Cuối tuần trước, khi bế con qua lối ưu tiên tại sân bay Phú Quốc, anh Trung Hiếu, 37 tuổi, đi qua dễ dàng. Nhưng bạn đời Romario, 29 tuổi, bị chặn lại. Dù anh Hiếu giải thích “bé có hai người cha”, nhân viên an ninh vẫn yêu cầu Romario đi lối khác.
Đây là một trong những tình huống khiến Romario chịu cảnh “người ngoài” trong gia đình. Cùng thực hiện thụ tinh ống nghiệm tại Mỹ và nuôi dưỡng con, nhưng trên giấy khai sinh em bé chỉ có tên một người cha là anh Hiếu.
Tháng 8 tới, người con thứ hai chào đời sẽ do Romario đứng tên khai sinh. Lúc đó, anh Hiếu sẽ trở thành người không có quan hệ pháp lý với con mình.
Tại phiên thảo luận dự thảo Luật Hộ tịch sửa đổi hôm 11/4, Đại biểu Quốc hội Dương Minh Ánh (đoàn Hà Nội) đề xuất thay đổi tình trạng này. Bà Ánh nói nhiều trẻ em đang được sinh ra, nuôi dưỡng bởi các cặp cùng giới. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chỉ cho phép ghi nhận một người trên giấy khai sinh, khiến trẻ em có một “gia đình thực tế” nhưng khuyết “gia đình pháp lý”.
Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và UNDP, Việt Nam hiện có khoảng 1,65 triệu đến gần 3 triệu người thuộc cộng đồng LGBT. Khảo sát cho thấy hơn 60% có nhu cầu sinh con và kết hôn, trong đó gần 5% các cặp sống chung cùng giới đang nuôi con.
Pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước tiến để xóa bỏ định kiến với cộng đồng LGBT, như việc bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới năm 2014 hay Bộ Y tế khẳng định “đồng tính không phải là bệnh” năm 2022.
Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành chưa thừa nhận hôn nhân cùng giới. Điều này tạo ra khoảng trống trong Luật Hộ tịch, khiến quyền đại diện pháp lý, y tế và thừa kế của trẻ em trong các gia đình này bị hạn chế.
Tại TP HCM, anh Lê Minh Quốc, 34 tuổi và bạn đời Trương Ngọc Huy thống nhất để một mình anh Quốc đứng tên trên giấy khai sinh của ba người con (từ 2 đến 5 tuổi). Sự lựa chọn này đảm bảo các bé là anh em ruột hợp pháp, thuận tiện khi nhập học. Cũng vì thế mà anh Huy không có quyền pháp lý với các con.
“Nếu học trường công lập, anh Huy không có tư cách đi họp phụ huynh. Khi đi du lịch, tôi luôn phải đi cạnh các con để qua cửa hải quan”, anh Quốc kể.
Trường hợp khác, anh Hoàng Linh, một người chuyển giới nam ở Hà Nội, không có tên trên giấy khai sinh của con gái 4 tuổi. Vợ anh là người duy nhất đứng tên. Anh không có thẩm quyền giải quyết các thủ tục hành chính cho bé. Có lần con nhập viện, dù là người trực tiếp đưa đi khám, Linh không được phép ký giấy cam kết điều trị. Anh phải gọi vợ đến bệnh viện để hoàn tất thủ tục.
Nỗi lo về sự an toàn của trẻ khi gia đình xảy ra biến cố cũng là vấn đề lớn. Anh Trung Hiếu cho biết nếu bản thân gặp bất trắc, người con đầu lòng sẽ không còn người giám hộ hợp pháp nào.
Tương tự, gia đình anh Lê Minh Quốc phải lập di chúc sớm và thỏa thuận dồn tài sản cho người đứng tên trên giấy khai sinh. Nguyên nhân là nếu anh Quốc qua đời, tài sản sẽ được chuyển về gia đình nội ngoại theo luật định thay vì chuyển cho bạn đời để tiếp tục nuôi con. Ngược lại, nếu anh Huy gặp rủi ro, tài sản của anh không thể chuyển cho ba đứa trẻ do không có ràng buộc huyết thống hay con nuôi hợp pháp.
