Tại khu vực miền Nam, từ ngày 1 đến ngày 3.4, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, cùng lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), lãnh đạo Trung tâm điều độ Hệ thống điện miền Nam (SSO) đã làm việc với UBND Tây Ninh, UBND TP.Cần Thơ và các sở ngành liên quan. Qua đó, ngành Điện và chính quyền địa phương đã quán triệt và thể hiện rõ tinh thần phối hợp chặt chẽ, cùng đồng hành để đảm bảo cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng và cả năm 2026; đồng thời quyết tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắt để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình lưới điện trên địa bàn.
Nhằm đảm bảo cung ứng điện trong mùa nắng nóng và cả năm 2026, bên cạnh các giải pháp quản lý, vận hành, các đơn vị Điện lực tại Tây Ninh và TP.Cần Thơ đặc biệt chú trọng đến công tác tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải.
Theo đó, các đơn vị đã ký thỏa thuận tiết kiệm điện với các khách hàng lớn; phối hợp Sở Công thương, các cơ quan sở ngành và đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền tiết kiệm điện; theo dõi, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện các chỉ tiêu tiết kiệm điện hằng tháng để kịp thời chấn chỉnh; triển khai hiệu quả công tác điều chỉnh phụ tải (DR), dịch chuyển phụ tải tự nguyện; làm việc với khách hàng để huy động máy phát điện diesel trong tình huống khẩn cấp của hệ thống điện…
Hiện, ngành Điện đã và đang chủ động triển khai các giải pháp, nỗ lực đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trước tình hình nắng nóng đến sớm ở cả ba miền, thậm chí gay gắt tại khu vực miền Nam, tình hình chiến sự Trung Đông và bất ổn chính trị trên thế thế giới làm đứt gãy chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng.
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó tổng giám đốc EVNSPC cho biết, để đảm bảo cung ứng điện trong năm 2026, đặc biệt trước mùa khô, EVN, EVNSPC rất cần sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của chính quyền các địa phương và khách hàng sử dụng điện trong triển khai 4 giải pháp trọng tâm: Quyết liệt trong sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả; khuyến khích lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS);đẩy mạnh chương trình dịch chuyển phụ tải vào các giờ cao điểm; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ các công trình điện trên địa bàn, nhất là các công trình trọng điểm, cấp bách tăng khả năng cấp điện cho các địa phương.
Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, Giám đốc SSO, thời gian qua, được sự chỉ đạo từ các cấp thẩm quyền, SSO đã phối hợp với EVNSPC, các Công ty Điện lực phía Nam xây dựng, tham mưu và được UBND các tỉnh phê duyệt, ban hành danh sách phụ tải cấp điện ưu tiên, phương án cấp điện trong tình huống mất cân đối cung cầu hệ thống… Đây là cơ sở quan trọng để SSO, EVNSPC vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định trong thời gian tới.
Khẳng định EVN sẽ nỗ lực tối đa để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, sinh hoạt của nhân dân của các địa phương trong năm 2026, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, mong tiếp tục nhận sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của lãnh đạo UBND, cơ quan, sở ngành các tỉnh, thành phố….
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt yêu cầu tăng trưởng 2 con số, EVN, EVNSPC đã ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và TP.Cần Thơ. Tuy nhiên, hiện còn rất nhiều công trình đang gặp rào cản trong công tác giải phóng mặt bằng và vướng mắc thủ tục đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ, trong đó có nhiều công trình trọng điểm, cấp bách đảm bảo điện cho địa phương. Do đó, ngành Điện rất cần sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của chính quyền các địa phương trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, nâng cao năng lực cung ứng điện.
