Trả lời PV Thanh Niên, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Kim Long cho biết trong thời gian qua Đồng Nai đã chú trọng triển khai công tác quy hoạch một cách bài bản, đồng bộ, với quan điểm xuyên suốt là phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Mới đây, ngày 27.2, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 779 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện trên nguyên tắc phù hợp, đồng bộ với định hướng, tầm nhìn phát triển đất nước, chủ trương, đường lối của Đảng, quy hoạch cấp quốc gia và quy hoạch vùng Đông Nam bộ.
“Đây là cơ sở quan trọng bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư phát triển”, ông Nguyễn Kim Long khẳng định.
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai, tỉnh xác định rõ phương án phát triển tỉnh Đồng Nai theo 5 vùng KT-XH, 4 không gian, 6 hành lang và 3 vành đai, qua đó tổ chức lại toàn bộ cấu trúc phát triển theo hướng khoa học, đồng bộ và có tính liên kết cao.
Quy hoạch cũng đã xác định rõ phương án phát triển các khu chức năng và các khu có vai trò động lực của tỉnh trong thời gian tới, trong đó không thể không kể đến 2 khu vực làm động lực phát triển mới là khu vực đô thị sân bay Long Thành và khu vực hành lang sông Đồng Nai.
Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai cho biết thêm hiện tỉnh khẩn trương hoàn thành các bước cuối cùng để phê duyệt 4 đồ án quy hoạch chung đô thị Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom; đồng thời triển khai lập quy hoạch chi tiết đối với toàn bộ 95 xã, phường trên địa bàn tỉnh theo đơn vị hành chính mới. Đây là bước đi rất quan trọng nhằm cụ thể hóa quy hoạch tỉnh vào từng không gian phát triển cụ thể, bảo đảm tính đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở.
Về tầm nhìn dài hạn, Đồng Nai xác định mục tiêu phát triển không chỉ dừng lại ở một địa phương công nghiệp mà hướng tới trở thành đô thị hiện đại, có năng lực điều phối không gian phát triển, liên kết hạ tầng, phân bổ nguồn lực và dẫn dắt tăng trưởng cho toàn khu vực. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về đơn vị hành chính mà là bước chuyển quan trọng về mô hình phát triển và mô hình quản trị.
Tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Nai đi đầu trong phát triển công nghiệp công nghệ cao, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, hiện đại; là trung tâm giao thương quốc tế, du lịch, dịch vụ gắn với các đô thị đẳng cấp quốc tế, nơi tập trung trí thức và nhân tài, lấy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là trọng tâm góp phần hoàn thành mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Phát triển hài hòa, người dân có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, không ai bị bỏ lại phía sau. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.
Trên nền tảng đó, Đồng Nai định hướng phát triển theo mô hình thành phố công nghiệp, đô thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp công nghệ cao, gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN và chuyển đổi số trong quản trị đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân và từng bước xây dựng một đô thị năng động, có sức cạnh tranh cao trong khu vực.
Qua đó hình thành một cực tăng trưởng mới của khu vực phía nam, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hạ tầng chiến lược và đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Ông Nguyễn Kim Long đánh giá: “Với vị trí địa kinh tế chiến lược và hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Đồng Nai có điều kiện trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của VN, trung tâm kết nối các hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng khu vực, đồng thời là cực tăng trưởng có sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á”.
Theo GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), một mô hình hạ tầng cốt lõi để phát triển kinh tế bao gồm 5 thành tố: hạ tầng giao thông; hạ tầng năng lượng; hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin; hạ tầng cấp, thoát nước và các công trình thủy lợi; hạ tầng xử lý chất thải. Việc đầu tư vào hạ tầng nào cũng đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng quan trọng nhất là nguồn lực vật chất, trong khi ngân sách thì lại có hạn.
Vì vậy, GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng việc xác định các xu hướng phát triển nào cho mỗi thành tố là rất quan trọng, phải làm sáng tỏ các xu hướng nào cần được phát triển cho từng thành tố của cơ sở hạ tầng cốt lõi, từ đó lựa chọn các xu hướng để tiến hành đo lường và đề xuất giải pháp phát triển.
Đối với Đồng Nai, sắp tới khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, sức hút vùng phụ cận sân bay là rất lớn, kéo theo sự đòi hỏi cao hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế. “Hiện nay về hạ tầng giao thông, Đồng Nai có gần như đầy đủ từ đường bộ, đường cao tốc, đường sắt, đường thủy, sân bay. Điều quan trọng là phải làm sao kết nối các loại hình, các dự án hiện nay để tối ưu hóa hiệu quả”, GS-TS Võ Xuân Vinh nêu vấn đề.