Để giải quyết vấn đề này, đại biểu Dương Minh Ánh kiến nghị bổ sung ba nội dung vào dự thảo luật. Thứ nhất, ghi nhận đầy đủ cha, mẹ cùng giới trên khai sinh dựa theo quan hệ pháp lý, không phụ thuộc giới tính. Thứ hai, xây dựng cơ chế công nhận quyền như cha mẹ cho người không cùng huyết thống nhưng thực tế có chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ổn định, lâu dài. Thứ ba, nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới trong đăng ký hộ tịch nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ.
Thạc sĩ luật Lương Thế Huy, chuyên gia chính sách về giới, đánh giá đề xuất trên phù hợp với thực tế. Ông Huy dẫn chứng các trường hợp nhận con nuôi, hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng/phôi hiến tặng, mang thai hộ cho thấy cha mẹ hợp pháp trên giấy tờ không phải lúc nào cũng cùng huyết thống.
Trước những ý kiến cho rằng đề xuất này là bước đệm công nhận hôn nhân cùng giới, ông Huy phân tích việc ghi nhận cha mẹ trên giấy khai sinh nhằm bảo vệ tư cách pháp lý của trẻ, còn công nhận hôn nhân là tư cách pháp lý của người lớn. Theo chuyên gia, đề xuất này tuân thủ Khoản 4, Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quy định không phân biệt đối xử với con theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ.
Để chính sách khả thi, ông Huy kiến nghị cần xác lập tiêu chí cha mẹ rõ ràng, đồng bộ hóa với luật y tế, giáo dục, thừa kế, đồng thời xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp quyền giám hộ nếu gia đình đổ vỡ.
Trở lại câu chuyện của những phụ huynh đang “vô hình” trên giấy tờ, anh Hiếu mong mỏi sự đa dạng gia đình sớm được ghi nhận đồng bộ, nhất là trong môi trường giáo dục. Khi nhà trường chấp nhận hai người cha hoặc hai người mẹ trên hồ sơ học sinh hay trong các cuộc họp phụ huynh, trẻ sẽ được sống với tâm lý lành mạnh và tự tin về tổ ấm của mình.
“Luật pháp chính là công cụ giáo dục và định hướng dư luận mạnh mẽ nhất. Khi luật pháp công bằng, thái độ của xã hội đối với sự đa dạng sẽ tự khắc trở nên bao dung hơn”, anh nói.
Bài viết Đi làm cả ngày, tối nằm vật rồi lại ngày mới: Tuổi trẻ liệu có lãng phí? nhận về nhiều tranh luận của bạn đọc.
Guồng quay bận rộn là giai đoạn tự nhiên giúp ta rèn kỷ luật, tích lũy kinh nghiệm và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình. Nếu sự bận rộn ấy tạo ra giá trị và giúp ta tiến bộ mỗi ngày, thì mọi vất vả đều hoàn toàn xứng đáng.
Bạn đọc Lan Phương nói không hẳn là “lãng phí tuổi trẻ”, đây là giai đoạn rất bình thường của người mới đi làm.
“Nhịp sống đó rèn kỷ luật và tích lũy kinh nghiệm, thứ mà sau này muốn cũng không dễ có. Nhưng nếu kéo dài quá lâu mà không có mục tiêu rõ ràng thì đúng là dễ rơi vào cảm giác trống rỗng”, Phương bày tỏ.
Bạn đọc L.A.T. kể đã nghỉ hưu, nhìn lại thời thanh niên lao đầu vào công việc như bạn trẻ trong bài viết thấy không hối tiếc. Để được nghỉ hưu thảnh thơi phải làm việc cật lực, phải có đam mê công việc, lấy niềm vui từ công việc, từ việc kiếm tiền lo cho bản thân, cha mẹ già, con cái học hành chu đáo, đến việc thăng tiến trong công việc sẽ có đầy niềm vui trong cuộc sống, để khi về già ta không nuối tiếc.
