Cô gái 9X ấy đã khai trương Limart Zero Waste đầu tiên tại TP.HCM năm 2019 với hai mục tiêu rõ ràng: giảm rác thải nhựa, và tạo việc làm cho người khuyết tật, trả lương hằng tháng từ 7-12 triệu đồng/người/tháng tùy kỹ năng và vị trí.
Trò chuyện cùng Tuổi Trẻ, chị Hằng chia sẻ: “Chọn tuyển dụng người khuyết tật, tôi muốn tái định nghĩa năng lực của họ. Tôi nhìn thấy ở họ nguồn lực bị lãng quên”.
* Hành trình chị đang đi đã bắt đầu thế nào?
– Khó khăn nhất không phải ở kỹ thuật mà là niềm tin. Ngay gia đình có khi cũng không tin con em mình có thể làm ra sản phẩm thời trang cao cấp. Chúng tôi bắt đầu trong một căn xưởng nhỏ, ngôn ngữ là ánh mắt và ký hiệu vụng về.
Có ngày chúng tôi hỏng hàng chục mét vải tái chế, thùng hàng lỗi ngổn ngang. Nhưng hành trình đó không phải tôi giúp họ, mà là chúng tôi cùng nhau tìm hướng đi.
* Câu chuyện nào khiến chị nhớ mãi khi làm việc với các nhân viên đặc biệt ấy?
– Thực lòng tôi từng nghĩ mình phải vất vả hơn nhiều, rằng mình sẽ bảo bọc, che chở họ. Tôi có lo lắng về hiệu suất và khả năng giao tiếp, một kiểu định kiến mang tên “sự thương hại kín đáo” song tôi đã bất ngờ bởi chính sự nỗ lực của các bạn.
Họ không cần sự thương hại, chỉ cần công bằng. Các bạn khiếm thính tại dự án Limloop của công ty có khả năng tập trung cao độ mà ngay cả người nghe bình thường khó lòng đạt được.
Tôi nhớ mãi bạn nhân viên khiếm thính ngày đầu đến xưởng luôn cúi gằm mặt không dám nhìn thẳng vào ai. Sau sáu tháng, thấy khách hàng tỏ ra thích thú khi cầm trên tay chiếc túi do bạn ấy tạo ra, bạn đã dùng ngôn ngữ ký hiệu nói với tôi bạn rất vui và tự tin để sáng tạo nhiều hơn nữa. Câu nói đó tiếp thêm động lực để tôi biết mình đang đi đúng hướng.
* Liệu xã hội đang hiểu chưa đúng về năng lực của người khuyết tật?
– Xã hội thường nhìn vào cái họ thiếu thay vì cái họ có. Chúng ta gọi là người khuyết tật và đóng khung họ với những công việc đơn giản nhưng thực tế họ có thể là nghệ nhân, nhà thiết kế, chuyên viên kinh doanh xuất sắc nếu được cung cấp một hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp.
Chúng ta cần văn hóa thấu cảm. Khi tạo ra một môi trường xóa bỏ rào cản, bạn sẽ nhận lại một đội ngũ tận hiến.
Tại Limloop và Limart, nhờ họ mà chúng tôi tối ưu hóa quy trình trực quan hóa, giúp mọi thứ trở nên đơn giản và hiệu quả hơn. Họ trân trọng công việc hơn bất cứ ai. Mỗi giờ ở xưởng là một giờ họ được sống rực rỡ nhất. Tinh thần trách nhiệm của họ không đến từ áp lực KPI mà là niềm tự hào về nghề nghiệp.
* Chị cho rằng rào cản của người khuyết tật đến từ đâu?
– Đáng buồn thay rào cản lớn nhất không phải là cơ sở vật chất mà từ các định kiến, có doanh nghiệp sợ rắc rối, sợ chi phí phát sinh. Với lao động khuyết tật, rào cản lớn nhất là sự tự ti tích tụ qua nhiều năm bị xã hội từ chối.
Đó còn là sự lệch pha trong giao tiếp. Người nghe thường mất kiên nhẫn khi phải lặp lại hoặc học cách dùng ký hiệu. Sự cô lập về mặt cảm xúc trong môi trường làm việc chính là rào cản vô hình khiến họ khó phát huy hết năng lực.
* Chị thấy chính sách hiện tại cho người khuyết tật cần thay đổi gì?
