Năm 2019, chiếc đồng hồ Patek Philippe Grandmaster Chime gây chấn động khi được bán đấu giá với mức gần 35,5 triệu USD. Năm 2022, một chiếc túi Hermes Himalaya Niloticus Crocodile Diamond Birkin 30 cũng chạm mức hơn 450.000 USD.
Bà Florence Low, người sáng lập nền tảng bán lại hàng xa xỉ LuxLexicon (Singapore) ủng hộ việc đầu tư vào hàng xa xỉ như tài sản thay thế. Bà dành một phần thu nhập để mua túi xách, đồng hồ và trang sức vì tin đây là loại tài sản bền vững nhờ nhu cầu mạnh, nguồn cung hạn chế và danh tiếng thương hiệu. Đặc biệt, chủ sở hữu vẫn được hưởng lợi khi sử dụng những món đồ này trong suốt thời gian nắm giữ.
Tuy nhiên, không phải mọi món đồ xa xỉ đều là “mỏ vàng”. Bà Karen Tang, chuyên gia hoạch định tài chính, cảnh báo dù có thể xem là khoản đầu tư thay thế, hàng xa xỉ thực chất chỉ là tài sản đầu cơ có giá trị hạn chế.
Chúng khác hoàn toàn với những khoản đầu tư thực sự như cổ phiếu hay bất động sản sinh lời.
Theo bà Tang, giá trị của hàng xa xỉ chịu chi phối lớn từ xu hướng và nhu cầu thương hiệu nhất thời. “Chi phí giao dịch cao, thị trường bán lại bị kiểm soát bởi các đại lý và tính thanh khoản thấp khiến việc bán nhanh món đồ với giá hợp lý trở nên cực kỳ khó khăn”, chuyên gia này nhận định. Bà cho rằng tăng giá mạnh chỉ là ngoại lệ, không phải quy luật.
Ý tưởng biến hàng hiệu thành kênh đầu tư bùng nổ một phần nhờ chiến lược tiếp thị khan hiếm và văn hóa đấu giá. Các nhà đấu giá như Sotheby’s và Christie’s đã nâng tầm túi xách từ hàng tiêu dùng thành tài sản thay thế thông qua việc xây dựng những câu chuyện về sự quý hiếm. Điển hình là chiếc túi Hermes Birkin nguyên mẫu của Jane Birkin đã được Sotheby’s bán với mức giá kỷ lục hơn 9 triệu USD vào năm 2025.
Bà Tang khuyến cáo phụ nữ nên coi hàng xa xỉ là tài sản rủi ro cao. Nhu cầu thị trường có thể thay đổi và giá bán lại phụ thuộc hoàn toàn vào việc bảo quản. Đặc biệt, nếu vay nợ để mua đồ hiệu thông qua hình thức trả góp, đó không phải là đầu tư, mà là một khoản nợ.
Một thực tế khác cần lưu ý là tính hao mòn. Không giống các loại tài sản truyền thống, hàng xa xỉ là tài sản vật lý dễ bị giảm giá trị theo mức độ sử dụng. Ngoại trừ kim cương màu hoặc đá quý hiếm, hầu hết các món đồ khác đều khó giữ nguyên trạng theo thời gian. Các chuyên gia thừa nhận những vật dụng như túi xách hoặc đồng hồ rất dễ hư hỏng nếu dùng thường xuyên.
Do đó, lời khuyên của bà Tang là hãy xem chúng như “tài sản có giá trị còn lại cao” thay vì “một tài sản có giá trị tăng trưởng”.
6 nguyên tắc bảo vệ giá trị món đồ
Để giảm thiểu rủi ro và bảo toàn giá trị bán lại, các chuyên gia gợi ý:
Lựa chọn vật liệu bền: Ưu tiên đá quý, vàng, bạch kim hoặc vỏ đồng hồ chống trầy xước thay vì các loại da mềm hay vải dễ hỏng.
Sử dụng chọn lọc: Tránh dùng hàng ngày, chỉ dành cho dịp đặc biệt để hạn chế vết trầy xước và vết bẩn.
Lưu giữ hồ sơ đầy đủ: Hộp đựng, túi chống bụi, giấy chứng nhận, hóa đơn và biên lai bảo dưỡng là “chứng minh thư” giúp tăng giá trị bán lại đáng kể.
Bảo quản đúng cách: Sử dụng tủ chống ẩm để ngăn nấm mốc và kiểm soát ánh sáng để tránh xuống cấp da.
