Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về đề xuất thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ (Công an, Quốc phòng, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp, Công thương, Ngoại giao, Nông nghiệp – Môi trường) và 10 tỉnh, thành phố (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh).
Một trong những vấn đề được dư luận quan tâm là vai trò, cơ chế hoạt động cũng như mối quan hệ giữa luật sư công và luật sư tư. Đây là mô hình hoàn toàn mới, đặt ra nhiều câu hỏi về tính khả thi, cơ chế vận hành cũng như khả năng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Để làm rõ hơn những nội dung này, phóng viên Báo Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Phương Ngọc, Phó giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM.
Phóng viên: Bà có thể nói rõ sự khác biệt cơ bản giữa luật sư công và luật sư tư hiện nay là gì?
Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc: Nhìn chung, về phạm vi công việc của luật sư công cơ bản giống phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư tư.
Luật sư tư là luật sư hành nghề tại các tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định của luật Luật sư.
Luật sư công: là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, cán bộ thuộc doanh nghiệp nhà nước được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các hoạt động có tính chất pháp lý, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước.
Cơ quan quản lý trực tiếp luật sư công là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước nơi luật sư công làm việc thường xuyên và hưởng lương hằng tháng.
Tại sao không thuê luật sư tư mà lại phải có thêm luật sư công? Bởi nếu thuê luật sư tư thì có thể chọn được luật sư đáp ứng nhu cầu từng vụ việc cụ thể, vì không phải ai cũng giỏi hết tất cả các lĩnh vực?
Tôi cho rằng đây là cách để đảm bảo tính chủ động, thường xuyên, kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả trong việc. Dự thảo quy định về thuê luật sư tư và có cơ chế phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa luật sư công với luật sư tư nhằm nhằm bổ trợ cho nhau và tận dụng thế mạnh của cả hai.
Dự thảo quy định cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công được ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư tư. Đây cũng là cách để thu hút đội ngũ luật sư tư giỏi, có kinh nghiệm tham gia vào công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, cùng với luật sư công bảo vệ lợi ích công.
Theo dự thảo, luật sư công gồm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan công an, sĩ quan quân đội, cán bộ thuộc doanh nghiệp nhà nước. Đề xuất này liệu có khả thi, bởi thực tiễn có nhiều vụ việc khó, phức tạp và mang tính quốc tế?
Để trở thành luật sư công phải có trình độ cử nhân luật trở lên, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật, hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật; đã qua khóa đào tạo luật sư công và hoàn thành thời gian tập sự luật sư công.
Ngoài ra, luật sư công còn được tuyển chọn từ các luật sư không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Các tiêu chí về vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của luật sư công khắt khe hơn so với tiêu chuẩn luật sư hiện hành.
Đồng thời, dự thảo quy định cơ chế phối hợp của luật sư công với luật sư tư trong giải quyết vụ việc. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan sử dụng luật sư công có quyền lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý thường xuyên, hoặc theo vụ việc với tổ chức hành nghề luật sư để chỉ định luật sư có năng lực tham gia giải quyết các công việc có tính chất pháp lý để bảo vệ lợi ích công.
Với những quy định này, về cơ bản luật sư công có thể đáp ứng yêu cầu thực hiện các hoạt động pháp lý của nhà nước.
Thưa bà, công việc đặc thù của luật sư công đòi hỏi phải nghiên cứu sâu và có kinh nghiệm thực tiễn. Tuy nhiên, với mức thu nhập của nhà nước liệu có khả năng thu hút được chuyên gia giỏi, luật sư có “thương hiệu” trong xã hội vào làm?
Xét đặc thù công việc, cần có chế độ ưu đãi vượt trội mới có thể thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao.
Do vậy, dự thảo quy định luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng bằng 100% theo hệ số lương hiện hưởng. Đối với luật sư có trên 10 năm kinh nghiệm, khi được tuyển dụng làm luật sư công được hưởng lương và hỗ trợ hằng tháng bằng 100% theo hệ số lương bậc 1 của chuyên viên cao cấp, hoặc tương đương theo vị trí việc làm.
Trường hợp luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng từ nhiều mục khác nhau đối với cùng một chế độ, chính sách trong cùng một thời điểm thì chỉ được hưởng chế độ, chính sách cao nhất.
Ngoài ra, luật sư công được hưởng thù lao, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác. Họ còn được hưởng tiền làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức, viên chức.
Vậy có luật sư công rồi thì trợ giúp pháp lý hiện nay sẽ ra sao? Có ý kiến cho rằng tại sao chúng ta không nâng tầm trợ giúp pháp lý lên làm luật sư công?
Luật sư công và trợ giúp pháp lý có mục tiêu chính sách và đối tượng phục vụ hoàn toàn khác nhau, nên không thể thay thế cho nhau.