– Chúng ta đã có những bước tiến nhưng vẫn mang tính chất hỗ trợ hơn là thúc đẩy. Các chính sách hiện còn nặng thủ tục hành chính khiến doanh nghiệp ngại tiếp cận. Chúng ta cần chính sách ưu tiên cụ thể hơn như ưu đãi thuế hoặc ưu tiên mua sắm công cho các doanh nghiệp có tỉ lệ người khuyết tật cao. Đặc biệt, cần đầu tư mạnh vào giáo dục nghề nghiệp công nghệ cao cho người khuyết tật để họ bắt kịp kỷ nguyên số.
* Câu chuyện mà doanh nghiệp của chị đang áp dụng là gì?
– Chúng tôi xây dựng hệ sinh thái không rào cản. Không chỉ là lối đi cho người dùng xe lăn hay đèn tín hiệu cho người khiếm thính, chính sách linh hoạt cho người khiếm thị mà là xây dựng văn hóa tôn trọng sự khác biệt. Chúng tôi học ngôn ngữ của nhau, cùng nhau xây dựng một thế giới chung chứ không yêu cầu họ hòa nhập vào thế giới của người bình thường.
Tôi cho rằng với doanh nghiệp xin đừng bắt đầu vì trách nhiệm xã hội mà hãy bắt đầu vì bạn nhận thấy giá trị thực sự của người khuyết tật. Chỉ cần kiên nhẫn trong ba tháng đầu đào tạo, sau đó bạn sẽ có những nhân viên xuất sắc nhất mà bạn từng sở hữu. Đừng cho họ cá, hãy cho họ cần câu và một hồ nước công bằng để câu cá.
Theo Hãng tin Bloomberg ngày 9-4, số người tự nguyện gia nhập quân đội Thái Lan đã tăng đều trong vòng 5 năm qua.
Trong đợt tuyển quân tháng 4 năm nay, tại một số khu vực, quân đội thậm chí không cần tổ chức bốc thăm như thường lệ do lượng đăng ký tự nguyện đã đủ chỉ tiêu.
Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực có nhiều căng thẳng, đặc biệt sau các cuộc đụng độ biên giới với Campuchia khiến khoảng 40 binh sĩ Thái Lan thiệt mạng trong năm 2025.
Tuy nhiên, động lực chính lại đến từ yếu tố kinh tế. Nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng chậm khiến cơ hội việc làm - đặc biệt với người trẻ - ngày càng hạn chế. Hai trụ cột là xuất khẩu và du lịch đều suy yếu, trong đó du lịch chịu tác động nặng nề từ xung đột Iran.
Bên cạnh đó, giá các mặt hàng nông sản chủ lực như gạo và mía giảm, trong khi chi phí phân bón tăng, khiến thu nhập khu vực nông thôn tiếp tục bị thu hẹp.
Trong bối cảnh đó, quân đội trở thành một trong số ít lựa chọn mang lại sự ổn định. Người nhập ngũ nhận khoảng 11.000 baht (khoảng 340 USD) mỗi tháng, kèm theo chỗ ở, ăn uống và chăm sóc y tế. Dù không cao theo tiêu chuẩn quốc tế, mức thu nhập này vẫn được xem là ổn định, thậm chí cao hơn lương tối thiểu tại nhiều địa phương.
Không chỉ vì thu nhập, việc tình nguyện nhập ngũ còn giúp nhiều thanh niên tránh rủi ro bị gọi nghĩa vụ bắt buộc kéo dài.
Theo quy định, nam giới Thái Lan khi bước sang tuổi 21 phải tham gia tuyển quân; nếu không đủ người tình nguyện, họ sẽ phải bốc thăm.
Người rút thẻ đỏ sẽ phục vụ khoảng hai năm, trong khi thẻ đen được miễn. Tuy nhiên năm nay, tại nhiều nơi, số người tự nguyện đã vượt chỉ tiêu ngay từ đầu.
"Tôi không muốn mạo hiểm bị gọi nhập ngũ", Purithat Thatvorchaiwat, sinh viên ngành truyền thông số 22 tuổi, cho biết. "Tôi thà đăng ký trước cho xong. Ít nhất sau khi tốt nghiệp, tôi cũng có việc để làm".
