Thành công nổi bật của hoạt động đối sánh giai đoạn 2020-2025 là góp phần minh bạch chất lượng giáo dục phổ thông (GDPT). Thay vì chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng điểm cao, dữ liệu đối sánh giúp nhận diện rõ hơn chất lượng thực của quá trình dạy và học. Nhờ đó, nhiều địa phương xác định được vị trí của mình trong tương quan cả nước (đối sánh ngang) và theo dõi được xu hướng tiến bộ hay thụt lùi qua các năm (đối sánh dọc).
Đối sánh cũng tạo ra áp lực cải tiến tích cực. Khi chênh lệch giữa điểm học bạ và điểm thi được chỉ ra, nhiều địa phương buộc phải rà soát lại công tác kiểm tra, đánh giá trong nhà trường. Một số nơi đã triển khai giải pháp nâng cao chất lượng và đạt kết quả rõ nét khi thứ hạng điểm trung bình thi (TBĐT) toàn quốc được cải thiện. Chẳng hạn, Nghệ An tăng hạng mạnh từ vị trí 38 năm 2020 lên hạng 2 năm 2025; Hà Tĩnh từ 24 lên 4; Vĩnh Phúc (cũ) không chỉ tăng hạng mà nhiều năm giữ vị trí dẫn đầu. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có xu hướng giảm hạng như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Đà Nẵng (cũ).
Từ góc độ quản lý, đối sánh góp phần hình thành tư duy sử dụng dữ liệu trong hoạch định chính sách và điều chỉnh hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay là đặt tất cả địa phương vào cùng một “mặt bằng so sánh”, trong khi điều kiện kinh tế – xã hội, nguồn lực giáo dục và chất lượng đầu vào rất khác nhau. Vì vậy, đối sánh theo nhóm các địa phương hoặc trường học có điều kiện tương đồng là cách tiếp cận hợp lý, giúp so sánh công bằng và hỗ trợ cải tiến chất lượng giáo dục.
Dữ liệu TBĐT kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy có sự phân hóa rõ rệt giữa 12 địa phương, gồm 6 thành phố trực thuộc T.Ư và 6 địa phương sáp nhập vào các thành phố này, như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Dương, Quảng Nam, Sóc Trăng và Hậu Giang.
“TBĐT 5 năm” của mỗi địa phương được tính bằng trung bình cộng TBĐT từng năm của địa phương đó. Chẳng hạn, Bình Dương có TBĐT từng năm giai đoạn 2021-2025 lần lượt là 7,055, 7,021, 7,161, 7,320 và 6,480 thì “TBĐT 5 năm” của tỉnh này là 7,007.
Tính “TBĐT 5 năm” giai đoạn 2021–2025 của 12 địa phương cho thấy mức bình quân chung đạt 6,490 điểm. Lấy mốc này để so sánh, có 6 địa phương có điểm trung bình cao hơn, gồm: Bình Dương (7,007 điểm), Hải Phòng (6,765 điểm), Hải Dương (6,648 điểm), TP.HCM (6,625 điểm), Hà Nội (6,552 điểm) và Cần Thơ (6,525 điểm).
6 địa phương còn lại có điểm trung bình thấp hơn mức này, gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu (6,474 điểm), Huế (6,453 điểm), Đà Nẵng (6,224 điểm), Quảng Nam (6,217 điểm), Hậu Giang (6,197 điểm) và Sóc Trăng (6,187 điểm).
Như vậy, trong 12 địa phương được so sánh, một nửa có kết quả cao hơn mức trung bình chung và một nửa thấp hơn.
Trong nhóm TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương nổi bật với điểm trung bình 7,007, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. TP.HCM đạt 6,625 điểm, còn Bà Rịa – Vũng Tàu thấp hơn với 6,474 điểm.
Cặp Hải Phòng – Hải Dương có kết quả khá gần nhau (6,765 và 6,648 điểm), cho thấy chất lượng giáo dục trong vùng tương đối cân bằng.