Lãnh đạo EVN cũng kiến nghị chính quyền địa phương quan tâm, có chỉ đạo quyết liệt để người dân, doanh nghiệp, cũng như các cơ quan, ban ngành tại các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Mục tiêu đặt ra là tiết kiệm 3% tổng sản lượng điện tiêu thụ, riêng các tháng cao điểm (tháng 4,5,6) phải phấn đấu đạt trên 10%; trong đó, nhóm cơ quan công sở yêu cầu phải tiết kiệm tối thiểu 5% so với cùng kỳ; nhóm chiếu sáng công cộng tiết kiệm tối thiểu 30% so với cùng kỳ; và nhóm thương mại dịch vụ tiết kiệm tối thiểu 50% phần chiếu sáng quảng cáo…
Là một trong những tỉnh có tăng trưởng phụ tải điện cao của khu vực phía Nam, trong đó thành phần công nghiệp – xây dựng chiếm tỉ trọng tới 71,63% điện thương phẩm, ông Nguyễn Hồng Thanh, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, đánh giá cao tinh thần chủ động, tích cực của EVN và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị kỹ lượng, bài bản các phương án đảm bảo điện cho địa phương.
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với EVN, ông Nguyễn Hồng Thanh yêu cầu cơ quan, sở ban ngành của tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện đồng bộ, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đầu mối, từ đó sớm thống nhất, triển khai văn bản phối hợp giữa ngành Điện và địa phương làm căn cứ kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai. Đặc biệt, cần bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện nghiêm yêu cầu “năm rõ, sáu rõ” trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Đánh giá cao sự chủ động của EVN, EVNSPC và các đơn vị liên quan trong việc triển khai các giải pháp đảm bảo điện năm 2026, cũng như mùa khô sắp tới, ông Vương Quốc Nam, Phó chủ tịch UBND TP.Cần Thơ cho biết, thành phố đặt quyết tâm tăng trưởng 2 con số, kéo theo nhu cầu điện sẽ tăng trưởng mạnh. Để đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội, chính quyền thành phố cam kết đồng hành cùng ngành Điện trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng các công trình điện trên địa bàn.
Lãnh đạo TP.Cần Thơ yêu cầu Sở Công thương, các cơ quan, Sở ngành liên quan trên địa bàn và Công ty Điện lực TP.Cần Thơ phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm nhằm đẩy mạnh thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong năm 2026.
Ngày 7.4, Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An chủ trì cuộc họp với các Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty điện lực, lãnh đạo Ban Quản lý dự án Điện 1 bàn giải pháp triển khai BESS trên lưới điện.
Theo ông Đặng Huy Cường, Thành viên HĐTV EVN, đến năm 2025, tổng công suất BESS được đầu tư trên toàn cầu khoảng 300.000 MW, cho thấy BESS đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tại Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống và có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm...
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương tại Thông báo kết luận số 198/TB-BCT ngày 8.8.2025, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN giao các Tổng công ty, đơn vị chủ động đầu tư lắp đặt BESS trên lưới điện.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), cho biết qua rà soát, khảo sát, các trạm biến áp 110 kV có khả năng triển khai BESS với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
EVNNPC đã trao đổi, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong giai đoạn 1 đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6 và tiếp tục triển khai những năm tới.
EVN giao Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. EVNHANOI đang thí điểm triển khai BESS với công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp.
Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), cho biết đơn vị đang làm việc với các doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Trên lưới truyền tải điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp. Ban Quản lý dự án Điện 1 (EVNPMB1) được EVN giao nghiên cứu đầu tư BESS với tổng quy mô từ 300 - 500 MW, đến nay đã khảo sát và bước đầu xác định 4 vị trí tiềm năng tại miền Bắc.
Trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW. Theo EVN, triển khai các dự án BESS vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, cần sớm được tháo gỡ từ quy hoạch, loại hình đầu tư, đến lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn áp dụng… Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ trong lắp đặt, vận hành BESS đặt ra yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh, phát triển BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Có ưu điểm nổi bật với thời gian triển khai lắp đặt nhanh, dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao nhưng khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN yêu cầu các đơn vị cần nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò và chức năng, không chỉ giới hạn ở 2 mục tiêu là phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải hệ thống điện; và cần xây dựng lộ trình phát triển BESS bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
EVN sẽ cùng Viện Năng lượng và NSMO kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện triển khai BESS trên diện rộng.