Dù vậy, xu hướng này vẫn gây tranh cãi trong xã hội Thái Lan. Đảng Nhân dân đối lập - được nhiều cử tri trẻ ủng hộ - kêu gọi bãi bỏ nghĩa vụ quân sự, cho rằng thời gian phục vụ có thể làm gián đoạn sự nghiệp của thanh niên.
Ngoài ra, Thái Lan cũng đang đối mặt với thực tế tỉ lệ sinh thuộc hàng thấp nhất thế giới, khiến số lượng nam giới đến tuổi nhập ngũ ngày càng giảm. Trước tình hình này, quân đội đang nỗ lực cải thiện hình ảnh, hiện đại hóa chính sách và mở rộng nguồn tuyển quân.
Dự kiến số liệu chính thức về lượng người tình nguyện nhập ngũ năm nay sẽ được công bố vào giữa tháng 4, và nhiều khả năng sẽ vượt mức của năm trước.
Báo Sin Chew ngày 15-4 chia sẻ câu chuyện về gia đình Malaysia của anh Su Youfu (42 tuổi) và chị Wei Peiling (37 tuổi). Họ thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng về hành trình nuôi dạy 10 người con duy trì lối sống giản dị, đề cao trách nhiệm chung và tình cảm gia đình.
Cặp đôi trên kết hôn năm 2005, họ lần lượt đón 4 người con đầu lòng từ năm 2006 đến 2012. Tuy nhiên, năm 2016, con trai cả Junjie bị chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu (leukemia).
Với hy vọng dùng máu cuống rốn của trẻ sơ sinh - vốn chứa các tế bào gốc - để hỗ trợ điều trị cho Junjie, họ quyết định sinh thêm con nhưng nỗ lực này không thành công.
Sau khi Junjie qua đời, gia đình vẫn duy trì truyền thống đến thăm mộ con vào mỗi ngày giỗ để các em nhỏ sau này luôn nhớ về người anh cả của mình.
Gia đình hiện sống tại một khu vực nông thôn thuộc bang Johor, bao quanh là các đồn điền dầu cọ và nuôi thỏ tại nhà. Ông Su tin rằng việc tiếp xúc với thiên nhiên là món quà tốt nhất giúp trẻ phát triển khả năng sáng tạo cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần.
Các con trong gia đình cũng sớm học cách kiếm tiền bằng cách thu gom quả cọ từ đồn điền của người thân. Những đứa trẻ lớn sẽ hướng dẫn các em nhỏ. Số tiền kiếm được từ việc bán quả cọ sẽ được chia đều để các em tự mua những món đồ mình thích.
Trong việc nuôi dạy con, chị Wei ưu tiên giao tiếp thay vì dùng đòn roi vì lo ngại những tác động tiêu cực đến sự phát triển cảm xúc của trẻ. Cặp đôi cũng tránh tranh cãi trước mặt con cái và thường giải quyết mâu thuẫn thông qua thảo luận.
Anh Su sắp xếp cho các con đi học thêm nhưng không gây áp lực học tập nặng nề. Quan điểm của anh là: "Nếu một người có nhân cách kém thì trình độ học vấn cao đến đâu cũng vô nghĩa".
Ngoài ra, cặp vợ chồng luôn cố gắng đối xử công bằng với tất cả các con, từ việc mua quần áo đến tổ chức sinh nhật để không ai cảm thấy bị bỏ rơi.
Để quản lý một gia đình lớn, các con đều được giao làm việc nhà như phơi và gấp quần áo từ khi còn nhỏ.
Dù có phòng ngủ riêng, các con vẫn thích ngủ chung phòng với ba mẹ trong nhiều năm. Anh Su kể gia đình mình trải đệm xuống sàn để mọi người có thể ngủ chung, và cánh cửa phòng ngủ được mở ra đóng vào hàng chục lần mỗi ngày vì nhiều người cùng chung sống trong một không gian.
Chi phí sinh hoạt hàng tháng của gia đình 10 con vượt 5.000 ringgit (khoảng 33,3 triệu đồng), bao gồm học phí, thực phẩm, tã sữa và điện nước.
5 đứa trẻ nhỏ nhất vẫn đang uống sữa bột. Mỗi tháng gia đình dùng hết hơn 20 lon sữa, mỗi lon thường hết trong chưa đầy hai ngày.