Ở các nhóm còn lại, khoảng cách thể hiện rõ hơn. Đà Nẵng chưa tạo được chênh lệch đáng kể so với Quảng Nam (6,224 so với 6,217), dù điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tại ĐBSCL, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm với điểm trung bình cao hơn nhiều so với Hậu Giang và Sóc Trăng, phản ánh sự chênh lệch về chất lượng giáo dục. TBĐT và thứ hạng của 12 địa phương được thể hiện ở bảng sau:
Đối sánh nhóm 6 thành phố lớn sau sáp nhập
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 có nhiều thay đổi: thi theo Chương trình GDPT 2018, số môn thi giảm còn 4 (toán, ngữ văn và 2 môn tự chọn), ngoại ngữ chuyển từ bắt buộc sang tự chọn. Đồng thời, tuyển sinh ĐH không còn xét tuyển sớm, xét học bạ phải tính cả điểm học kỳ II lớp 12. Những điều chỉnh này đã làm thay đổi bức tranh kết quả thi giữa các địa phương, đặc biệt là 6 thành phố trực thuộc T.Ư.
Kết quả đối sánh năm 2025 cho thấy sự phân hóa khá rõ. Hà Nội dẫn đầu với 6,451 điểm, xếp thứ 5/34 toàn quốc. Hải Phòng đứng ngay sau với 6,346 điểm, xếp thứ 6/34, cho thấy chất lượng giáo dục ổn định. TP.HCM và Huế thuộc nhóm tiếp theo, lần lượt xếp thứ 8 và thứ 9.
Trong khi đó, Cần Thơ – sau khi sáp nhập thêm Hậu Giang và Sóc Trăng – xếp thứ 16/34, phản ánh những khó khăn đặc thù của giáo dục vùng ĐBSCL Cửu Long. Đà Nẵng đứng thứ 23/34, thấp nhất trong nhóm 6 thành phố. Đây không phải hiện tượng nhất thời mà là xu hướng kéo dài nhiều năm, khi Đà Nẵng và Quảng Nam thường nằm trong nhóm địa phương có điểm trung bình thấp.
Kết quả này cho thấy việc sáp nhập địa giới hành chính chủ yếu tạo ra không gian quản lý mới, còn mặt bằng chất lượng giáo dục giữa các vùng trong mỗi thành phố vẫn chưa thật sự đồng đều.
Xây dựng bản đồ chất lượng đến từng xã, phường, trường học
Để các “siêu đô thị” hình thành sau sáp nhập thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia, hoạt động đối sánh theo nhóm cần được xác lập như một công cụ phản hồi và điều chỉnh chính sách. Giá trị cốt lõi của đối sánh không nằm ở xếp hạng, mà ở khả năng chỉ ra khoảng cách, nhận diện nguyên nhân và gợi mở cải tiến phù hợp.
Trước hết, các đô thị cần xây dựng bản đồ chất lượng giáo dục đến từng xã, phường, từng trường, phản ánh đầy đủ điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô trường lớp, đội ngũ giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đây sẽ là cơ sở để phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tiễn, thay vì chia đều hay dựa vào địa giới hành chính. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 của Hà Nội vừa mới đây đã cho thấy rõ tính cần thiết của giải pháp này.
Thứ hai, cần mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương và nhà trường khi phạm vi quản lý rộng lớn hơn, đồng thời thiết kế các gói hỗ trợ có mục tiêu rõ ràng cho những khu vực còn yếu, gắn chặt trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra. Đối sánh theo nhóm giúp xác định cụ thể đối tượng cần hỗ trợ, mức độ hỗ trợ và thời gian hỗ trợ, qua đó hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả thấp. Các trường học từng bước trở thành tổ chức tự học hỏi và tự cải tiến qua đối sánh và kiểm định.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên theo vùng trong nội bộ đô thị là giải pháp then chốt. Việc tạo cơ chế luân chuyển, chia sẻ giáo viên giỏi giữa khu vực trung tâm và vùng ven, vùng khó khăn sẽ góp phần thu hẹp chênh lệch chất lượng đã kéo dài nhiều năm, đồng thời tạo môi trường phát triển nghề nghiệp công bằng hơn cho đội ngũ nhà giáo.
Hôm nay (13.4), ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học "Dạy và học toán trong kỷ nguyên công nghệ", quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước. Tại đây, GS Vũ Hà Văn, khoa Toán ĐH Hồng Kông, Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn Trường ĐH VinUni, đã có chia sẻ về việc dạy và học toán trong kỷ nguyên công nghệ.
Ngay phần đầu chia sẻ, ông đặt vấn đề bằng câu hỏi: "Học toán (gì) để làm gì? Dạy toán như thế nào?". Từ những câu chuyện từ cuộc sống, ông cho biết từng nghe nhiều người than phiền học tích phân, đạo hàm nhưng không thấy ứng dụng trong cuộc sống. Tuy nhiên, ít ai hỏi rằng cần học cụ thể nội dung gì ở môn này.
