Cách đây 7 – 8 năm, các trường ĐH công lập từng “đau đầu” vì giảng viên (GV) giỏi có xu hướng nghỉ việc để “chạy” sang trường tư thục. Thời điểm đó, trường ĐH tư trả lương hấp dẫn, cơ chế thông thoáng, môi trường làm việc năng động, cơ hội thăng tiến rõ ràng.
Tuy nhiên, thực tế đang đổi chiều. Trong bối cảnh các trường đang cần đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục ĐH và mở rộng quy mô hoặc hướng tới mục tiêu xếp hạng quốc tế, việc tuyển dụng GV trình độ tiến sĩ trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Nếu hôm nay một trường ĐH đưa ra chính sách thu hút bằng chế độ lương và phúc lợi hấp dẫn thì hôm sau, một trường khác đưa ra chính sách cao hơn. Trong đó, nhiều trường ĐH công lập với những lợi thế sẵn có nên đã thu hút nhiều GV từ trường tư thục.
Trưởng khoa của một trường ĐH tư thục cũng đang rất lo lắng vì một số nhân sự của khoa quyết định nghỉ việc để đầu quân vào trường ĐH công lập với lý do muốn thay đổi môi trường làm việc và tìm kiếm cơ hội phát triển tốt hơn, mặc dù thu nhập và môi trường làm việc tại trường này khá ổn.
PGS-TS Bùi Quang Hùng, Phó giám đốc ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH), cho biết: “Thời gian qua, UEH cũng đã tiếp nhận và đánh giá nhiều hồ sơ ứng viên là các tiến sĩ đang công tác tại các trường ĐH tư thục. Sự dịch chuyển nhân sự này là hoàn toàn bình thường trong một thị trường lao động học thuật năng động. Thực tế cho thấy, có không ít tiến sĩ từ các trường tư thục đã đáp ứng xuất sắc các yêu cầu khắt khe của UEH và hiện đang công tác hiệu quả tại trường”.
Theo ông Hùng, bất kể ứng viên đến từ đâu, tất cả đều phải trải qua quy trình tuyển dụng minh bạch và nghiêm ngặt của Hội đồng tuyển dụng UEH, bao gồm: đánh giá hồ sơ khoa học, giảng thử (thường bằng tiếng Anh) và phỏng vấn chuyên môn sâu. “Nếu ứng viên chứng minh được năng lực toàn diện, phù hợp với tầm nhìn và giá trị cốt lõi của UEH, nhà trường luôn trải thảm đỏ chào đón”, PGS-TS Hùng cho hay.
PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cũng thông tin từ năm 2025 đến nay, trường đã tuyển mới khoảng 60 GV, tập trung ở các lĩnh vực mũi nhọn và ngành đào tạo có nhu cầu cao. Trong số này, có hơn 30 GV có kinh nghiệm từ các trường tư, hơn 20 GV được đào tạo ở nước ngoài đã trở về công tác.
Tại Trường ĐH Công thương TP.HCM, riêng năm 2025 trường đã thu hút 3 phó giáo sư (PGS) và 31 tiến sĩ. Từ đầu năm 2026 đến nay đã có 7 tiến sĩ; trong đó có 12 GV từ trường ĐH tư thục và 5 tiến sĩ từ nước ngoài về.
Nhận định về vấn đề này, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, cho biết: “Nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục ĐH đang trở nên khan hiếm do đào tạo tiến sĩ đang siết chặt. Trong khi đó nhu cầu tuyển dụng của các trường ĐH tăng mạnh. Cầu vượt cung dẫn đến sự cạnh tranh vô cùng gay gắt”.
Thời gian qua, Trường ĐH Công thương TP.HCM thực hiện các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, cán bộ, GV có học vị tiến sĩ khi về công tác tại trường, ngoài việc được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách như đội ngũ hiện có, còn được hỗ trợ ban đầu thêm 100 triệu đồng đối với tiến sĩ; 150 triệu đồng đối với PGS và 200 triệu đồng đối với giáo sư (GS). GV có học hàm PGS trở lên có thu nhập cứng hằng tháng gần 60 triệu đồng, tiến sĩ khoảng 35 – 40 triệu đồng chưa kể các khoản thù lao, phụ cấp…
Từ năm 2022, thu nhập bình quân của PGS tại Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM là hơn 60 triệu đồng/tháng, tiến sĩ hơn 30 triệu đồng/tháng; thậm chí một số người thu nhập gấp 3 – 5 lần tùy vào vị trí, thâm niên…
Còn ĐH Kinh tế TP.HCM vào tháng 3.2026 chính thức công bố gói chính sách đãi ngộ toàn diện. Cụ thể, ứng viên trình độ tiến sĩ khi chính thức trở thành viên chức/GV của UEH sẽ được nhận mức hỗ trợ ban đầu 150 triệu đồng/người, PGS là 300 triệu và GS là 500 triệu đồng. Ngoài ra, thu nhập hằng tháng được đảm bảo ở mức độ cạnh tranh rất cao trên thị trường. Được biết GV của ĐH này làm việc từ năm thứ 3 trở đi, mức thu nhập của tiến sĩ khoảng 35 – 40 triệu đồng/tháng, PGS 55 – 60 triệu đồng/tháng, GS từ 65 – 70 triệu đồng/tháng.