Sau hơn một tháng triển khai đồng loạt các giải pháp tiết kiệm nhằm tối đa hóa nguồn năng lượng sử dụng, ngày 5.4, ông Nguyễn Văn Thịnh, Giám đốc Công ty CP ALP Logistics - chi nhánh Hải Phòng, cập nhật: Với chính sách tận dụng container rỗng đã giúp công ty "tiết kiệm một vòng xe". Bên cạnh đó, việc tìm đối tác để kẹp 2 container nhỏ 20 feet trên xe đầu kéo loại 40 feet, ghép hàng hóa khách lẻ đi một chuyến... đã giúp công ty duy trì được lượng hàng hóa vận chuyển, nhưng giảm phần nào áp lực tăng giá xăng dầu. Ông nói, về lý thuyết việc tận dụng giảm 1 lượt xe về giúp giảm được 50% chi phí dầu diesel; tuy nhiên nỗ lực này không thể đảm bảo 100% thành công bởi có nhiều thời điểm không có hàng ngay để đóng đưa về, xe có thể di chuyển sang các địa phương khác để đóng hàng, không hẳn nằm trên lộ trình đã định, nên mức độ tận dụng tối đa cho việc sử dụng container rỗng không đạt hoàn toàn như mong muốn. Nhưng nhờ vậy, chi phí nhiên liệu trung bình giảm được 8 - 10%.
"Các giải pháp tăng ứng dụng công nghệ trong quản lý vận hành, điều phối, bảo dưỡng xe; thậm chí thay các thiết bị tiết kiệm nhiên liệu, làm việc với đối tác để tính toán cung đường mới vận chuyển hàng..., chi phí không thấp. Tuy nhiên, chúng tôi xác định đây là đầu tư ban đầu để có kết quả tối ưu về lâu dài. Nếu mọi thứ vào guồng sẽ giúp giảm nhiên liệu cho nhiều năm sau. Giá xăng dầu thế giới biến động, mọi giải pháp tiết kiệm thông minh, điều hành khoa học để giảm chi phí tiêu hao xăng dầu là nhiệm vụ cấp bách của doanh nghiệp (DN) và chúng tôi xác định đó là một trong những nhiệm vụ sống còn", ông Nguyễn Văn Thịnh nhấn mạnh.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Thùy Loan, Giám đốc Công ty CP WR1 Trans, cho hay DN của bà đã tối ưu hóa lộ trình vận chuyển để tiết kiệm nhiên liệu; rà soát hiệu suất đội xe, giảm thiểu lãng phí trong vận hành; đồng hành với khách hàng để tìm kiếm các phương án vận chuyển hiệu quả nhất. Trong đó, chú ý tận dụng tối đa container rỗng sau giao hàng, đóng luôn hàng xuất để không phải chở container rỗng về cảng như trước. Kết quả là vẫn duy trì hoạt động của đội xe, nhưng chi phí sử dụng nhiên liệu giảm khoảng 10%.
"Đây là một mức giảm rất cố gắng và đã được triển khai từ sớm, quyết liệt và đồng lòng từ trên xuống dưới của công ty. Trong thực tế, chi cho nhiên liệu chiếm 35 - 40% chi phí vận hành một chiếc xe; bên cạnh đó là gánh nặng từ phí nâng hạ tại cảng và cước vận tải biển tăng... Trong khi giá dầu diesel tháng 2 từ 18.000 - 19.000 đồng/lít, đến ngày 6.4 giá dầu diesel chúng tôi mua tại thị trường vùng 1 là 45.780 đồng/lít, cao hơn gấp đôi. Trong khó khăn, chúng tôi tích cực trao đổi với khách hàng để có giải pháp tối ưu vận tải và giảm bớt phần nào gánh nặng chi phí gia tăng này", bà Nguyễn Thị Thùy Loan cho biết.