Bảo trì định kỳ: Lau sạch bụi bẩn và mồ hôi sau mỗi lần dùng. Đồng hồ nên được bảo dưỡng tại trung tâm chính hãng mỗi 3-7 năm.
Giữ nguyên bản: Tuyệt đối tránh khắc tên, sơn lại da hoặc sử dụng dịch vụ sửa chữa của bên thứ ba vì những thay đổi này làm giảm giá trị sưu tầm.
Sau cùng, hàng xa xỉ nên được xếp vào mục “mua sắm vì đam mê” thay vì chiến lược quản lý tài sản. Chuyên gia Karen Tang khuyên phụ nữ hãy mua vì yêu thích, bởi ngay cả khi giá trị không tăng, bạn vẫn có được sự hài lòng.
“Hãy coi việc bán lại như một cách thu hồi vốn thay vì kiếm lời. Nếu bạn có thể hòa vốn sau nhiều năm sử dụng, đó đã là một thành công”, bà Tang nói.
Tôi là Nguyễn Ngọc Vân Trang, từ năm 2 tuổi đã bị chẩn đoán điếc sâu hai tai. Nhìn lại mình, tôi thường nhớ về nỗi niềm khi tôi sinh ra, lớn lên, rồi học cách trưởng thành theo một cách riêng, không có khả năng nghe âm thanh như mọi người.
Từ lúc sinh ra, tôi đã sống trong một thế giới hoàn toàn yên lặng. Với ba mẹ, đó là một cú sốc lớn. Và từ khoảnh khắc đó, hành trình của tôi không còn là của riêng tôi, mà trở thành hành trình của cả gia đình đi tìm lại âm thanh cho con.
4 tuổi, tôi bắt đầu đeo máy trợ thính và tham gia can thiệp sớm. Khi còn nhỏ, tôi chưa thể hiểu hết những gì mình trải qua, chỉ biết mỗi ngày là những lần tập nghe, tập nói, lặp đi lặp lại từng âm thanh rất nhỏ. Lớn lên, tôi mới hiểu rằng phía sau những tiến bộ tưởng như bình thường ấy là cả một quá trình kiên trì lặng lẽ của ba mẹ.
Những năm đi học không dễ dàng. Tôi luôn ngồi bàn đầu để nhìn khẩu hình thầy cô, cố gắng hiểu bài bằng quan sát. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng theo kịp. Có những lúc tôi cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, trong khi mọi người vẫn tiếp tục tiến về phía trước. Tôi trở nên ít nói, dè dặt, sợ sai và dần thu mình lại.
Lên THCS, bài học nhanh hơn, lượng kiến thức nhiều hơn, trong khi khả năng nghe của tôi lại giảm dần. Tôi mệt mỏi, áp lực và từng nghĩ đến việc dừng lại.
Nhưng ba mẹ vẫn luôn ở đó, không cho phép tôi bỏ cuộc. Và rồi tôi được cấy ốc tai điện tử Cochlear của Úc - một cơ hội để tiếp tục hành trình của mình.
Ngày bật máy lần đầu, đó là một thế giới âm thanh lạ lẫm. Tôi phải học lại cách nghe: từng giọng nói, tiếng động trong cuộc sống đều cần nhận diện lại hết. Có những ngày tôi rất mệt, thậm chí muốn buông bỏ vì quá khó khăn.
Nhưng tôi hiểu rằng nếu mình dừng lại, tất cả những cố gắng trước đó cũng sẽ dừng theo. Không có phép màu nào xảy ra trong một ngày. Chỉ có những ngày rất bình thường, tôi kiên trì thêm một chút, cố gắng thêm một chút, để từng bước chạm lại thế giới âm thanh của mình.
Lên THPT, áp lực học tập và cuộc sống có những lúc khiến tôi tưởng như không thể ráng thêm. Nhưng nhờ sự đồng hành của thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè và niềm tin từ gia đình, tôi dần học cách đứng dậy.
Trong quá trình đi bệnh viện và gặp gỡ những người có hoàn cảnh tương tự, tôi nhận ra một điều rất rõ ràng: không phải ai cũng có cơ hội giống mình.
Có người vì điều kiện kinh tế mà không thể cấy ốc tai điện tử, đành chấp nhận việc nghe - nói hạn chế. Có người thiếu thông tin nên đi sai hướng từ đầu. Có những điều nhỏ không được can thiệp sớm khiến việc hòa nhập khó khăn hơn rất nhiều.