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Đối tượng được thụ hưởng là người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo…
Hoạt động này hướng đến bảo vệ lợi ích tư, cụ thể là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có công với cách mạng và nhóm yếu thế trong xã hội.
Trong khi đó, luật sư công thực hiện các công việc nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công, tức là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước.
Trao đổi với PV Báo Thanh Niên ngày 9.4, ông Nguyễn Thái Hậu, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo cho biết đơn vị đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với ông Đ.V.T (36 tuổi, ở đặc khu Côn Đảo) số tiền 3 triệu đồng do vi phạm quy định về quản lý lâm sản, liên quan việc cất giữ 42 cây mai vàng.
Ông Hậu cho biết trước đó khoảng 14 giờ 30 ngày 2.4, tổ tuần tra liên ngành của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo trong quá trình kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản đã phát hiện trên đường Tôn Đức Thắng (khu dân cư số 5, đặc khu Côn Đảo), ông T. cất giữ có 42 cây mai vàng đang sinh trưởng ổn định.
Ông T. cho biết đã mua 45 cây mai từ đất liền vận chuyển ra Côn Đảo để chăm sóc, tuy nhiên sau đó có 3 cây bị chết, còn lại 42 cây.
Theo ông Hậu, mai vàng là cây thân gỗ phân bố trong rừng tự nhiên tại Côn Đảo, đồng thời cũng được người dân trồng, nhân giống làm cây kiểng phục vụ làm cảnh tại nhà, mua bán ngoài thị trường, nhất là vào mùa xuân.
Những năm gần đây, tại Côn Đảo đang diễn ra tình trạng một số người lén lút vào rừng đào gốc mai rừng về tàng trữ, cất giữ chăm sóc thành cây kiểng để mua bán, trao đổi… việc này đã được UBND huyện Côn Đảo (cũ) có văn bản số 162 ngày 20.1.2021 chỉ đạo tăng cường quản lý khai thác, vận chuyển, buôn bán cây có nguồn gốc rừng tự nhiên và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Ngày 2.4 vừa qua, Tổ tuần tra liên ngành theo kế hoạch kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản trên địa bàn đặc khu Côn Đảo. Tổ tuần tra này do Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo chủ trì cùng với Công an đặc khu Côn Đảo và Ban Chỉ huy phòng thủ Khu vực 6 đặc khu Côn Đảo kiểm tra tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo.
Tại đây, lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện 42 cây mai vàng do ông N.V.T cất giữ, chăm sóc. Ông T. khai nhận đã mua 45 cây từ đất liền vận chuyển ra đảo, trong quá trình chăm sóc có 3 cây bị chết, số còn lại 42 cây có tổng khối lượng 0,38 m³.
Theo khoản 3 điều 8 Thông tư số 26 năm 2025 ngày 24.6.2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, gỗ có tên trùng với cây gỗ rừng tự nhiên, cây trồng phân tán, cây vườn nhà do tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư tự đầu tư phải có bản chính bảng kê lâm sản do chủ lâm sản lập hoặc có xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại (nếu chủ lâm sản đề nghị).
Theo khoản 2 điều 11 Thông tư số 26 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hồ sơ lâm sản quy định tại khoản 3 điều 8 Thông tư 26 khi mua bán, chuyển giao, chuyển quyền sở hữu, vận chuyển trong nước phải bao gồm: bản chính bảng kê lâm sản (do chủ lâm sản bán lập hoặc có xác nhận của kiểm lâm theo điểm đ khoản 3 điều 5 Thông tư 26) và bản sao hồ sơ mua bán liền kề trước đó hoặc mã QR chứa hồ sơ trên bảng kê lâm sản (trừ trường hợp bảng kê đã có xác nhận theo đề nghị của chủ lâm sản).
Tại thời điểm kiểm tra, ông T. không xuất trình được hồ sơ lâm sản theo quy định tại khoản 2 điều 11 Thông tư số 26. Hành vi này vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp năm 2017 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đồng thời tại biên bản vi phạm hành chính lập ngày 2.4, ông T. có đề nghị với đoàn kiểm tra liên ngành sẽ cung cấp hóa đơn chứng từ mua bán số mai trên cho Hạt Kiểm lâm vào ngày 3.4, nhưng sau đó ông Trình không cung cấp được hóa đơn, chứng từ, bảng kê lâm sản hợp lệ theo quy định.
Do đó, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo quyết định xử phạt 3 triệu đồng, tịch thu 42 cây mai vàng để xử lý theo quy định.
Cũng tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo, vào ngày 19.6.2025, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ; từ 1.7.2025 thuộc TP.HCM) phối hợp Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Côn Đảo (cũ) đã phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực lâm nghiệp đối với ông N.V.Y (33 tuổi, ở Côn Đảo) vì hành vi tàng trữ 23 cây mai vàng, tổng trọng lượng 180 kg. Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo đã xử phạt ông Y. số tiền 3 triệu đồng và tịch thu toàn bộ 23 cây mai vàng để xử lý theo quy định.
"Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo khẳng định việc xử phạt vi phạm hành chính nêu trên là đúng quy định nhằm ngăn chặn hành vi lén lút vào rừng bứng đào bới, bứng mai rừng tự nhiên về chăm sóc thành cây kiểng để mua bán, trao đổi làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng", ông Hậu nhấn mạnh.
Trả lời PV Thanh Niên, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Kim Long cho biết trong thời gian qua Đồng Nai đã chú trọng triển khai công tác quy hoạch một cách bài bản, đồng bộ, với quan điểm xuyên suốt là phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Mới đây, ngày 27.2, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 779 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện trên nguyên tắc phù hợp, đồng bộ với định hướng, tầm nhìn phát triển đất nước, chủ trương, đường lối của Đảng, quy hoạch cấp quốc gia và quy hoạch vùng Đông Nam bộ.
"Đây là cơ sở quan trọng bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư phát triển", ông Nguyễn Kim Long khẳng định.
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai, tỉnh xác định rõ phương án phát triển tỉnh Đồng Nai theo 5 vùng KT-XH, 4 không gian, 6 hành lang và 3 vành đai, qua đó tổ chức lại toàn bộ cấu trúc phát triển theo hướng khoa học, đồng bộ và có tính liên kết cao.
Quy hoạch cũng đã xác định rõ phương án phát triển các khu chức năng và các khu có vai trò động lực của tỉnh trong thời gian tới, trong đó không thể không kể đến 2 khu vực làm động lực phát triển mới là khu vực đô thị sân bay Long Thành và khu vực hành lang sông Đồng Nai.
Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai cho biết thêm hiện tỉnh khẩn trương hoàn thành các bước cuối cùng để phê duyệt 4 đồ án quy hoạch chung đô thị Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom; đồng thời triển khai lập quy hoạch chi tiết đối với toàn bộ 95 xã, phường trên địa bàn tỉnh theo đơn vị hành chính mới. Đây là bước đi rất quan trọng nhằm cụ thể hóa quy hoạch tỉnh vào từng không gian phát triển cụ thể, bảo đảm tính đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở.
Về tầm nhìn dài hạn, Đồng Nai xác định mục tiêu phát triển không chỉ dừng lại ở một địa phương công nghiệp mà hướng tới trở thành đô thị hiện đại, có năng lực điều phối không gian phát triển, liên kết hạ tầng, phân bổ nguồn lực và dẫn dắt tăng trưởng cho toàn khu vực. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về đơn vị hành chính mà là bước chuyển quan trọng về mô hình phát triển và mô hình quản trị.
Tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Nai đi đầu trong phát triển công nghiệp công nghệ cao, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, hiện đại; là trung tâm giao thương quốc tế, du lịch, dịch vụ gắn với các đô thị đẳng cấp quốc tế, nơi tập trung trí thức và nhân tài, lấy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là trọng tâm góp phần hoàn thành mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Phát triển hài hòa, người dân có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, không ai bị bỏ lại phía sau. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.
Trên nền tảng đó, Đồng Nai định hướng phát triển theo mô hình thành phố công nghiệp, đô thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp công nghệ cao, gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN và chuyển đổi số trong quản trị đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân và từng bước xây dựng một đô thị năng động, có sức cạnh tranh cao trong khu vực.
Qua đó hình thành một cực tăng trưởng mới của khu vực phía nam, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hạ tầng chiến lược và đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Ông Nguyễn Kim Long đánh giá: "Với vị trí địa kinh tế chiến lược và hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Đồng Nai có điều kiện trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của VN, trung tâm kết nối các hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng khu vực, đồng thời là cực tăng trưởng có sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á".
Theo GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), một mô hình hạ tầng cốt lõi để phát triển kinh tế bao gồm 5 thành tố: hạ tầng giao thông; hạ tầng năng lượng; hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin; hạ tầng cấp, thoát nước và các công trình thủy lợi; hạ tầng xử lý chất thải. Việc đầu tư vào hạ tầng nào cũng đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng quan trọng nhất là nguồn lực vật chất, trong khi ngân sách thì lại có hạn.
Vì vậy, GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng việc xác định các xu hướng phát triển nào cho mỗi thành tố là rất quan trọng, phải làm sáng tỏ các xu hướng nào cần được phát triển cho từng thành tố của cơ sở hạ tầng cốt lõi, từ đó lựa chọn các xu hướng để tiến hành đo lường và đề xuất giải pháp phát triển.
