Như bước tập dượt, kiểm tra kỹ năng nghề của các bạn trẻ yêu và chọn học nghề, hội thi Học sinh, sinh viên giỏi nghề do Thành Đoàn cùng Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM phối hợp tổ chức nhiều năm qua đã góp phần đánh giá tay nghề, thẩm định năng lực để các bạn trẻ tự tin bước vào thị trường lao động.
Nói cách khác, phần thực hành chính là bước kiểm tra kỹ năng lần cuối, đánh giá mức độ thành thạo của tay nghề trước khi các bạn chính thức rời trường đi làm.
Buổi thi thực hành nghề lắp cáp mạng thông tin kiểm tra ba module gồm đồng, quang và bấm dây tốc độ. Tín hiệu báo giờ thi, thí sinh đeo găng tay, mang kính bảo hộ cẩn thận xử lý từng sợi cáp được cắt tỉ mỉ, luồn vào hệ thống.
Trần Hồng Phát, Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật TP.HCM, khoe mê máy tính, điện tử từ nhỏ và hứng thú với ngành công nghệ thông tin song nhận ra ngành này có tư duy và mức độ cạnh tranh cao.
Vậy là Phát chuyển hướng sang điện tử viễn thông với suy nghĩ “có thể làm thực tế với hệ thống mạng, thiết bị điện tử và liên quan công nghệ thông tin”. Từng thi tay nghề trước đó cộng với ôn luyện kỹ nên Phát lần này còn nhận nhiệm vụ hỗ trợ các bạn mới trong đội.
“Tụi mình ôn cả tuần, chia đều thời gian cho các module như yêu cầu của đề thi sao cho đảm bảo kỹ năng đồng đều, luyện tập thuần thục và đúng thời gian yêu cầu làm bài”, Phát kể.
Hoàn thành bài thi, Phát nói khó nhằn nhất là module cáp quang vì đòi hỏi độ chính xác và khéo léo rất cao. Sợi quang rất dễ gãy mà chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể làm tín hiệu không truyền được. Đó cũng là phần thi phải tập trung cao độ và thao tác cẩn thận nhất.
Còn Tiết Quốc Triệu, Trường trung cấp nghề Quang Trung, cho biết đã tiếp xúc với máy tính và làm quen Internet từ sớm. Bạn bè giới thiệu, Triệu tìm hiểu kỹ và thấy thú vị nên chọn ngành quản trị mạng.
“Trường tổ chức ôn thi hai tuần, mỗi tuần hai buổi và ôn từ sáng đến chiều. Nội dung khá nhiều và các thầy cô cùng anh chị khóa trên hỗ trợ, cả chia sẻ kinh nghiệm làm bài thi thực tế”, Triệu kể.
Với Triệu, phải hoàn thành việc bấm tám cặp dây cáp trong thời gian 1 tiếng khá căng não, khó nhất là bấm đầu mạng (đầu RG45). Lý do việc sắp xếp dây tốn nhiều thời gian mà nếu không chuẩn khi đưa vào đầu bấm sẽ bị rối nên phải luôn dặn mình giữ bình tĩnh, hít thở và tập trung nhất, giữ cho mình tâm thế cố gắng hết sức khi làm bài.
Phần thi thực hành nghề phục vụ nhà hàng và chế biến món ăn diễn ra trong không khí vui tươi tại Trường trung cấp Du lịch và khách sạn Saigontourist. Mỗi thí sinh phải hoàn thành bài thi bày bàn ăn, đón khách, phục vụ nước, bánh mì và bơ, cả chế biến cocktail sáng tạo. Còn ở phần thi kỹ thuật chế biến món ăn, thí sinh nấu món ăn Âu hoặc Việt đòi hỏi sự khéo léo.
Bạn Hồ Anh Kiệt, Trường trung cấp Kinh tế – du lịch TP.HCM, thi nghề kỹ thuật chế biến món ăn cho biết lý do học ngành bếp vì thích ăn ngon và cảm giác vào bếp tự tay cắt tỉa, chế biến theo ý mình.