Bà Loan nói thêm, DN có kinh nghiệm trong triển khai các giải pháp tiết kiệm nhiên liệu trong quá khứ nên nay rà soát, áp dụng không gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn, với chính sách tái sử dụng container rỗng, năm 2025 công ty đã tiết kiệm được đoạn đường vận chuyển hàng hơn 10.000 km, lượng dầu tiết kiệm được khoảng 4.300 lít. Đối với xe tải sau 8 năm vận hành, nếu được bảo dưỡng tốt, định mức tiêu hao nhiên liệu đạt khoảng 0,38 - 0,4 lít/km. "Năm 2025, chúng tôi đặt định mức tiêu hao nhiên liệu là 0,366 lít/km quãng đường xe đi là 373.736 km, tương ứng mức dầu diesel giảm là 0,024 lít/km... Chúng tôi đã triển khai 3 trụ cột chuyển đổi xanh trên toàn hệ thống. Tuy vậy, hiện các hãng tàu đang siết chính sách tái sử dụng container rỗng, các chủ hàng chưa linh hoạt thời gian đóng hàng nên tỷ lệ kết hợp chở hàng trong bối cảnh chi phí nhiên liệu tăng chưa đạt như kỳ vọng", bà Loan phân tích.
Bên cạnh xăng dầu, tiết kiệm điện năng 10% từ nay đến 2028 cũng là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu tại Chỉ thị 10 vừa qua; và nhiều DN cũng quán triệt chỉ đạo này. Từ cuối tháng 2, Công ty quảng cáo sáng tạo Project Pluto (TP.HCM) đã quay trở lại cơ chế "work from home" để giảm tối đa chi phí xăng dầu cho nhân viên. Đại diện DN này cho hay, giá xăng tăng mạnh, công ty quyết định cho nhân sự làm việc tại nhà, không chỉ tiết kiệm xăng cho nhân viên mà ngay công ty không mở văn phòng cũng tiết kiệm được tiền điện trong tháng 3. Do đó, tuy có biến động giá năng lượng thế giới, nhưng chi phí nhiên liệu cho nhân viên không bị ảnh hưởng đáng kể.
DN của ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch HĐTV Công ty cơ khí Duy Khanh, cũng đang áp dụng các biện pháp để giảm chi phí điện và dầu thông qua việc giao hàng ghép xe, điều chỉnh tối ưu cung đường, giảm được 10 - 20% chi phí dầu dùng để vận tải hàng hóa. Bên cạnh đó, công ty cũng đã cấp tốc cho điều chỉnh sản xuất vào khung giờ thấp điểm, qua đó giảm được mức tăng của hóa đơn tiền điện từ tháng 3. "Nếu cứ sản xuất bình thường như trước, hóa đơn tiền điện có thể tăng 30% vào mùa nóng. Chúng tôi áp dụng điều chỉnh giờ sản xuất, chi phí điện năng có thể tăng chỉ bằng một nửa so với mức tiêu dùng thực tế", ông Thống tính toán.
Trong lĩnh vực bán lẻ, đại diện Central Retail Việt Nam (đơn vị sở hữu chuỗi siêu thị GO!, Tops Market...) đã lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại 32 siêu thị và đại siêu thị trên toàn quốc, giúp giảm bình quân khoảng 14% lượng điện tiêu thụ. Năm 2025, thông qua việc mở rộng hệ thống điện mặt trời áp mái và triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại các trung tâm thương mại, DN này đã cắt giảm hơn 36.000 tCO₂e, tương đương với khoảng 14% mức tiêu thụ điện lưới quốc gia. Đại diện Central Retail Việt Nam cho hay với chiến lược phủ xanh hệ thống trung tâm thương mại GO! bằng điện mặt trời khẳng định cam kết của Central Retail trong việc trở thành DN bán lẻ bền vững hàng đầu VN, giảm phụ thuộc vào lưới điện quốc gia.
Là DN sản xuất cơ khí, nhu cầu tiêu thụ năng lượng cực lớn, Công ty Yuki (TP.HCM) cũng đã đầu tư điện mặt trời mái nhà để sử dụng và giảm được 18% tiền điện mỗi tháng. Trong kế hoạch chung, công ty đang muốn mở rộng lắp cho nhiều mái nhà xưởng để tận dụng tối ưu năng lượng mặt trời, giúp làm mát nhà xưởng và giảm tiền điện hằng tháng.