“Giờ mới trẻ đã chỉ nghĩ ăn chơi, nhàn nhã, chỉ cần sau tuổi 40 sẽ thấy ngay sự nuối tiếc, dằn vặt trong tự bản thân khi thấy xung quanh ta, bạn bè cùng trang lứa hơn mình nhiều lần (mặc dù 10-20 năm trước họ còn thua kém xa mình)... Lúc đó sẽ cảm nhận rõ sự nuối tiếc một thời tuổi trẻ”, bạn đọc này bày tỏ.
Chung quan điểm, bạn đọc Linh cho rằng nhiều người đang phải nỗ lực để kiếm tiền, lo cho gia đình, đó cũng là một cách sống có trách nhiệm. Bạn đọc Phú thẳng thắn nói cùng một guồng quay nhưng người này thấy bế tắc, người khác lại thấy có động lực. Vấn đề nằm ở cách nhìn, không chỉ ở hoàn cảnh.
Còn bạn đọc Tín Phanh kể 23 tuổi, sáng cố vượt kẹt xe đi làm, tối về ăn xong là ngủ gục, lúc đó cậu cũng nghĩ đời mình sao nhạt vậy. Nhưng 2 năm sau nhìn lại, chính quãng đó cho mình kỹ năng, tiền bạc và sự lì đòn mà mấy thứ “trải nghiệm màu mè” không cho được.
Bạn đọc An Long Đặng nói không ai trả lời giùm được câu “tuổi trẻ liệu có lãng phí” ngoài chính bạn. Nhưng nếu bạn đã bắt đầu tự hỏi “mình có đang lãng phí không”, đó thường là dấu hiệu bên trong bạn đang muốn thay đổi.
“Nếu công việc mang lại giá trị, giúp học hỏi và tiến bộ thì guồng quay bận rộn là xứng đáng. Còn nếu chỉ làm để “tồn tại”, không học được gì thì đúng là nên xem lại”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc Uyên cho rằng điều nguy hiểm không phải là bận rộn, mà là bận rộn nhưng không biết mình đang đi đâu, làm nhiều mà không tiến lên. Trong khi đó, bạn đọc Lan chia sẻ rằng nếu mỗi ngày trôi qua giống hệt nhau, thiếu trải nghiệm và sự phát triển, con người chỉ đang tồn tại chứ chưa thực sự sống.
Bạn đọc Hoa cho rằng nhiều người trẻ đang đánh đổi sức khỏe và thời gian cá nhân để giữ công việc, nhưng lại chưa chắc đạt được thứ mình thật sự muốn.
Bạn đọc Anh 7 thẳng thắn nhìn nhận thứ nguy hiểm nhất không phải là bận, mà quen với sự bận rộn vô nghĩa, thiệt đó. Một lúc nào đó bạn sẽ nhận ra 25, 26 tuổi rồi mà mọi thứ vẫn y chang 23, chán lắm.
“Mình từng nghĩ “đợi đỡ mệt rồi sẽ học thêm, sẽ thay đổi”, nhưng sự thật là nếu không chủ động cắt bớt hoặc điều chỉnh, bạn sẽ không bao giờ đỡ mệt cả”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc Lão gàn nhấn mạnh nếu không cố gắng phấn đấu, thì 10 năm nữa, ăn mày cũng không đến lượt. Những người mà chỉ thấy nhàm chán, là những người không có khả năng tư duy, không biết giao tiếp và trước đó là ở nhà, nhưng không phải làm gì, không biết làm việc gì. Gieo gì gặt đó thôi.