GS Văn nhìn nhận đây là thiếu sót bởi toán là lĩnh vực rộng, gồm nhiều chuyên ngành nhỏ, tương tự thể thao. Ai cũng biết chơi thể thao có lợi cho sức khỏe, nâng cao tinh thần, tuổi thọ, nhưng quan trọng là phải chọn môn phù hợp và có lợi nhất. "Nếu ở làng chài thì rõ ràng nên học bơi lội để phục vụ cho công việc, cuộc sống", ông ví dụ.
Theo GS Văn, tầm quan trọng của toán học đã được khẳng định trong thực tế phát triển khoa học công nghệ toàn cầu. "Toán học là nền tảng của nhiều ngành khoa học và công nghệ. Toán học cũng là cơ sở kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao - yếu tố then chốt để Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo", GS Văn nhấn mạnh.
Chia sẻ theo góc nhìn cá nhân, GS Văn cho rằng: "Toán học không chỉ là tập hợp các công thức tính toán, mà là cách ta nhìn nhận thế giới".
Trong bài nói chuyện, GS Văn giải đáp câu hỏi "toán học có quan trọng trong thời của AI và dữ liệu lớn?" bằng cách dẫn lời khuyên của các CEO công nghệ hàng đầu thế giới với sinh viên. Trong đó, Elon Musk (CEO Tesla) và Jensen Huang (CEO NVIDIA) cho rằng: "Trong kỷ nguyên AI, sinh viên nên tập trung vào việc học toán và vật lý thay vì học lập trình. AI rồi sẽ lập trình tốt, con người phải hiểu khoa học"...
Gần 30 năm làm việc, trao đổi ở những ngôi trường hàng đầu trên thế giới, ông chỉ ra vấn đề trong thực tế dạy và học toán trong ĐH hiện nay, không chỉ ở Việt Nam. Ông nói: "Đa phần vẫn học toán để qua môn, đối phó là chính. Ngay cả trong các trường ĐH ở Mỹ, phần lớn sinh viên vẫn học toán với tư duy này".
Theo ông, bất cập này do nội dung đào tạo dàn trải, giáo trình cũ kỹ, phương pháp giảng dạy nặng về truyền thụ lý thuyết. Chương trình toán ở phổ thông và ĐH hiện nay có nhiều nội dung không cần thiết, không cập nhật nhu cầu thực tế công nghệ, công nghiệp.
"Có một số lý thuyết phải dạy vài tháng sinh viên mới hiểu, thông thạo. Nhưng công bằng mà nói, nếu không đi làm cho NASA thì chắc không bao giờ chúng ta dùng", ông nói. "Ngược lại, trong đời sống hàng ngày có những nhu cầu liên quan đến toán học cơ bản như đầu tư tài chính, cần hiểu lý thuyết phương sai nhưng đa số lại lơ mơ", GS Văn chia sẻ.
Nghịch lý này cũng xảy ra ở một số ngành nghề đòi hỏi toán học đỉnh cao. Ông kể câu chuyện tuyển chọn ứng viên cho chương trình kỹ sư AI của VinIF. Hầu hết sinh viên chuyên ngành liên quan đến toán, tốt nghiệp các ĐH danh tiếng, điểm trung bình toán rất cao nhưng vẫn cần khoảng 4 tháng đầu để học lại một số môn cơ sở.
Khẳng định nhân lực ngành toán sẽ là điểm tựa để quốc gia thực hiện các mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới, GS Văn cho rằng đổi mới giáo trình và phương pháp giảng dạy là nhu cầu bức thiết. "Không chỉ Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng đang chạy đua cách tân chương trình toán", ông nói.
Kết thúc bài nói chuyện, GS Vũ Hà Văn khẳng định: "Trong kỷ nguyên số, sự phát triển của AI, Data Science, học máy dựa trên nền tảng một số ngành toán học. Đổi mới cách dạy và học toán đang trở thành bài toán tầm quốc gia". Câu hỏi của ông kết thúc bài nói chuyện nhưng gợi mở nhiều chia sẻ từ hội thảo: "Vậy chúng ta cần thay đổi những gì?".