Anh Su thường xuyên thức đêm pha sữa cho các con để vợ có thời gian nghỉ ngơi.
Với đứa con thứ 10 sắp chào đời, cặp đôi cho biết đây sẽ là lần mang thai cuối cùng. Chị Wei có kế hoạch can thiệp y khoa sau khi sinh để tránh mang thai trong tương lai.
Giữa những đô thị đang vươn mình mạnh mẽ, vẫn còn đó những "gờ cao" vô cảm tại các công trình công cộng đang tước đi quyền được hòa nhập cơ bản nhất của hàng triệu người khuyết tật.
Dù Luật Người khuyết tật, quy chuẩn xây dựng về tiếp cận đã có hiệu lực từ lâu, việc thực thi các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp cận vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Dạo quanh các tuyến phố chính của nơi tôi đang ở hay thậm chí là các trụ sở cơ quan hành chính, không khó để bắt gặp những hình ảnh trớ trêu. Một vỉa hè được lát đá hoa cương sang trọng nhưng lại thiếu đường dốc cho xe lăn, hay có đường lên nhưng không có đường xuống, gờ cao, khoảng cách xa không đúng quy chuẩn.
Một nhà vệ sinh công cộng gắn mác "hiện đại" nhưng lối vào lại hẹp hơn bề ngang một chiếc xe lăn tiêu chuẩn, không có đường lên cho người khuyết tật.
Một người khuyết tật vận động có thể phải luôn nhìn trước ngó sau nhờ người khiêng xe lăn khi đến trụ sở UBND phường xã, hay đi bệnh viện. Lúc đó, họ cảm giác mình như một gánh nặng. Chỉ một cái gờ xi măng nhỏ thôi cũng đủ để ngăn bước chân người khuyết tật vận động với thế giới bên ngoài.
Ngay đường lên cho người khuyết tật lại có một rãnh sâu thoát nước
Ở các công trình công cộng hiện còn tồn tại nhiều vấn đề về thiết kế, ngăn cản người khuyết tật vận động hòa nhập. Đó là đường dốc siêu dốc: có những công trình xây đường dốc cho xe lăn với độ dốc lên đến 300 hoặc 450. Đây không phải là lối đi, đây là một "cái bẫy" nguy hiểm. Theo quy chuẩn, độ dốc lý tưởng phải là 1/12.
Vỉa hè bị chiếm: Ngay cả khi vỉa hè có lối lên xuống thì việc hàng quán, xe máy bủa vây đã biến những nỗ lực tiếp cận này trở nên vô nghĩa.
Còn với hệ thống giao thông công cộng, xe buýt sàn thấp vẫn là một khái niệm xa xỉ tại nhiều tỉnh thành.
Việc thiếu vắng các hạng mục tiếp cận vật lý không đơn thuần là thiếu một lối đi. Khi thiết kế một công trình công cộng mà quên đi người khuyết tật, chúng ta đã vô tình gạt họ ra khỏi đời sống xã hội, tước đi quyền tự lập của họ.
Cần phải khẳng định mạnh mẽ rằng: Tiếp cận vật lý là quyền, không phải là sự ban ơn. Người khuyết tật có quyền được đi học, đi làm, đi khám bệnh và hưởng thụ văn hóa mà không cần phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự giúp đỡ của người khác.
Một xã hội văn minh là một xã hội mà ở đó người yếu thế nhất vẫn có thể di chuyển tự do. Các địa phương cần có chế tài nghiêm khắc hơn đối với các công trình công cộng không tuân thủ quy chuẩn tiếp cận. Đã đến lúc các kiến trúc sư, các nhà thầu xây dựng và cơ quan quản lý phải đặt mình vào vị trí của người ngồi xe lăn trước khi đặt viên gạch đầu tiên.
Đừng để những "gờ nhỏ" tiếp tục ngăn cản những khát vọng lớn. Một lối đi bằng phẳng, một tay vịn đúng tầm, một thang máy có chữ nổi... không chỉ là những khối bê tông, sắt thép. Đó là sự thấu cảm, là sự công bằng và là thước đo lòng nhân ái của một cộng đồng.
Mong rằng, đã đến lúc chúng ta đo lường sự phát triển bằng nụ cười tự tin của người khuyết tật khi họ có thể tự mình lăn bánh vào những không gian công cộng.