Còn bạn đọc Trần Minh kể đã 39 tuổi. Anh làm việc từ 8 - 17h liên tục, đi học thêm văn bằng 2 từ 17h30 - 20h30. Về nhà ăn cơm, vệ sinh, học thêm tiếng Anh từ 22 - 23h. Lúc nào cũng cảm thấy thiếu thời gian để bổ sung thêm kiến thức.
Với bạn đọc nguy****@gmail.com nói thẳng "trẻ không chơi, già đổ đốn".
“Tôi chỉ cảm thấy tôi đã quá lãng phí vì "không đủ thời gian dành cho con, cho cha mẹ, cho gia đình". Đến khi muốn lãng phí thì không làm được”, bạn đọc này chia sẻ.
Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD) đã từng bước hoàn thiện pháp luật tiệm cận chuẩn mực quốc tế, với nền tảng là Luật Người khuyết tật 2010 và Hiến pháp 2013, qua đó xác lập nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử và bảo đảm quyền tiếp cận trong các lĩnh vực cơ bản.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa luật và thực thi vẫn còn lớn, đòi hỏi tiếp tục cải cách.
Pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ người khuyết tật trước các hành vi xâm phạm. Hệ thống trợ giúp xã hội được mở rộng đáng kể, bao gồm trợ cấp hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ giáo dục thông qua miễn giảm học phí, học bổng.
Bên cạnh đó, giáo dục hòa nhập được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp ngày càng nhiều trẻ khuyết tật có cơ hội học tập trong môi trường phổ thông. Ngoài ra các quy định về tiếp cận hạ tầng và dịch vụ công, đặc biệt trong môi trường số, đã bắt đầu được triển khai.
Những thành tựu này là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập khung chính sách và thể chế. Tuy nhiên phần lớn các kết quả vẫn dừng ở mức định hình chính sách, trong khi việc triển khai trên thực tế chưa đồng bộ. Nhiều công trình công cộng chưa bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận, nguồn lực dành cho giáo dục hòa nhập còn hạn chế.
Bên cạnh các thành tựu, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể.
Trước hết, cơ chế giám sát và chế tài còn yếu dẫn đến tình trạng nhiều quy định về tiếp cận công trình công cộng không được thực hiện đầy đủ, những tòa nhà thiếu đường dốc, thang máy hoặc hệ thống chỉ dẫn phù hợp. Điều này làm cho pháp luật có nguy cơ trở thành "luật trên giấy".
Thứ hai, các cơ quan và doanh nghiệp chưa có nghĩa vụ rõ ràng trong việc điều chỉnh môi trường làm việc, học tập hoặc dịch vụ để phù hợp với người khuyết tật. Thứ ba, chính sách hiện nay vẫn thiên về trợ cấp hơn là phát triển năng lực; các hỗ trợ về đào tạo nghề, khởi nghiệp và tiếp cận tín dụng còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc.
Thứ tư, sự thiếu liên kết liên ngành giữa giáo dục, y tế và lao động khiến quá trình hỗ trợ bị gián đoạn. Ví dụ, người khuyết tật có thể được học hòa nhập nhưng sau khi tốt nghiệp lại gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm.
Cuối cùng, định kiến xã hội vẫn là rào cản lớn khi nhiều người khuyết tật bị đánh giá thấp năng lực và bị hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động. Những hạn chế này cho thấy pháp luật Việt Nam hướng tới đảm bảo và tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật song sự công bằng thực chất vẫn chưa đạt được.
Cần luật hóa rõ ràng yêu cầu các cơ quan và doanh nghiệp chủ động điều chỉnh môi trường làm việc, học tập và dịch vụ (ví dụ: phần mềm đọc màn hình, bàn ghế chuyên dụng). Đồng thời bảo đảm các công trình và sản phẩm được thiết kế để tất cả mọi người đều có thể sử dụng ngay từ đầu.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát độc lập và chế tài đủ mạnh nhằm xử lý hiệu quả các vi phạm. Đây là điều kiện then chốt để chuyển từ "có quyền trên giấy" sang "có khả năng thực hiện quyền".