GS-TS Đặng Đức Trọng, Khoa Toán-Tin học Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, cho rằng việc đổi mới phương pháp giảng dạy toán cần bắt đầu từ việc thay đổi vai trò của người học trong lớp học. "Thay vì truyền thụ kiến thức một chiều, giảng viên cần 'ủy nhiệm' quá trình học cho sinh viên thông qua các phương pháp kích thích tư duy độc lập và khả năng tự khám phá. Chúng ta cần tạo ra những tình huống mà ở đó sinh viên buộc phải suy nghĩ, phải tự chứng minh, thậm chí đối diện với những bài toán chưa có lời giải rõ ràng. Chính quá trình đó mới hình thành năng lực nghiên cứu thực sự", GS-TS Đặng Đức Trọng nói.
Gần 11h ngày 10/4, hàng trăm phụ huynh đứng chật kín trong sân trường Tiểu học Bình Quới Tây để đợi đón con. Vì trường dừng bán trú, các gia đình phải đưa đón 2 buổi mỗi ngày.
Giữa cái nắng 35 độ C, vợ chồng anh Thanh Phong, phường Bình Quới, thay nhau xin về giữa buổi để đón con lớp 1.
"Đón con xong tôi phải chạy ngược lại công ty cách đó 5km, 13h30 đến lượt vợ đưa con đi học", anh Phong nói, cho biết con gái hôm qua đã bị say nắng vì phải di chuyển giữa trưa.
Chị Lan, phụ huynh lớp 1, cũng loay hoay suốt hai ngày qua. Nữ phụ huynh kể phải nhờ ông bà ngoại nấu cơm giúp, sau đó đón con về ăn, rồi đưa đến trường buổi chiều. Chị Lan lo việc dừng bán trú ảnh hưởng giấc ngủ trưa, con khó đảm bảo sức khỏe khi học hai buổi mỗi ngày. Bản thân chị cũng nghĩ khó thu xếp được công việc để đưa đón nếu tình hình kéo dài.
Trong khi đó, chị Ngọc Trang, phụ huynh lớp 3, cố gắng tự chuẩn bị cơm cho con và dự kiến duy trì, kể cả khi trường tổ chức bán trú trở lại.
"Bé từng báo đồ ăn có vấn đề vài lần nhưng tôi nghĩ cháu kén ăn. Sau vụ việc này, tôi không yên tâm để con ăn ở trường", chị nói.
Bà Diệp Thị Ngọc Tiên, Hiệu trưởng nhà trường, thừa nhận việc dừng bán trú gây xáo trộn lớn với phụ huynh, nhưng là phương án bắt buộc để đảm bảo an toàn. Trường dừng tổ chức bán trú ít nhất đến thứ ba tuần sau, khi có kết quả xét nghiệm mẫu thức ăn.
Hôm nay, toàn trường vắng 220 trong tổng số hơn 900 học sinh, chủ yếu ở khối 1, 2. Theo bà Tiên, số này đã giảm so với hôm qua, khi gần 450 em không đi học. Nhiều lớp vắng hơn một nửa do đang điều trị ở viện, theo dõi sức khỏe ở nhà hoặc phụ huynh cho nghỉ vì không thể đưa đón.
Tùy tình hình, giáo viên sẽ điều chỉnh nội dung giảng dạy. Với những lớp vắng nhiều, học sinh chủ yếu ôn tập bài cũ.
"Tôi và thầy cô rất lo lắng, mong sớm tìm được nguyên nhân để ổn định tình hình, sắp đến giai đoạn kiểm tra cuối kỳ", bà Tiên nói.
Sự việc xảy ra hôm 8/4. Trường Tiểu học Bình Quới Tây ghi nhận hơn 100 lượt học sinh xuống phòng y tế khám với các biểu hiện mệt mỏi, sốt. Trong đó, hơn 40 em nôn ói, đau bụng, nghi ngộ độc thực phẩm ngay đầu giờ sáng, khi chưa đến giờ ăn trưa.
Tính đến sáng 10/4, tổng số ca điều trị, nhập viện lên đến 148, theo thống kê của Sở Y tế. Kết quả xét nghiệm ban đầu tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định ghi nhận trong 10 học sinh có 7 em dương tính với Salmonella - vi khuẩn gây tiêu chảy.
Trong báo cáo gửi thành phố, Sở An toàn Thực phẩm cho hay khu vực nhà ăn của trường Tiểu học Bình Quới Tây rộng, thông thoáng, vệ sinh sạch sẽ. Tuy nhiên, Sở nghi ngờ bữa ăn ngày 7/4 có vấn đề. Hôm đó, học ăn gà kho gừng, canh bắp cải nấu thịt, dưa leo xào, mận; bữa xế có bánh flan.