Cũng theo GS-TS Võ Xuân Vinh, phát triển kinh tế và các thành tố của hạ tầng kinh tế là để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy có thể nghĩ đến việc huy động nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp và mọi tầng lớp trong xã hội để hướng tới mục tiêu chung.
Đồng Nai là địa phương có vị trí chiến lược, lợi thế về nhiều mặt, đặc biệt có sân bay quốc tế Long Thành và cộng đồng doanh nghiệp lớn xung quanh. Đồng Nai có cơ hội để tạo ra sự bứt phá, vươn mình, nhưng phải làm sao phát huy được các nguồn lực đó vào sự phát triển, đồng thời phát triển có chọn lọc và hướng đến tính bền vững.
Còn ông Võ Văn Một, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, thì đánh giá giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Thời gian qua T.Ư và Đồng Nai đều triển khai nhiều dự án giao thông lớn, trọng điểm đi qua địa bàn tỉnh. So với thời kỳ ông làm Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai thì khu vực Long Thành đã khác rất nhiều.
Ông cho biết: “Hôm rồi, tôi có dịp vào sân bay Long Thành, phải nói là sân bay hiện đại, hoành tráng, bản thân vui mừng khi tỉnh nhà có một công trình trọng điểm quốc gia, quy mô lớn như vậy”.
Ông Một cho biết thêm, năm 1991, khi còn làm ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh, ông được tháp tùng lãnh đạo tỉnh đi TP.HCM họp về quy hoạch vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Lúc đó, các tỉnh đã bàn về việc xây dựng sân bay Long Thành và chính ông đã giới thiệu khu vực Long Thành vì nơi đây có vị trí thuận lợi; thời tiết, khí hậu ổn định; tập trung nhiều đất công dễ cho việc giải phóng mặt bằng.
Theo ông Võ Văn Một, bây giờ sân bay hình thành rồi, các hạ tầng giao thông cũng đã và đang được đầu tư để kết nối đồng bộ. Đồng Nai cũng quy hoạch các vùng phụ cận xung quanh sân bay để khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có.
Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, vì vậy ông cho rằng cần quan tâm vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu trong thời đại mới. Và quan trọng trên hết, xuyên suốt và ưu tiên số một là an sinh xã hội, làm sao để mọi người dân được hưởng lợi, cuộc sống ấm no.
Với vốn điều lệ lên đến 40.000 tỉ đồng, giá trị vốn hóa đạt gần 170.000 tỉ đồng, VRG là tập đoàn nông nghiệp lớn nhất Việt Nam, hiện đang đầu tư vào 115 công ty thành viên và liên kết, hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực: trồng và chế biến cao su, sản xuất gỗ, phát triển khu công nghiệp, công nghiệp cao su, năng lượng tái tạo và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Trên diện tích hơn 377.800 ha cao su trải rộng trong và ngoài nước, VRG không chỉ sở hữu một hệ sinh thái sản xuất quy mô lớn, mà còn xây dựng được chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ trồng trọt, khai thác đến chế biến và thương mại.
Đáng chú ý, phần lớn diện tích cao su trong nước nằm ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới… những địa bàn còn nhiều khó khăn nhưng lại mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Tại đây, các dự án của VRG đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời góp phần giữ vững "phên dậu" của Tổ quốc.
Không dừng lại trong nước, VRG đã mở rộng đầu tư ra khu vực, đặc biệt tại Lào và Campuchia với tổng diện tích hơn 113.000 ha, chiếm khoảng 30% diện tích cao su toàn tập đoàn.
Các dự án tại 2 nước bạn không chỉ đóng góp gần 40% sản lượng khai thác mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về kinh tế, chính trị, đối ngoại. Tại những vùng dự án, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, hạ tầng nông thôn từng bước được hoàn thiện, tình hình an ninh trật tự được giữ vững.
Quan trọng hơn, những cánh rừng cao su ấy đã trở thành cầu nối hữu nghị, góp phần củng cố niềm tin và sự gắn kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, khẳng định vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong hợp tác quốc tế.
Năm 2025 ghi nhận những kết quả tích cực của VRG với tổng doanh thu hợp nhất đạt hơn 32.000 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 7.000 tỉ đồng, tăng trưởng mạnh so với năm trước. VRG nộp ngân sách đạt 4.350 tỉ đồng, khẳng định vai trò đóng góp quan trọng cho nền kinh tế.
Không chỉ dừng lại ở hiệu quả tài chính, VRG còn đặc biệt chú trọng chăm lo đời sống người lao động. Với khoảng 80.000 lao động, trong đó hơn 20.000 người là đồng bào dân tộc thiểu số và hàng chục nghìn lao động tại Lào, Campuchia, tập đoàn đã tạo dựng một hệ sinh thái việc làm ổn định, thu nhập bình quân trên 12 triệu đồng/người/tháng.