“Bếp là nghề khá quan trọng vì ai cũng cần ăn uống. Tôi nghĩ mình học bếp sẽ góp phần mang đến dịch vụ và những giá trị thiết thực cho người khác mà bản thân cũng thấy phù hợp và thú vị”, Kiệt nói.
Để dự thi, Kiệt đã nấu một vài món nhiều lần, nếm đi thử lại để điều chỉnh hương vị cho đến lúc hoàn thiện. Mỗi tuần có hai buổi thực hành từ chuẩn bị nguyên liệu, sơ chế, nấu thử đến thưởng thức và đánh giá món ăn. Kiệt bảo căng não nhất là làm xốt trong khi chuẩn bị, sơ chế nguyên liệu lại tốn nhiều thời gian hơn cả.
Trong khi đó động tác của Nguyễn Công Thành, Trường CĐ Kinh tế Đối ngoại TP.HCM, rất chuyên nghiệp khi bưng đĩa, rót rượu vang. Bạn là một trong năm thí sinh xuất sắc nhất vào chung kết nghề phục vụ nhà hàng.
Cơ duyên đưa Thành đến ngành học này từ một lần cả nhà cùng đi ăn tại nhà hàng. Thành kể mình choáng ngợp trước không gian, phong cách phục vụ chuyên nghiệp của nhân viên và mê nghề này lúc nào không hay.
Thành cho biết mỗi tuần có ba buổi luyện tập, 3-4 tiếng/buổi. Vì thực ra trong quá trình học đã được rèn luyện kỹ thuật bưng bốn đĩa, cách kéo ghế, trải bàn, phục vụ khách, gấp khăn ra sao. Song phải thừa nhận kỹ thuật rót rượu vang là khó nhất nhưng cũng ấn tượng nhất.
“Để có thể làm tốt kỹ thuật này mình phải luyện tập rất nhiều lần, thầy cô cũng hướng dẫn chi tiết và mình ghi nhớ, làm theo vì đúng chuẩn khi dòng rượu chảy đều, nhỏ và không bị tràn hay đứt quãng”, Thành cười.
Naveena Vanamala, 26 tuổi, ở Mumbai ngồi để chuyên viên trang điểm vẽ những chấm trắng nhỏ phía trên lông mày. Cô đang chuẩn bị bước vào lễ cưới mà hoa cài tóc vẫn chưa có.
Ở Ấn Độ, bố cô dâu là người lo toàn bộ hôn lễ. Nhưng bố Naveena đã qua đời 6 tháng trước nên cô phải tự xoay xở và đối mặt áp lực tài chính.
Naveena làm nhân viên marketing, thu nhập khoảng 145 USD mỗi tháng. Ngân sách dự kiến cho đám cưới ban đầu là 3.200 USD nhưng đã tăng gấp đôi. Cô phải vay ngân hàng. Chú rể đang trả nợ mua nhà cũng phải thế chấp căn hộ để vay thêm. "Chúng tôi biết vay nợ nhiều đến mức này để làm đám cưới là không đáng, nhưng không còn lựa chọn nào khác", cô nói.
Theo báo cáo của Jefferies Financial Group, ngân hàng đầu tư và dịch vụ tài chính, trụ sở New York (Mỹ), các đám cưới ở Ấn Độ thường kéo dài nhiều ngày, tốn kém và là ngành công nghiệp trị giá khoảng 130 tỷ USD.
Ở quốc gia Nam Á này, hôn nhân gắn chặt với tài chính và áp lực xã hội. Gia đình nhà gái thường gánh phần lớn chi phí. Một số nơi vẫn tồn tại phong tục cô dâu về nhà chồng phải có hồi môn. Với các hộ thu nhập thấp, một đám cưới lớn dễ đẩy gia đình vào nợ nần. Dữ liệu của Jefferies cho thấy chi tiêu cho đám cưới trung bình tại Ấn Độ gấp khoảng hai lần chi cho giáo dục.