Với ĐH Quốc gia TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế – luật hỗ trợ 150 triệu đồng đối với nhân sự không quá 45 tuổi có học vị tiến sĩ; 250 triệu đồng đối với nhân sự không quá 50 tuổi có học hàm PGS và 350 triệu đồng đối với nhân sự không quá 50 tuổi có học hàm GS và cam kết làm việc tại trường tối thiểu 5 năm. Thu nhập của GV là tiến sĩ tại trường từ 28 – 45 triệu đồng/tháng; PGS từ 53 – 65 triệu đồng/tháng và GS từ 65 – 75 triệu đồng/tháng.
Tiến sĩ có thời gian làm việc dưới 3 năm tại Trường ĐH Bách khoa có mức lương tham khảo khoảng 35 triệu đồng/tháng, trên 3 năm là 45 triệu đồng/tháng, PGS và GS khoảng 85 triệu đồng/tháng.
Với Trường ĐH Công nghệ thông tin, mức lương theo vị trí việc làm 21 triệu đồng/tháng/tiến sĩ, thu nhập trung bình 45 triệu đồng/tháng, được hỗ trợ bài báo khoa học thuộc danh mục ISI/Scopus tối đa 200 triệu đồng/bài, hỗ trợ kinh phí khi đạt GS là 100 triệu đồng, PGS là 70 triệu đồng, được hỗ trợ sắp xếp ở nhà công vụ…
Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM cũng triển khai nhiều chính sách ưu tiên để thu hút GV là tiến sĩ trở lên, bao gồm hỗ trợ ban đầu khi nhận công tác, đặc biệt với các tiến sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài; xây dựng cơ chế thu nhập cạnh tranh gắn với hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu…
Về xu hướng GV từ trường tư chuyển về trường công, PGS-TS Phan Hồng Hải cho rằng đây là một diễn biến đáng chú ý nhưng không mang tính tuyệt đối. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, sự dịch chuyển nhân lực giữa các khu vực là bình thường, phản ánh quá trình cạnh tranh lành mạnh của hệ thống giáo dục ĐH.
“GV từ trường tư sang trường công, nguyên nhân không chỉ nằm ở yếu tố thu nhập mà còn liên quan đến môi trường học thuật và cơ hội nghiên cứu ổn định hơn tại các trường công lập lớn, uy tín học thuật và thương hiệu của nhà trường, cũng như điều kiện phát triển nghề nghiệp dài hạn; đồng thời, cơ chế tự chủ đang giúp các trường công ngày càng linh hoạt, tiệm cận cơ chế thị trường. Mặt bằng thu nhập giữa khu vực công và tư đang dần thu hẹp. Điều quan trọng là mỗi cơ sở đào tạo phải xây dựng được giá trị riêng và môi trường đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân người tài”, ông Hải nhận định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn cũng cho rằng trường xác định rất rõ chính sách tài chính chỉ là một phần. “Để giữ chân người tài một cách lâu dài vẫn là môi trường học thuật, cơ hội phát triển, cơ chế trọng dụng và sự ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp thực chất. Thu nhập cao nhưng phải được thiết kế theo hiệu quả và lộ trình nghề nghiệp dài hạn, hướng tới việc gắn kết các nhân sự chiến lược bằng cơ chế bền vững, minh bạch và tạo động lực”, PGS-TS Xuân Hoàn chia sẻ.
Có thể nói, bên cạnh thu nhập hấp dẫn, một môi trường học thuật tự do, sáng tạo và minh bạch là nơi mà bất cứ GV nào cũng mong muốn, dù là trường công hay tư.
Ngày 12.4, trên mạng xã hội lan truyền đoạn clip ghi lại cảnh một nữ sinh bị nhiều nam sinh đánh liên tiếp trước cổng Trường THCS Bình Thuận (thuộc xã Vạn Tường, Quảng Ngãi).
Trong clip, nạn nhân gần như không thể chống cự, liên tục bị đấm, đá khiến nhiều người chứng kiến bức xúc. Một người đàn ông tuổi trung niên đứng ra can ngăn nhưng bất lực, các nam sinh vẫn lao vào đánh tới tấp nữ sinh.