Đó chính là minh chứng rõ nét cho triết lý phát triển tăng trưởng phải đi đôi với bao trùm trách nhiệm xã hội, hiệu quả phải gắn liền với bền vững.
Năm 2026, VRG đặt mục tiêu tăng trưởng ổn định với doanh thu gần 34.000 tỉ đồng, lợi nhuận tiếp tục duy trì đà tăng. Nhưng hơn cả những con số, điều đáng chú ý là định hướng phát triển mang tính chiến lược, dài hạn. Tập đoàn đang đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, phát triển khu công nghiệp trên đất chuyển đổi… nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và đa dạng hóa nguồn thu.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, VRG chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, phát triển các mô hình sản xuất quy mô lớn, tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc nghiên cứu, phát triển giống cây trồng, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học, đang mở ra những hướng đi mới cho tập đoàn.
Một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của VRG là chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị. Tập đoàn đang triển khai hệ thống quản lý hiện đại như GIS để quản lý đất đai, vườn cây theo thời gian thực; số hóa toàn bộ quy trình quản trị nội bộ; xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực điều hành và tiết giảm chi phí.
Đồng thời, việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị) không chỉ giúp VRG tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, mà còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư, đối tác và thị trường.
Song song với mở rộng đầu tư, VRG cũng đẩy mạnh tái cơ cấu, sáp nhập các đơn vị cùng ngành nghề, tinh gọn bộ máy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc loại bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại các đơn vị sản xuất kinh doanh không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn tạo ra sự linh hoạt, chủ động trong điều hành, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống.
Năm 2025 đánh dấu bước đột phá lớn của VRG trong công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Tập đoàn đã chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất từ 3 cấp (công ty - nông trường - tổ/đội) sang 2 cấp (công ty - tổ/đội sản xuất), qua đó bỏ cấp trung gian, tăng tính linh hoạt, giảm chi phí quản lý và đưa bộ máy quản trị tiến sát hơn với sản xuất thực tiễn.
Cụ thể, tập đoàn đã giải thể, sáp nhập 214 nông trường, tổ chức lại thành 328 tổ/đội sản xuất trực thuộc các công ty, bảo đảm tinh gọn, rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, phù hợp với điều kiện sản xuất và yêu cầu quản trị hiện đại.
Cùng với đó, tỷ lệ lao động gián tiếp trong toàn tập đoàn được giảm mạnh, còn khoảng 5% tổng lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong xu thế phát triển mới, VRG chủ động liên kết với các tập đoàn kinh tế lớn như PVN, EVN, VNPT… nhằm tận dụng lợi thế, nguồn lực và tạo ra những giá trị cộng hưởng. Những hợp tác này mở ra nhiều cơ hội trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao, chuyển đổi số…, đồng thời góp phần hình thành các chuỗi giá trị mới, nâng cao vị thế của VRG trên thị trường.
Với tầm nhìn dài hạn, VRG đặt mục tiêu đến sau năm 2030 đạt doanh thu khoảng 50.000 tỉ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong ngành nông nghiệp và cao su.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tập đoàn xác định rõ phát triển bền vững phải dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời gắn chặt với trách nhiệm xã hội và lợi ích quốc gia.
Ngày 10-4, thảo luận tại tổ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh vấn đề phát triển khoa học - công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được hay không cốt lõi nằm ở việc thu hút và phát triển nhân tài.
Theo ông, có hai nguồn thu hút nhân tài, trong đó, nguồn nhân tài nhanh nhất, hiệu quả lớn nhất là cần tập trung thu hút các chuyên gia, nhà khoa học từ nước ngoài về, đặc biệt, người Việt Nam ở nước ngoài.
Vấn đề này đã được nêu trong nghị quyết 71, kết luận 18… nhưng trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tới cần đưa nội dung này vào để thực hiện.
Nguồn thứ hai, theo ông là đào tạo và phát triển ở trong nước để thu hút những người giỏi trong các lĩnh vực khác nhau về làm nghiên cứu trong đại học, góp phần vừa nghiên cứu phát triển vừa đào tạo được nguồn nhân lực kế cận.
Bộ trưởng nói đã tham mưu xây dựng đề án về phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao gồm công nghệ lõi, chiến lược, khoa học cơ bản...
Bộ trưởng cũng cho biết, sẽ có nghị định về học bổng cho sinh viên, nghiên cứu sinh trong các ngành, hiện đang trình Chính phủ với nhiều đột phá để thu hút người giỏi, học sinh giỏi.
Từ đó, có đội ngũ nghiên cứu sinh, tiến sĩ toàn thời gian và không chỉ đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn công nghệ lớn khi vào Việt Nam mà để phát triển khoa học công nghệ, phát triển công nghệ lõi trong nhiều lĩnh vực để đảm bảo tự chủ chiến lược.