Hiệu trường cho hay trường dùng suất ăn công nghiệp, giá 37.000 đồng gồm ăn trưa và bữa xế.
Cách đây 7 - 8 năm, các trường ĐH công lập từng "đau đầu" vì giảng viên (GV) giỏi có xu hướng nghỉ việc để "chạy" sang trường tư thục. Thời điểm đó, trường ĐH tư trả lương hấp dẫn, cơ chế thông thoáng, môi trường làm việc năng động, cơ hội thăng tiến rõ ràng.
Tuy nhiên, thực tế đang đổi chiều. Trong bối cảnh các trường đang cần đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục ĐH và mở rộng quy mô hoặc hướng tới mục tiêu xếp hạng quốc tế, việc tuyển dụng GV trình độ tiến sĩ trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Nếu hôm nay một trường ĐH đưa ra chính sách thu hút bằng chế độ lương và phúc lợi hấp dẫn thì hôm sau, một trường khác đưa ra chính sách cao hơn. Trong đó, nhiều trường ĐH công lập với những lợi thế sẵn có nên đã thu hút nhiều GV từ trường tư thục.
Trưởng khoa của một trường ĐH tư thục cũng đang rất lo lắng vì một số nhân sự của khoa quyết định nghỉ việc để đầu quân vào trường ĐH công lập với lý do muốn thay đổi môi trường làm việc và tìm kiếm cơ hội phát triển tốt hơn, mặc dù thu nhập và môi trường làm việc tại trường này khá ổn.
PGS-TS Bùi Quang Hùng, Phó giám đốc ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH), cho biết: "Thời gian qua, UEH cũng đã tiếp nhận và đánh giá nhiều hồ sơ ứng viên là các tiến sĩ đang công tác tại các trường ĐH tư thục. Sự dịch chuyển nhân sự này là hoàn toàn bình thường trong một thị trường lao động học thuật năng động. Thực tế cho thấy, có không ít tiến sĩ từ các trường tư thục đã đáp ứng xuất sắc các yêu cầu khắt khe của UEH và hiện đang công tác hiệu quả tại trường".
Theo ông Hùng, bất kể ứng viên đến từ đâu, tất cả đều phải trải qua quy trình tuyển dụng minh bạch và nghiêm ngặt của Hội đồng tuyển dụng UEH, bao gồm: đánh giá hồ sơ khoa học, giảng thử (thường bằng tiếng Anh) và phỏng vấn chuyên môn sâu. "Nếu ứng viên chứng minh được năng lực toàn diện, phù hợp với tầm nhìn và giá trị cốt lõi của UEH, nhà trường luôn trải thảm đỏ chào đón", PGS-TS Hùng cho hay.
PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cũng thông tin từ năm 2025 đến nay, trường đã tuyển mới khoảng 60 GV, tập trung ở các lĩnh vực mũi nhọn và ngành đào tạo có nhu cầu cao. Trong số này, có hơn 30 GV có kinh nghiệm từ các trường tư, hơn 20 GV được đào tạo ở nước ngoài đã trở về công tác.
Tại Trường ĐH Công thương TP.HCM, riêng năm 2025 trường đã thu hút 3 phó giáo sư (PGS) và 31 tiến sĩ. Từ đầu năm 2026 đến nay đã có 7 tiến sĩ; trong đó có 12 GV từ trường ĐH tư thục và 5 tiến sĩ từ nước ngoài về.
Nhận định về vấn đề này, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, cho biết: "Nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục ĐH đang trở nên khan hiếm do đào tạo tiến sĩ đang siết chặt. Trong khi đó nhu cầu tuyển dụng của các trường ĐH tăng mạnh. Cầu vượt cung dẫn đến sự cạnh tranh vô cùng gay gắt".
Thời gian qua, Trường ĐH Công thương TP.HCM thực hiện các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, cán bộ, GV có học vị tiến sĩ khi về công tác tại trường, ngoài việc được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách như đội ngũ hiện có, còn được hỗ trợ ban đầu thêm 100 triệu đồng đối với tiến sĩ; 150 triệu đồng đối với PGS và 200 triệu đồng đối với giáo sư (GS). GV có học hàm PGS trở lên có thu nhập cứng hằng tháng gần 60 triệu đồng, tiến sĩ khoảng 35 - 40 triệu đồng chưa kể các khoản thù lao, phụ cấp...
Từ năm 2022, thu nhập bình quân của PGS tại Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM là hơn 60 triệu đồng/tháng, tiến sĩ hơn 30 triệu đồng/tháng; thậm chí một số người thu nhập gấp 3 - 5 lần tùy vào vị trí, thâm niên...