Tại Delhi, cha của cô dâu Kaveri Mehta đứng gần lối vào, theo dõi đường đi và điện thoại khi chờ khách. Khi thấy con gái đi ngang qua và mỉm cười, ông bớt căng thẳng vì hiểu mọi chuyện đang suôn sẻ.
Đám cưới của Kaveri có hàng trăm khách mời, nhiều người bay từ nước ngoài về. Đội ngũ phục vụ lên đến 150 người. Dù muốn tổ chức gọn nhẹ, cô cho biết khó tránh áp lực xã hội và quy tắc mời khách. Người cha nói chi phí có thể lên tới hàng trăm nghìn USD.
Vikramjeet Sharma, giám đốc công ty tổ chức đám cưới sang trọng, cho biết trung bình khách hàng của ông chi từ 500.000 USD đến 3 triệu USD. Quy mô đám cưới tăng mạnh trong 20 năm qua.
Tại miền Bắc Ấn Độ, Anamika Upadhayay tham gia một lễ cưới tập thể cùng nhiều cặp đôi khác. Cô chọn hình thức này vì gia đình không đủ khả năng tổ chức đám cưới truyền thống. Chi phí giảm đáng kể, nhưng không gian riêng tư cũng bị hạn chế.
Mỗi cặp vợ chồng tham gia hôn lễ tập thể được nhận bộ đồ gia dụng trị giá khoảng 1.000 USD. Món quà của ban tổ chức này cũng được xem như của hồi môn. Với nhiều gia đình, giá trị bộ đồ gia dụng tương đương thu nhập cả năm. Chương trình do chính quyền địa phương tổ chức nhằm giảm gánh nặng nợ cưới, đặc biệt từ các khoản vay lãi cao.
Bên cạnh chi phí tổ chức đám cưới, của hồi môn là một gánh nặng khác của các gia đình cô dâu. Dù tục lệ này đã bị luật pháp cấm, thực tế vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi năm, hàng nghìn vụ việc liên quan được ghi nhận, cho thấy khoảng cách giữa luật và đời sống.
Luật sư Kunal Madan cho biết các yêu cầu tài chính trong hôn nhân thường không được nói trực tiếp, nhưng tích lũy dần theo thời gian, tạo áp lực lớn lên gia đình cô dâu. Áp lực này không đến từ một khoản cụ thể mà lan qua nhiều chi tiết trong quá trình chuẩn bị và cả sau cưới.
Trở lại Mumbai, mẹ của Naveena Vanamala đi lại trong lễ cưới, chào hỏi người thân. Hơn 500 khách mời đã đến dự. Các nhiếp ảnh gia vây quanh cô dâu, trong khi đồ ăn liên tục được phục vụ. Trong ngày cưới, cô "cảm giác như mình đã trở thành người nổi tiếng". Nhưng phía sau sự hào nhoáng này là những khoản vay chồng chất và kế hoạch trả nợ kéo dài nhiều năm.
"Đám cưới đúng là mọi thứ tôi từng mơ ước", cô nói. "Nhưng tôi sẽ còn căng thẳng cho đến khi trả hết nợ".
Người khuyết tật ở Việt Nam vẫn thường bị nhìn nhận theo những khuôn mẫu quen thuộc như đối tượng đáng thương, gánh nặng của gia đình, và cả được xem là hình mẫu "vượt khó"… Tuy nhiên, một xã hội văn minh không thể chỉ dừng ở lòng thương hại hay động viên mang tính cảm xúc, mà cần chuyển sang cách tiếp cận dựa trên sự tôn trọng, bình đẳng của quyền con người.
Một trong những nhận thức chưa đúng phổ biến nhất là xem khuyết tật như một bi kịch. Nhiều bối cảnh vẫn gắn người khiếm khuyết với số phận, nghiệp chướng hoặc điều gì đó cần che giấu. Cách nhìn này không chỉ tạo ra áp lực tâm lý mà còn khiến gia đình họ dễ rơi vào mặc cảm, né tránh giao tiếp.