GS-TS Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DN nhỏ và vừa Hà Nội, đánh giá những giải pháp nhằm giảm thiểu nhiên liệu sử dụng của một số DN sản xuất kinh doanh trong thời gian qua là rất đáng hoan nghênh, đa số phản ứng rất nhanh và có tính chủ động cao. Về chi phí logistics, trong kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển logistics đến 2035 cũng cho thấy việc tối ưu logistics là một phần quan trọng để giảm áp lực nguồn cung và chi phí.
GS-TS Mạc Quốc Anh nhấn mạnh: "Trong bối cảnh này, tiết kiệm nhiên liệu, điện cần được DN đưa vào chiến lược phát triển chứ không phải các giải pháp, cách ứng phó nhất thời trước biến động giá năng lượng thế giới. Phải coi đó là chiến lược song song chuyển đổi xanh để phát triển bền vững".
Cụ thể, đối với đá xây dựng nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3.
Trong khi cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3.
Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3, thiếu đến 25,96 triệu m3.
Đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trước tình trạng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM đưa ra hàng loạt giải pháp.
Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất được hơn 7 triệu m3, vượt nhu cầu.
Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ nạo vét 22 hồ của thành phố.
Đối với 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu, Sở đưa ra bốn giải pháp: 2,3 triệu m3 nạo vét tuyến sông Sài Gòn - Đồng Nai, 0,56 triệu m3 từ Sông Thị Tính, 5,1 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại Hồ Sông Ray, 18 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại 22 hồ.
Giải pháp khác được đưa thay thế là xay đá, rửa cát biển.
Đối với 11 triệu m3 đất san lấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai giải pháp là cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 cho 16 khu đất, thu hồi khoáng sản từ các công trình hầm như metro, công trình hầm...
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu.
Qua kiểm tra thực tế, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Toàn Thắng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM có cơ chế đối với việc đề xuất nâng công suất khai thác mỏ.
Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thành phố có cơ chế về giá và thanh toán nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư được thanh toán khối lượng vật liệu mua trước.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh tình trạng nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Theo phản ánh của một số chủ mỏ, thực tế vẫn còn phát sinh trường hợp nhà thầu thi công đề nghị nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư tăng cường chấn chỉnh, quản lý các nhà thầu thi công, bảo đảm việc mua bán vật liệu xây dựng đúng giá thực tế, đúng quy định pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra việc nâng khống giá vật liệu hoặc các hành vi tiêu cực liên quan.
Tương tự, chấn chỉnh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được. Cụ thể, một số công trình sau khi nhà thầu trúng thầu với đơn giá vật liệu thấp không ưu tiên sử dụng vật liệu từ các mỏ xa do phát sinh chi phí vận chuyển. Đồng thời từ chối mua ở các mỏ xa với lý do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù các mỏ này vẫn đáp ứng yêu cầu và đang cung cấp cho nhiều dự án vốn ngân sách khác. Việc này dẫn đến tập trung nhu cầu vào một số mỏ gần gây mất cân đối cung - cầu cục bộ.
Do vậy đề nghị nhà thầu chịu trách nhiệm đối với đơn giá đã chào thầu, tính toán đầy đủ chi phí vật liệu; tránh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được, gây áp lực lên nguồn cung vật liệu xây dựng trên thị trường.
Có cơ chế tháo gỡ đối với phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm. Cho phép chủ mỏ được bán thương mại phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm.
Có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỉ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của thành phố, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của thành phố. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Đối với các dự án đầu tư tư nhân thuộc công trình trọng điểm của thành phố, cho chủ trương được áp dụng cơ chế đặc thù về vật liệu xây dựng để cấp trực tiếp các mỏ vật liệu cho chủ đầu tư, nhà thầu thi công, được nâng công suất để phục vụ cho các dự án...