Theo xác minh ban đầu, nạn nhân là em D.T.K (tên học sinh đã được thay đổi), lớp 7A, Trường THCS Bình Thuận.
Trao đổi với PV Thanh Niên, bà Lê Thị Tiển (dì ruột của em K., ở xã Vạn Tường) cho biết, khoảng trưa 11.4, sau khi kết thúc buổi thi giữa học kỳ, em K. ra cổng trường thì xảy ra mâu thuẫn với một nữ sinh tên T. (lớp 7C cùng trường).
Sau đó, T. gọi anh trai đang học lớp 9A cùng 2 nam sinh khác đến, rồi nhóm này lao vào đánh em K. tới tấp. "Cháu tôi bị đánh liên tục, không kịp phản ứng, dẫn đến bị thương khá nặng", bà Tiển kể.
Ngay sau vụ việc, gia đình đã đưa em K. đến Bệnh viện Trung ương Quảng Nam (TP.Đà Nẵng) để kiểm tra, điều trị. Theo người nhà, hiện em K. bị đau toàn thân, mắt bầm tím, môi dập, không thể ăn uống bình thường, tinh thần hoảng loạn, nôn ói.
"Gia đình dự kiến sẽ tiếp tục đưa cháu ra Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng để thăm khám kỹ hơn. Chúng tôi mong cơ quan chức năng sớm làm rõ, xử lý đúng người, đúng hành vi để răn đe", bà Tiển nói thêm.
Cũng trong ngày 11.4, gia đình em K. đã trình báo vụ việc với chính quyền địa phương và nhà trường.
Gia đình em K. cho biết, hiện cơ quan công an xã Vạn Tường đã làm việc với các học sinh liên quan, lấy lời khai để xác minh nguyên nhân, làm rõ hành vi đánh người gây thương tích.
Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.
Chiều 17-4, tại hội nghị phát triển các chương trình tiếng Anh thực nghiệm theo định hướng STEM/STEAM do một trung tâm ngoại ngữ tổ chức, ông Nguyễn Bảo Quốc - phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM - đã chia sẻ một câu chuyện thực tế từ gia đình.
Theo đó, học sinh (là người thân của ông) được giáo viên giao nhiệm vụ về nhà thực hiện một sản phẩm STEM. Tuy nhiên, đề bài chỉ dừng ở yêu cầu chung chung là tìm kiếm thông tin trên mạng, mà không có hướng dẫn cụ thể từng bước thực hiện.
"Thầy cô chỉ giao chung chung là lên mạng tìm kiếm mà thiếu sự hướng dẫn học sinh bước 1 phải làm gì, bước 2 phải làm gì. Trong khi học sinh lên mạng thì gặp quá nhiều thông tin và phương pháp thực hiện khác nhau, mỗi nơi hướng dẫn một kiểu", ông Quốc kể.
Việc thiếu chỉ dẫn cụ thể khiến học sinh lúng túng, đồng thời phụ huynh phải cùng tham gia hỗ trợ để hoàn thành bài tập.
Thông qua câu chuyện này, ông Quốc cho rằng đây không phải trường hợp cá biệt, mà phản ánh thực tế một bộ phận giáo viên hiện nay chưa thật sự nhuần nhuyễn trong triển khai giáo dục STEM/STEAM.
Theo ông, giáo dục STEM không nên chỉ dừng ở việc giao sản phẩm cho học sinh, mà cần có hướng dẫn rõ ràng, từng bước, để học sinh có thể tự trải nghiệm, tiếp thu kiến thức và phát triển năng lực.
Ông nhấn mạnh, việc dạy học cần hướng tới quá trình hình thành năng lực thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng, qua đó giúp học sinh phát triển toàn diện hơn.
Ông cũng đưa ra một số giải pháp nhằm triển khai giáo dục STEM/STEAM hiệu quả hơn. Bên cạnh việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, ông Nguyễn Bảo Quốc cho rằng cần đồng thời đổi mới phương pháp dạy học và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ.
Trong đó, ông nhấn mạnh việc tích cực đưa các nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI) và khung năng lực số vào chương trình giảng dạy, nhằm giúp học sinh thích ứng tốt hơn với yêu cầu của thời đại số.
"Việc dạy học không nên chỉ hướng vào kết quả cuối cùng là bằng cấp hay chứng chỉ mà là phát triển năng lực học sinh", ông nói.
Theo ông Quốc, quan trọng hơn cả là phải đánh giá được sự phát triển toàn diện của từng học sinh, xem các em đã chuyển hóa kiến thức, kỹ năng thành năng lực thực tế như thế nào.