Còn ĐH Kinh tế TP.HCM vào tháng 3.2026 chính thức công bố gói chính sách đãi ngộ toàn diện. Cụ thể, ứng viên trình độ tiến sĩ khi chính thức trở thành viên chức/GV của UEH sẽ được nhận mức hỗ trợ ban đầu 150 triệu đồng/người, PGS là 300 triệu và GS là 500 triệu đồng. Ngoài ra, thu nhập hằng tháng được đảm bảo ở mức độ cạnh tranh rất cao trên thị trường. Được biết GV của ĐH này làm việc từ năm thứ 3 trở đi, mức thu nhập của tiến sĩ khoảng 35 - 40 triệu đồng/tháng, PGS 55 - 60 triệu đồng/tháng, GS từ 65 - 70 triệu đồng/tháng.
Với ĐH Quốc gia TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế - luật hỗ trợ 150 triệu đồng đối với nhân sự không quá 45 tuổi có học vị tiến sĩ; 250 triệu đồng đối với nhân sự không quá 50 tuổi có học hàm PGS và 350 triệu đồng đối với nhân sự không quá 50 tuổi có học hàm GS và cam kết làm việc tại trường tối thiểu 5 năm. Thu nhập của GV là tiến sĩ tại trường từ 28 - 45 triệu đồng/tháng; PGS từ 53 - 65 triệu đồng/tháng và GS từ 65 - 75 triệu đồng/tháng.
Tiến sĩ có thời gian làm việc dưới 3 năm tại Trường ĐH Bách khoa có mức lương tham khảo khoảng 35 triệu đồng/tháng, trên 3 năm là 45 triệu đồng/tháng, PGS và GS khoảng 85 triệu đồng/tháng.
Với Trường ĐH Công nghệ thông tin, mức lương theo vị trí việc làm 21 triệu đồng/tháng/tiến sĩ, thu nhập trung bình 45 triệu đồng/tháng, được hỗ trợ bài báo khoa học thuộc danh mục ISI/Scopus tối đa 200 triệu đồng/bài, hỗ trợ kinh phí khi đạt GS là 100 triệu đồng, PGS là 70 triệu đồng, được hỗ trợ sắp xếp ở nhà công vụ...
Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM cũng triển khai nhiều chính sách ưu tiên để thu hút GV là tiến sĩ trở lên, bao gồm hỗ trợ ban đầu khi nhận công tác, đặc biệt với các tiến sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài; xây dựng cơ chế thu nhập cạnh tranh gắn với hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu…
Về xu hướng GV từ trường tư chuyển về trường công, PGS-TS Phan Hồng Hải cho rằng đây là một diễn biến đáng chú ý nhưng không mang tính tuyệt đối. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, sự dịch chuyển nhân lực giữa các khu vực là bình thường, phản ánh quá trình cạnh tranh lành mạnh của hệ thống giáo dục ĐH.
"GV từ trường tư sang trường công, nguyên nhân không chỉ nằm ở yếu tố thu nhập mà còn liên quan đến môi trường học thuật và cơ hội nghiên cứu ổn định hơn tại các trường công lập lớn, uy tín học thuật và thương hiệu của nhà trường, cũng như điều kiện phát triển nghề nghiệp dài hạn; đồng thời, cơ chế tự chủ đang giúp các trường công ngày càng linh hoạt, tiệm cận cơ chế thị trường. Mặt bằng thu nhập giữa khu vực công và tư đang dần thu hẹp. Điều quan trọng là mỗi cơ sở đào tạo phải xây dựng được giá trị riêng và môi trường đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân người tài", ông Hải nhận định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn cũng cho rằng trường xác định rất rõ chính sách tài chính chỉ là một phần. "Để giữ chân người tài một cách lâu dài vẫn là môi trường học thuật, cơ hội phát triển, cơ chế trọng dụng và sự ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp thực chất. Thu nhập cao nhưng phải được thiết kế theo hiệu quả và lộ trình nghề nghiệp dài hạn, hướng tới việc gắn kết các nhân sự chiến lược bằng cơ chế bền vững, minh bạch và tạo động lực", PGS-TS Xuân Hoàn chia sẻ.
Có thể nói, bên cạnh thu nhập hấp dẫn, một môi trường học thuật tự do, sáng tạo và minh bạch là nơi mà bất cứ GV nào cũng mong muốn, dù là trường công hay tư.