Từ sự thương hại đó, người khuyết tật thường bị đồng nhất với "đối tượng từ thiện". Xã hội có thể sẵn sàng quyên góp, tặng quà, hỗ trợ ngắn hạn, nhưng lại chưa thật sự thay đổi môi trường sống để họ có thể tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, thông tin hay các dịch vụ công như người thường.
Từ thiện có thể cần thiết trong một số trường hợp, nhưng nếu xã hội chỉ dừng ở cho đi bằng lòng thương mà không thay đổi cấu trúc xã hội, chính sách và môi trường tiếp cận, thì chưa phải là hòa nhập thực chất.
Khi còn bị hạn chế cùng lúc ở nơi công cộng, trong trường học hay việc làm, họ có nguy cơ nghèo đói cao hơn, chi phí sống lớn hơn và cơ hội phát triển thấp hơn. Như vậy, kỳ thị xã hội không chỉ gây tổn thương tinh thần mà còn tái sản xuất bất bình đẳng trong đời sống của người khuyết tật.
Một xã hội tiến bộ không nên chỉ hỏi "đã giúp được gì", mà phải hỏi "đã tạo ra điều kiện công bằng đến đâu".
Định kiến xã hội cho rằng người khuyết tật không thể học hành đầy đủ, không thể làm việc hiệu quả, không thể kết hôn, nuôi con hay sống độc lập - là kiểu định kiến nguy hiểm vì âm thầm tạo ra rào cản trong giáo dục, tuyển dụng và các mối quan hệ xã hội.
Nhiều người sử dụng lao động từ chối tuyển người khuyết tật không phải vì họ thiếu năng lực, mà vì đã mang sẵn một niềm tin sai lầm về giới hạn của họ. Trong khi đó, thực tế cho thấy khi có công nghệ hỗ trợ phù hợp, sự điều chỉnh hợp lý và một môi trường bao trùm, người khuyết tật hoàn toàn có thể lao động hiệu quả, tự chủ kinh tế và xây dựng cuộc sống có phẩm giá như mọi công dân khác.
Một nhận thức sai khác là cộng đồng thường chỉ thừa nhận khuyết tật khi nó biểu hiện rõ ra bên ngoài.
Thực tế có nhiều dạng khuyết tật không dễ nhận thấy bằng mắt thường nhưng vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến giao tiếp, học tập, trí nhớ, tự chăm sóc hoặc khả năng tham gia xã hội. Khi xã hội chỉ công nhận những dạng khuyết tật "nhìn thấy được", nhiều người sẽ bị phủ nhận nhu cầu hỗ trợ chính đáng và phải liên tục chứng minh khó khăn của mình.
Thay đổi nhận thức xã hội không thể chỉ dừng ở các khẩu hiệu chung chung.
Trước hết, cần bắt đầu từ ngôn ngữ. Những cụm từ như "người bất hạnh", "gánh nặng gia đình" hay các cách diễn đạt mang màu sắc thương hại tưởng như tích cực nhưng thực chất lại hạ thấp vị thế của người khuyết tật. Ngôn ngữ không chỉ phản ánh nhận thức mà còn góp phần tạo ra nhận thức. Vì vậy, báo chí, nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan công quyền cần sử dụng ngôn ngữ tôn trọng, chính xác và bình đẳng hơn khi nói về người khuyết tật.
Thay đổi trong thiết kế xã hội. Tăng sự hiện diện của người khuyết tật trong đời sống công cộng. Họ cần được nhìn nhận như những con người bình thường với nghề nghiệp, chuyên môn, vai trò xã hội và tiếng nói riêng, chứ không phải chỉ như nhân vật truyền cảm hứng hoặc biểu tượng vượt khó.
Khi người khuyết tật xuất hiện nhiều hơn với tư cách là giáo viên, chuyên gia, nhân viên, phụ huynh, nhà quản lý hay người sáng tạo nội dung, xã hội sẽ dần thay đổi cách nhìn: bớt tò mò, bớt thương hại và bình thường hóa sự khác biệt.