Phát triển hạ tầng và khả năng tiếp cận, luật hóa tiêu chuẩn bắt buộc, tăng cường kiểm tra và áp dụng chế tài nghiêm minh. Đồng thời cần mở rộng khả năng tiếp cận trong môi trường số, bảo đảm các nền tảng như dịch vụ công trực tuyến, ngân hàng và giáo dục trực tuyến đều thân thiện với người khuyết tật.
Về công nghệ hỗ trợ, Nhà nước cần có chính sách trợ giá thiết bị hỗ trợ như xe lăn điện, máy trợ thính, phần mềm đọc màn hình. Cần khuyến khích phát triển công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ tiếp cận thông tin.
Việc tích hợp công nghệ vào giáo dục và việc làm cũng giúp người khuyết tật nâng cao khả năng tự chủ, giảm phụ thuộc vào trợ cấp.
Về hoàn thiện an sinh xã hội, cần điều chỉnh mức trợ cấp phù hợp với chi phí sống và "chi phí khuyết tật", mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế sang phục hồi chức năng và thiết bị hỗ trợ, cả phát triển nhà ở xã hội theo hướng tiếp cận. Điều này giúp chuyển từ bảo đảm tối thiểu sang tạo nền tảng phát triển năng lực.
Cần có chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, xây dựng quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới đào tạo nghề theo hướng gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ số. Những giải pháp này còn nâng cao phẩm giá và vị thế xã hội của người khuyết tật.
Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế chống phân biệt đối xử thông qua việc bổ sung các chế tài cụ thể đối với hành vi kỳ thị. Tập trung đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức xã hội theo hướng tôn trọng và ghi nhận năng lực của người khuyết tật. Tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách, phát triển công tác xã hội chuyên nghiệp...
Trên thế giới, xu hướng tiếp cận người khuyết tật thay đổi rõ rệt: từ trợ giúp sang trao quyền, từ chăm sóc sang tạo cơ hội.
Một thay đổi quan trọng nhất trên thế giới là cách nhìn nhận về người khuyết tật. Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD), họ không còn là "đối tượng thụ hưởng", mà là chủ thể có quyền, với quyền tiếp cận bình đẳng trong mọi lĩnh vực.
Ở Thụy Điển, nguyên tắc rất rõ ràng: xã hội phải thích ứng với con người. Điều này thể hiện qua việc mọi dịch vụ công - từ giao thông, giáo dục đến y tế - đều phải đảm bảo khả năng tiếp cận. Tại Canada hay Úc, các cơ quan và doanh nghiệp còn phải có kế hoạch cụ thể để loại bỏ rào cản, nếu không sẽ bị xử lý.
Việt Nam đã có luật và cam kết quốc tế, nhưng thách thức nằm ở khâu thực thi. Bài học từ các nước là không chỉ ban hành chính sách, mà cần cơ chế giám sát độc lập, chế tài rõ ràng và đặc biệt là sự tham gia của chính người khuyết tật trong quá trình xây dựng chính sách. Khi đó, "quyền" mới thực sự đi vào đời sống.
Tại Tokyo (Nhật Bản), việc di chuyển bằng tàu điện ngầm là trải nghiệm gần như không rào cản. Thang máy, lối dốc, biển báo chữ nổi hay thông báo bằng âm thanh không chỉ dành cho người khuyết tật, mà còn hữu ích với người cao tuổi, phụ nữ mang thai hay khách du lịch.
Theo số liệu của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản, hơn 90% các ga tàu lớn đã được cải tạo theo hướng tiếp cận toàn diện.
Singapore cũng áp dụng chương trình "Barrier-Free Accessibility" (Tiếp cận không rào cản) từ nhiều thập kỷ qua trong xây dựng nhà ở và không gian công cộng, trong khi các nước Bắc Âu đưa tiêu chí này ngay từ khâu cấp phép.
Điểm chung của các quốc gia này là không coi tiếp cận là chi phí bổ sung, mà là đầu tư dài hạn. Với Việt Nam, điều cần thay đổi là tư duy: không phải "làm thêm cho người khuyết tật", mà là thiết kế cho tất cả ngay từ đầu. Nếu không, những "lối dốc tượng trưng" hay "công trình có mà không dùng được" sẽ còn tồn tại.
Ở Phần Lan, hơn 95% học sinh khuyết tật học trong môi trường phổ thông, theo báo cáo năm 2018 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Mỗi học sinh có một kế hoạch giáo dục cá nhân, được xây dựng với sự tham gia của giáo viên, chuyên gia tâm lý và gia đình.
Ở Canada hay Úc, trong lớp học còn có giáo viên hỗ trợ, nhân viên công tác xã hội và dịch vụ tâm lý học đường. Điều đó cho thấy giáo dục hòa nhập không đơn giản là "cho học chung", mà là thiết kế lại hệ thống để phù hợp với sự khác biệt.
Việt Nam đã triển khai giáo dục hòa nhập, nhưng còn thiếu nhân lực và nguồn lực, phải đầu tư vào đội ngũ giáo viên, dịch vụ hỗ trợ tại trường và cơ chế phối hợp liên ngành. Nếu không, hòa nhập dễ trở thành hình thức hơn là thực chất.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, người khuyết tật có nguy cơ gặp vấn đề tâm lý cao gấp 2-3 lần, nhưng lại ít được hỗ trợ kịp thời. Ở Ấn Độ, chương trình mhGAP đào tạo nhân viên y tế cộng đồng hỗ trợ tâm lý ban đầu.
Tại Chile và Brazil, dịch vụ được tích hợp vào y tế ban đầu, còn Zimbabwe triển khai mô hình "Ghế tình bạn" - tư vấn ngay tại cộng đồng với chi phí thấp.
Với Việt Nam, hướng đi khả thi là phát triển mô hình chăm sóc phân tầng, sàng lọc sớm tại trạm y tế, đào tạo nhân viên tuyến cơ sở, lồng ghép vào phục hồi chức năng và có cơ chế chuyển tuyến rõ ràng.
Ở Đức, doanh nghiệp có trên 20 lao động phải dành ít nhất 5% vị trí cho người khuyết tật, nếu không sẽ phải đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm. Trong khi đó tại Anh và Hàn Quốc, các mô hình doanh nghiệp xã hội và việc làm hỗ trợ giúp người khuyết tật làm việc đúng với năng lực, có hỗ trợ tại nơi làm việc và duy trì công việc lâu dài.
Bài học cho Việt Nam là cần xây dựng hệ sinh thái việc làm, không chỉ dừng ở đào tạo nghề, kết nối với doanh nghiệp, hỗ trợ tại nơi làm việc và thay đổi định kiến. Khi có cơ hội công bằng, người khuyết tật có thể chứng minh năng lực của mình.
Trong kỷ nguyên số, công nghệ đang trở thành "cánh cửa mới". Ở Hàn Quốc, người khuyết tật được hỗ trợ phần mềm đọc màn hình, ứng dụng giao tiếp. Tại Mỹ và châu Âu, các nền tảng số phải đảm bảo khả năng tiếp cận. Theo Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), công nghệ có thể giúp giảm đáng kể rào cản tiếp cận thông tin và dịch vụ.
Việt Nam đang chuyển đổi số mạnh mẽ, cần sớm xây dựng tiêu chuẩn tiếp cận số, hỗ trợ thiết bị và kỹ năng, khuyến khích doanh nghiệp phát triển giải pháp công nghệ cho người khuyết tật.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hỗ trợ người khuyết tật không phải là câu chuyện của riêng một ngành, mà là tiếp cận hệ thống. Một xã hội bao trùm không phải là điều xa vời, mà bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể - trong cách nghĩ, cách làm và cách chúng ta tạo cơ hội cho nhau.