Từ đó, tôi nhìn mọi thứ bằng góc nhìn của một người trong cuộc. Tôi hiểu rằng điều khiến một người bị bỏ lại phía sau không chỉ nằm ở khiếm khuyết, mà còn ở cơ hội, thông tin và sự hỗ trợ đúng lúc.
Người khuyết tật không cần sự thương hại, mà cần sự thấu hiểu, sự đồng hành và một cơ hội công bằng để được khẳng định giá trị bản thân.
Chính nhận thức đó đã đưa tôi đến với ngành công tác xã hội. Trong suốt 4 năm đại học, tôi luôn phải tự nhắc mình đã đi được xa thì không có lý do gì buông tay. Và rồi tôi đã tốt nghiệp. Đó không chỉ là một tấm bằng, mà còn là sự trưởng thành và một niềm tin vững vàng vào chính mình.
Tôi mong mình và mọi người xung quanh có thể trở thành một người mang lại niềm tin cho người yếu thế, để không ai phải lặng lẽ dừng lại giữa chừng chỉ vì họ thiếu cơ hội, thiếu sự thấu hiểu.
Mong xã hội sẽ quan tâm nhiều hơn và có những chính sách thiết thực hơn dành cho người câm điếc, như tăng cường đào tạo ngôn ngữ ký hiệu trong trường học và cộng đồng; hỗ trợ phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu tại các cơ quan hành chính, bệnh viện; xây dựng thêm các kênh thông tin và dịch vụ công thân thiện với người khiếm thính; tặng máy trợ thính và ốc tai điện tử, đồng thời tạo nhiều cơ hội việc làm phù hợp để người câm điếc có thể tự tin hòa nhập và phát triển.
Người câm điếc rất mong có một cuộc đời có nhiều tiếng động của sự ấm áp, có ốc tai, có giảng đường, có hướng dẫn và cơ hội phấn đấu.
Trưa 16-4, anh A Đông - Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Trung Quốc - hội đàm cùng anh Bùi Quang Huy - Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - tại trụ sở Trung ương Đoàn TNCS Trung Quốc.
Anh A Đông hy vọng cuộc gặp gỡ mở ra nhiều cơ hội cho thanh niên hai nước giao lưu, học hỏi lẫn nhau trong thời gian tới.
Anh Bùi Quang Huy cảm ơn sự tiếp đón chu đáo dành cho đoàn đại biểu Việt Nam tham gia chương trình Hành trình đỏ lần này.
Hai bên cùng khẳng định quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có nền tảng lịch sử sâu sắc, không ngừng được củng cố, phát triển qua nhiều giai đoạn và nâng tầm lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2008.
Đặc biệt, chuyến thăm và làm việc tại Trung Quốc của Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Tô Lâm được đánh giá là dấu mốc quan trọng, tiếp nối các chuyến thăm lịch sử, mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ song phương.
Trên cơ sở đó, hai bên cùng thống nhất sẽ đồng hành trong thời gian tới, tiếp tục hợp tác trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn là một khâu đột phá mang tính nền tảng cho sự phát triển bền vững của quan hệ hợp tác thanh niên.
Hai bên xác định công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho thanh niên là trục xuyên suốt trong hợp tác, từng bước chuyển từ các hoạt động mang tính sự kiện sang xây dựng cơ chế giáo dục thường xuyên, liên tục, có chiều sâu.
Hai bên sẽ đẩy mạnh hơn nữa các chương trình giao lưu thanh niên theo đối tượng cụ thể gồm nhà khoa học, doanh nhân trẻ… để cùng nhau chia sẻ, học hỏi lẫn nhau.
Trung ương Đoàn hai nước sẽ tạo môi trường giao lưu giữa lưu học sinh hai bên thông qua các hoạt động giao lưu, trao đổi. Đặc biệt cùng phối hợp xây dựng các chuyên đề phát huy tính giáo dục đối với thanh niên hai nước.
Hội thảo thu hút nhiều nhà quản lý, nhà khoa học và người trong cuộc với hơn 100 tham luận gửi về. Không chỉ dừng ở câu chuyện chính sách, hội thảo đặt ra một vấn đề lớn hơn, đó là làm sao để quyền tiếp cận thực sự đi vào đời sống.
Phát biểu tại hội thảo, ông Bùi Tá Hoàng Vũ - Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM, thành viên ban cố vấn dự án Vượt sóng - cho hay Việt Nam không thiếu quy định pháp luật liên quan đến người khuyết tật, thậm chí nhiều chủ trương đã tiệm cận chuẩn quốc tế. Tuy nhiên vấn đề nằm ở khâu thực thi.