Cuối cùng, thay đổi nhận thức không phải là việc riêng của ngành lao động - xã hội hay các tổ chức thiện nguyện. Đây phải là trách nhiệm của toàn xã hội.
Trường học cần giáo dục về sự đa dạng và hòa nhập. Báo chí cần tránh lối kể chuyện chỉ xoáy vào nước mắt hoặc sự phi thường hóa người khuyết tật.
Doanh nghiệp cần giảm thiên kiến trong tuyển dụng và xây dựng môi trường làm việc bao trùm. Các cơ quan nhà nước, hệ thống y tế, giao thông và dịch vụ công cần coi khả năng tiếp cận là tiêu chuẩn bình thường chứ không phải đặc ân.
Giữa tháng 2, tài khoản TikTok @papafromjapan của một người đàn ông Nhật Bản 74 tuổi thu hút hàng trăm nghìn lượt xem, giải thích thuật ngữ "madogiwazoku".
Khái niệm này chỉ nhóm nhân viên bị điều chuyển sang các vị trí ít áp lực, bàn làm việc thường đặt gần cửa sổ. Công việc hàng ngày của họ là xử lý giấy tờ đơn giản hoặc trả lời một vài email. Họ bị tách hoàn toàn khỏi các dự án quan trọng nhưng vẫn được nhận mức lương ổn định.
Thay vì sa thải như phương Tây, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản chọn cách giữ lại nhóm lao động không còn bắt kịp công nghệ hay chiến lược mới. Những người này chủ yếu là nam giới ở độ tuổi cuối 50 đến 60, từng được tuyển dụng theo chế độ làm việc trọn đời (shushin koyo) và trả lương theo thâm niên. Doanh nghiệp đánh giá họ là những nhân viên trung thành, ít phàn nàn và không gây xung đột.
Hiện tượng này phản ánh tình trạng già hóa lực lượng lao động tại Nhật Bản. Số liệu năm 2022 cho thấy hơn 25% người từ 65 tuổi trở lên tại nước này vẫn đi làm, cao hơn mức 20% tại Mỹ và 10% tại Anh. Theo khảo sát của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, 80% người lao động muốn tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu, trong đó 70% muốn gắn bó với cơ quan cũ.
Chính phủ Nhật Bản cũng thúc đẩy xu hướng này. Các nhà chức trách cung cấp nhiều khoản trợ cấp để khuyến khích doanh nghiệp duy trì việc làm cho nhân sự đến tuổi 70. Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho biết một số công ty đã áp dụng mô hình kéo dài tuổi nghỉ hưu để bảo toàn quyền lợi cho nhân viên.
Dưới góc độ quản trị, việc không sa thải người yếu kém giúp doanh nghiệp ổn định tâm lý nhân viên, tránh tạo ra nỗi sợ mất việc. Các công ty cũng tận dụng kinh nghiệm tích lũy nhiều thập kỷ của nhóm lao động lớn tuổi để hỗ trợ đào tạo nội bộ.
Tuy nhiên, sự tồn tại của nhóm "nhân viên cửa sổ" gây ra những phản ứng trái chiều từ đồng nghiệp trẻ. Khảo sát của công ty tư vấn Shikigaku với những nhân sự từ 20 đến 39 tuổi cho thấy, gần 50% xác nhận công ty họ có "người cao tuổi không làm việc". Công việc chính của nhóm này thường là hút thuốc, ăn vặt, tán gẫu, lướt web hoặc chỉ ngồi nhìn.
90% thanh niên tham gia khảo sát cho biết nhóm "ngồi cạnh cửa sổ" tác động tiêu cực đến môi trường công sở. Họ cho rằng tình trạng này làm giảm tinh thần đồng đội, đẩy áp lực công việc sang người trẻ và gia tăng gánh nặng chi phí cho công ty.