Một nội dung khác, ông chỉ rõ cần tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Đây là giải pháp đột phá quan trọng để tạo ra tăng trưởng hai con số. Nếu không có lực lượng lao động kỹ năng nghề cao thì không thể thu hút đầu tư, không thể tăng năng suất lao động.
Ông đề nghị trong dự thảo nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, ngoài hạ tầng giao thông, xây dựng, phải đầu tư mạnh cho các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nói muốn có nhân lực chất lượng cao ở đại học và nghề nghiệp, gốc vẫn là giáo dục phổ thông.
Theo Bộ trưởng, số năm đi học trung bình của người Việt Nam vẫn còn thấp. Nghiên cứu của thế giới chỉ ra muốn vượt qua mức thu thập trung bình thì số năm đi học trung bình phải cao.
Họ cũng thống kê nếu tăng được 1 năm đi học trung bình của người dân, sẽ đóng góp khoảng 3-6% vào GDP. Với từng người, trung bình đi học tăng thêm 1 năm giúp thu nhập tăng thêm khi trưởng thành là 8-10%.
Vì vậy, Bộ trưởng nhấn mạnh việc phổ cập giáo dục phổ thông và cấp học tương đương - trung học nghề là yêu cầu hết sức cấp thiết.
Ông nhấn mạnh thêm đầu tư cho giáo dục không chỉ là vấn đề xã hội mà là đầu tư cho phát triển.
"Trong thời gian tới - 5 năm tới, phải làm sao đảm bảo mọi người dân có nhu cầu học tập phải được học, ít nhất hết phổ thông và tương đương. Đây là điều hết sức quan trọng, tạo lực lượng lao động có trình độ và tăng năng suất lao động", Bộ trưởng nêu.
Ông đề nghị trong đầu tư công cần nhấn mạnh phải đảm bảo đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên cho giáo dục phổ thông và tương đương. Đây là trách nhiệm của cả trung ương, địa phương.
Ông chỉ ra ở Hà Nội, TP.HCM, nhiều thành phố lớn, khu công nghiệp còn chưa đủ trường, đủ lớp, tạo ra sự lãng phí rất lớn.
"Nguồn lực con người như vậy mà không tạo điều kiện cho các cháu, các em học hành, đóng góp cho nền kinh tế này thực sự là sự lãng phí.
Do vậy, phải đầu tư đủ trường, đủ lớp còn Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ sẽ lo đội ngũ giáo viên, đào tạo, bồi dưỡng để đủ năng lực...", Bộ trưởng nói thêm.
Về nâng cao chất lượng đào tạo, ông cho biết, đầu tiên cơ sở vật chất phải đủ, sau đó, sẽ tiếp tục tăng cường các điều kiện để có các phòng học đầy đủ chức năng, để phát triển con người một cách toàn diện, có sân tập thể thao, văn nghệ, nghệ thuật…
"Có lẽ trong giai đoạn trước mắt, đủ trường đủ lớp và đủ phòng học chức năng đã là một cố gắng rất lớn. Điều này sẽ tạo ra quy mô, chất lượng giáo dục phổ thông, làm nền tảng cho phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp…", Bộ trưởng nêu thêm.
Tối 14.4, trao đổi với PV Thanh Niên, bà Ngô Thị Sâm, Chủ tịch UBND xã Đăk Tô (Quảng Ngãi) xác nhận, trên địa bàn vừa xảy ra vụ tai nạn giao thông khi một xe khách mất lái, lao xuống mương nước ven đường.
"Thời điểm xảy ra tai nạn, khu vực có mưa lớn, mặt đường trơn trượt. Đây có thể là nguyên nhân khiến tài xế mất lái", bà Sâm cho biết thêm.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, xe khách mang biển kiểm soát 47H-048.86 lưu thông trên quốc lộ 14 theo hướng từ Đắk Lắk đi Đà Nẵng. Khi đến đoạn qua thôn 1 (xã Đăk Tô), phương tiện bất ngờ mất lái, tông vào lan can bên đường.
Cú va chạm mạnh khiến xe lao xuống mương thoát nước trước khu vực cổng UBND xã Diên Bình (cũ), nay thuộc xã Đăk Tô và lật nghiêng.
Thời điểm xảy ra tai nạn, trên xe có 9 hành khách. Rất may, tất cả đều kịp thời thoát ra ngoài, không có thương vong.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, đơn vị vận tải đã điều động phương tiện khác đến hiện trường để đón các hành khách tiếp tục hành trình.
Nhận được tin báo, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp Công an xã Đăk Tô nhanh chóng có mặt tại hiện trường, tổ chức cứu hộ, phân luồng giao thông, đảm bảo an toàn cho các phương tiện qua khu vực.
Nguyên nhân vụ tai nạn đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ.