phù hợp với loại thiết chế nào, phát huy tác dụng mạnh nhất ở đâu và bộc lộ vướng mắc gì trong từng bối cảnh khác nhau.
Điều quan trọng nữa, ông Lưu Anh Cường cho rằng, dự thảo nghị quyết quy định phạm vi hoạt động của luật sư công gồm tham gia tố tụng với tư cách là luật sư hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; tư vấn pháp luật; đại diện trong giải quyết tranh chấp trong nước và quốc tế; tư vấn xử lý các vấn đề pháp lý của dự án kinh tế - xã hội; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài…
Đối chiếu nội dung trên với thực tế hoạt động của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của một số tổ chức chính trị - xã hội, có thể thấy nhiều điểm giao nhau khá rõ. Đơn cử giám sát và phản biện xã hội, hoạt động này đòi hỏi không chỉ trách nhiệm chính trị mà còn cần cả khả năng đọc hồ sơ, hiểu quy trình pháp luật, nhận diện rủi ro hoặc dấu hiệu bất cập, từ đó chuyển ý kiến giám sát thành lập luận pháp lý có sức nặng hơn. Luật sư công rõ ràng đáp ứng tốt yêu cầu.
Đặc biệt, dự thảo quy định luật sư công được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cho sao chép hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc mà họ đang giải quyết. Nếu thí điểm luật sư công với khối mặt trận, việc đọc, xác định tài liệu then chốt, nhận diện mâu thuẫn pháp lý, đối chiếu hồ sơ, làm rõ điểm cần kiến nghị hoặc phản biện có thể được thực hiện bài bản hơn, từ đó nâng cao chiều sâu pháp lý cho những quyền năng giám sát, phản biện vốn đã được Hiến pháp và luật trao.
Ngoài ra, không ít vụ việc kéo dài thường đi qua kênh mặt trận hoặc tổ chức chính trị - xã hội trước, hoặc ít nhất các tổ chức này cũng tham gia kiến nghị, giám sát và đối thoại. Nếu có lực lượng luật sư công, chất lượng tham gia sẽ được nâng lên theo hướng có căn cứ pháp lý rõ hơn, kiến nghị chính xác hơn, đồng thời nhận diện đúng trọng tâm tranh chấp sớm hơn.
Hay như việc khối mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội cũng có tài sản công, trụ sở, hợp đồng, quan hệ lao động và có thể phát sinh tranh chấp hoặc vấn đề pháp lý. Một lực lượng pháp lý chuyên trách có thể tạo ra khác biệt về chiều sâu chuyên môn, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của chính tổ chức mình.
Nhờ đất đai màu mỡ, địa thế bằng phẳng và nằm bên sông lớn, Đồng Nai trở thành lựa chọn ưu tiên của những nhóm người Việt đầu tiên vào phương Nam khai hoang, lập nghiệp. Các khu vực Biên Hòa, Long Thành, Bà Rịa... thuộc lưu vực sông Đồng Nai là những nơi sớm đón bước chân những người mở cõi.
Theo Gia Định Thành Thống Chí, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu "vào kinh lược đất Đồng Nai", lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long dựng dinh Trấn Biên, Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, xác lập chủ quyền và bộ máy quản lý nhà nước, đặt nền móng cho sự hình thành vùng Biên Hòa - Đồng Nai ngày nay.
Những năm đầu khai mở, nhờ vị trí thuận lợi bên sông Đồng Nai thông ra biển Cần Giờ, vùng đất Biên Hòa sớm phát triển sầm uất thành đô thị nhộn nhịp. Trên cù lao Phố (nay thuộc phường Trấn Biên), Nông Nại đại phố từng được xem là một trong những thương cảng lớn nhất Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII.
Theo ông Trần Quang Toại, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Nai, truyền thống thương mại cùng giao lưu kinh tế, văn hóa hình thành rất sớm đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đô thị hóa của địa phương ở các giai đoạn sau.
Đến năm 1808, dưới triều vua Gia Long, dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, trở thành một trong năm trấn thuộc Gia Định thành, với địa giới rộng lớn bao trùm phần lớn vùng đất thuộc Đồng Nai và TP HCM ngày nay. Trải qua nhiều biến động lịch sử và điều chỉnh địa giới, nơi đây vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc định hình không gian kinh tế - xã hội Nam Bộ.
Từ những tiền đề đó, các tuyến giao thông huyết mạch như đường thủy, quốc lộ, đường sắt dần được xây dựng qua Đồng Nai, kết nối Sài Gòn với duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
"Cù lao Phố vẫn còn nhiều dấu tích văn hóa, cho thấy Đồng Nai là cái nôi phát triển kinh tế - xã hội của Nam Bộ hơn 325 năm", ông Trần Quang Toại nói.
Theo ông, sau khi chiếm Nam Bộ, người Pháp bắt đầu khai thác tài nguyên với hàng loạt nông trường cao su, tập trung chủ yếu ở Đồng Nai. Từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp manh mún, người dân dần làm quen với máy móc qua các nhà máy chế biến mủ cao su, gỗ, từ đó hình thành lực lượng công nhân đông đảo, thu hút lao động từ nhiều nơi.
Ông Toại cho rằng vị trí giáp Sài Gòn, giao thông thuận lợi và nguồn lao động dồi dào là những yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhiều nhà máy trong thế kỷ XX, tiêu biểu khu kỹ nghệ Biên Hòa, được xem là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam.
Từ khi xây dựng năm 1962 đến 1975, khu kỹ nghệ Biên Hòa có 94 nhà máy, xí nghiệp, với phần lớn máy móc nhập từ Nhật, Đức, Pháp, Đài Loan... Đến năm 1990, Đồng Nai thành lập Công ty Phát triển khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi Biên Hòa) để đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thu hút vốn nước ngoài.
Từ khu công nghiệp Biên Hòa, địa phương tiếp tục mở rộng hàng loạt khu công nghiệp lớn như Biên Hòa 2, Amata, Long Bình, Long Thành, Nhơn Trạch, Chơn Thành...
Với quy mô kinh tế lớn và cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại, Đồng Nai từng bước khẳng định vị thế là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam và cả nước.
Hiện tỉnh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về phát triển khu công nghiệp với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, tập trung tại Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Chơn Thành... Các khu này thu hút doanh nghiệp từ 45 quốc gia, với 2.269 dự án và tổng vốn đăng ký 44,38 tỷ USD.
Giai đoạn 2021-2025, kinh tế - xã hội Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện, tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Nam.
Ông Nguyễn Văn Út, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết địa phương đang đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm công nghiệp, logistics và đô thị hiện đại hàng đầu cả nước.
Theo ông, Đồng Nai có nền tảng công nghiệp vững chắc, vị trí chiến lược tại Đông Nam Bộ và hệ thống hạ tầng đang được đầu tư đồng bộ, nhất là các dự án động lực quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh không thể đi theo lối mòn cũ mà phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, cách làm và phương thức quản trị.
Lãnh đạo tỉnh cho biết Đồng Nai sẽ tập trung xây dựng mô hình phát triển mới, chuyển từ "tỉnh công nghiệp" sang "thành phố công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại", phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Phước Tuấn
Bài 3: Sân bay Long Thành sẽ 'nâng hạng' Đồng Nai ra sao