Đối với Đồng Nai, sắp tới khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, sức hút vùng phụ cận sân bay là rất lớn, kéo theo sự đòi hỏi cao hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế. "Hiện nay về hạ tầng giao thông, Đồng Nai có gần như đầy đủ từ đường bộ, đường cao tốc, đường sắt, đường thủy, sân bay. Điều quan trọng là phải làm sao kết nối các loại hình, các dự án hiện nay để tối ưu hóa hiệu quả", GS-TS Võ Xuân Vinh nêu vấn đề.
Cũng theo GS-TS Võ Xuân Vinh, phát triển kinh tế và các thành tố của hạ tầng kinh tế là để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy có thể nghĩ đến việc huy động nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp và mọi tầng lớp trong xã hội để hướng tới mục tiêu chung.
Đồng Nai là địa phương có vị trí chiến lược, lợi thế về nhiều mặt, đặc biệt có sân bay quốc tế Long Thành và cộng đồng doanh nghiệp lớn xung quanh. Đồng Nai có cơ hội để tạo ra sự bứt phá, vươn mình, nhưng phải làm sao phát huy được các nguồn lực đó vào sự phát triển, đồng thời phát triển có chọn lọc và hướng đến tính bền vững.
Còn ông Võ Văn Một, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, thì đánh giá giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Thời gian qua T.Ư và Đồng Nai đều triển khai nhiều dự án giao thông lớn, trọng điểm đi qua địa bàn tỉnh. So với thời kỳ ông làm Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai thì khu vực Long Thành đã khác rất nhiều.
Ông cho biết: "Hôm rồi, tôi có dịp vào sân bay Long Thành, phải nói là sân bay hiện đại, hoành tráng, bản thân vui mừng khi tỉnh nhà có một công trình trọng điểm quốc gia, quy mô lớn như vậy".
Ông Một cho biết thêm, năm 1991, khi còn làm ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh, ông được tháp tùng lãnh đạo tỉnh đi TP.HCM họp về quy hoạch vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Lúc đó, các tỉnh đã bàn về việc xây dựng sân bay Long Thành và chính ông đã giới thiệu khu vực Long Thành vì nơi đây có vị trí thuận lợi; thời tiết, khí hậu ổn định; tập trung nhiều đất công dễ cho việc giải phóng mặt bằng.
Theo ông Võ Văn Một, bây giờ sân bay hình thành rồi, các hạ tầng giao thông cũng đã và đang được đầu tư để kết nối đồng bộ. Đồng Nai cũng quy hoạch các vùng phụ cận xung quanh sân bay để khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có.
Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, vì vậy ông cho rằng cần quan tâm vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu trong thời đại mới. Và quan trọng trên hết, xuyên suốt và ưu tiên số một là an sinh xã hội, làm sao để mọi người dân được hưởng lợi, cuộc sống ấm no.
Sau 9 ngày nắng nóng diện rộng, trưa nay 14/4, miền Bắc trời nhiều mây, nhiệt độ giảm khoảng 1-2 độ C so với hôm qua. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia cho biết trong 1-2 ngày tới, nắng nóng chủ yếu ở Tây Bắc Bộ, nhiệt độ cao nhất 35-36 độ C, có nơi trên 36 độ.
Trang Accuweather của Mỹ dự báo nền nhiệt Hà Nội từ nay đến thứ năm dao động 24-34 độ C, đến thứ sáu giảm khoảng 6 độ, còn 24-28 độ, trời mát mẻ. Điểm cao trên 1.500 m như Sa Pa (Lào Cai) cuối tuần giảm 8 độ, xuống 15-21 độ C.
Tại miền Trung, diện nắng nóng cũng bắt đầu thu hẹp khi hai ngày tới nhiệt độ cao nhất ở Thanh Hóa xuống còn 35 độ C. Vùng từ Nghệ An đến Huế nắng nóng gay gắt nhất, nhiệt độ phổ biến 37-39 độ, có nơi trên 39 độ C, độ ẩm thấp 40-45%. Khu vực từ Đà Nẵng đến Đăk Lăk nóng 36-38 độ, có nơi trên 38 độ C.
Cơ quan khí tượng nhận định từ ngày 17/4, nắng nóng diện rộng ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ sẽ kết thúc, các khu vực khác có xu hướng dịu dần.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, nắng nóng kết thúc do tác động của khối không khí lạnh yếu cuối mùa. Dự báo tối 16/4 đến hết ngày 17/4, khối không khí lạnh tràn xuống miền Bắc xuất hiện mưa rào và giông diện rộng.
Cơ quan khí tượng cảnh báo khu vực tồn tại nắng nóng kéo dài kết hợp độ ẩm thấp sẽ làm gia tăng nguy cơ cháy nổ, hỏa hoạn tại khu dân cư và cháy rừng. Thời tiết oi bức dễ gây mất nước, kiệt sức hoặc sốc nhiệt nếu tiếp xúc lâu ngoài trời.