"Chúng ta có luật, có quyền nhưng khoảng cách từ chính sách đến đời sống vẫn còn khá xa. Điều quan trọng lúc này không phải là ban hành thêm mà là tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả, đồng bộ và minh bạch", ông Vũ nhấn mạnh.
GS.TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, khoa học xã hội và nhân văn càng cần được đề cao để giữ vững yếu tố con người.
"Quyền tiếp cận không chỉ là loại bỏ rào cản vật lý mà còn bao gồm khả năng tiếp cận thông tin, giáo dục, việc làm, dịch vụ công và cơ hội phát triển. Người khuyết tật phải được nhìn nhận như một chủ thể có đầy đủ quyền và năng lực tham gia vào đời sống xã hội", bà Lan chia sẻ.
Điều này cũng đồng nghĩa mỗi chính sách công cần được thiết kế theo hướng bao trùm, không để bất kỳ nhóm yếu thế nào bị bỏ lại phía sau.
TS Lê Văn Công - Trưởng ngành công tác xã hội Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) - chỉ ra hàng loạt bất cập trong thực tiễn: từ thiếu nhân lực hỗ trợ giáo dục hòa nhập đến những rào cản tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người khuyết tật.
"Có những quy định pháp luật tưởng như hợp lý nhưng khi áp dụng lại trở thành rào cản. Ví dụ quy định lăn tay trong một số thủ tục hành chính có thể gây khó khăn cho người không có khả năng thực hiện", ông Công dẫn chứng.
Ở lĩnh vực giáo dục, dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhưng tỉ lệ người khuyết tật tiếp cận được hệ thống đào tạo chính quy, đặc biệt là bậc ĐH vẫn còn rất thấp. Nguyên nhân đến từ nhiều phía như cơ sở vật chất chưa phù hợp, thiếu phương tiện di chuyển, thiếu tài liệu học tập chuyên biệt…
Các đại biểu tại hội thảo đều cho rằng một trong những rào cản lớn nhất đối với người khuyết tật hiện nay là cơ hội việc làm. TS Võ Thị Hoàng Yến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển năng lực người khuyết tật - nói bản thân là người khuyết tật vận động, được đi học nhiều nơi trong và ngoài nước nên nhận thấy rằng rào cản đối với người khuyết tật vẫn còn rất nhiều.
Để người khuyết tật tự tin hòa nhập vào xã hội, trước tiên là câu chuyện việc làm. Tại sao doanh nghiệp nước ngoài sẵn sàng đón nhận, tuyển dụng người khuyết tật còn doanh nghiệp trong nước thì rất hạn chế!
Một số ý kiến của các chuyên gia cũng nêu ra những kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam. Nội dung quan trọng của hội thảo là việc tham chiếu các mô hình quốc tế. Nhiều quốc gia đã thành công trong việc xây dựng môi trường không rào cản thông qua thiết kế bao trùm, chính sách đồng bộ và sự tham gia tích cực của người khuyết tật.
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam có thể học hỏi nhưng không thể sao chép nguyên mẫu. Điều quan trọng là phải điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước. Một trong những xu hướng được nhắc đến là phát triển các mô hình hỗ trợ dựa vào cộng đồng, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Thay vì tập trung toàn bộ vào hệ thống y tế chuyên sâu, việc nâng cao năng lực cho tuyến cơ sở sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người khuyết tật.
Theo thống kê được chia sẻ tại hội thảo, Việt Nam hiện có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 6% dân số. Trong khi đó trên thế giới, con số này lên đến hơn 1,3 tỉ người. Tuy nhiên tỉ lệ người khuyết tật được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cơ bản vẫn còn hạn chế. Đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nhiều trường hợp có dấu hiệu trầm cảm, lo âu nhưng chưa được phát hiện và hỗ trợ kịp thời.
Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải xây dựng hệ thống hỗ trợ toàn diện, từ phòng ngừa, phát hiện sớm đến can thiệp và phục hồi, hướng tới một xã hội không rào cản. Từ các tham luận và ý kiến trao đổi, hội thảo đã gợi mở nhiều hướng đi quan trọng.
Đó là hoàn thiện thể chế theo hướng bao trùm và dễ tiếp cận, tăng cường phối hợp liên ngành trong thực thi chính sách, phát triển hệ sinh thái việc làm cho người khuyết tật. Đồng thời đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức xã hội, đảm bảo sự tham gia thực chất của người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách.