Hội thảo thu hút nhiều nhà quản lý, nhà khoa học và người trong cuộc với hơn 100 tham luận gửi về. Không chỉ dừng ở câu chuyện chính sách, hội thảo đặt ra một vấn đề lớn hơn, đó là làm sao để quyền tiếp cận thực sự đi vào đời sống.
Phát biểu tại hội thảo, ông Bùi Tá Hoàng Vũ – Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM, thành viên ban cố vấn dự án Vượt sóng – cho hay Việt Nam không thiếu quy định pháp luật liên quan đến người khuyết tật, thậm chí nhiều chủ trương đã tiệm cận chuẩn quốc tế. Tuy nhiên vấn đề nằm ở khâu thực thi.
“Chúng ta có luật, có quyền nhưng khoảng cách từ chính sách đến đời sống vẫn còn khá xa. Điều quan trọng lúc này không phải là ban hành thêm mà là tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả, đồng bộ và minh bạch”, ông Vũ nhấn mạnh.
GS.TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, khoa học xã hội và nhân văn càng cần được đề cao để giữ vững yếu tố con người.
“Quyền tiếp cận không chỉ là loại bỏ rào cản vật lý mà còn bao gồm khả năng tiếp cận thông tin, giáo dục, việc làm, dịch vụ công và cơ hội phát triển. Người khuyết tật phải được nhìn nhận như một chủ thể có đầy đủ quyền và năng lực tham gia vào đời sống xã hội”, bà Lan chia sẻ.
Điều này cũng đồng nghĩa mỗi chính sách công cần được thiết kế theo hướng bao trùm, không để bất kỳ nhóm yếu thế nào bị bỏ lại phía sau.
TS Lê Văn Công – Trưởng ngành công tác xã hội Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) – chỉ ra hàng loạt bất cập trong thực tiễn: từ thiếu nhân lực hỗ trợ giáo dục hòa nhập đến những rào cản tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người khuyết tật.
“Có những quy định pháp luật tưởng như hợp lý nhưng khi áp dụng lại trở thành rào cản. Ví dụ quy định lăn tay trong một số thủ tục hành chính có thể gây khó khăn cho người không có khả năng thực hiện”, ông Công dẫn chứng.
Ở lĩnh vực giáo dục, dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhưng tỉ lệ người khuyết tật tiếp cận được hệ thống đào tạo chính quy, đặc biệt là bậc ĐH vẫn còn rất thấp. Nguyên nhân đến từ nhiều phía như cơ sở vật chất chưa phù hợp, thiếu phương tiện di chuyển, thiếu tài liệu học tập chuyên biệt…
Các đại biểu tại hội thảo đều cho rằng một trong những rào cản lớn nhất đối với người khuyết tật hiện nay là cơ hội việc làm. TS Võ Thị Hoàng Yến – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển năng lực người khuyết tật – nói bản thân là người khuyết tật vận động, được đi học nhiều nơi trong và ngoài nước nên nhận thấy rằng rào cản đối với người khuyết tật vẫn còn rất nhiều.
Để người khuyết tật tự tin hòa nhập vào xã hội, trước tiên là câu chuyện việc làm. Tại sao doanh nghiệp nước ngoài sẵn sàng đón nhận, tuyển dụng người khuyết tật còn doanh nghiệp trong nước thì rất hạn chế!
Một số ý kiến của các chuyên gia cũng nêu ra những kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam. Nội dung quan trọng của hội thảo là việc tham chiếu các mô hình quốc tế. Nhiều quốc gia đã thành công trong việc xây dựng môi trường không rào cản thông qua thiết kế bao trùm, chính sách đồng bộ và sự tham gia tích cực của người khuyết tật.
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam có thể học hỏi nhưng không thể sao chép nguyên mẫu. Điều quan trọng là phải điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội trong nước. Một trong những xu hướng được nhắc đến là phát triển các mô hình hỗ trợ dựa vào cộng đồng, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Thay vì tập trung toàn bộ vào hệ thống y tế chuyên sâu, việc nâng cao năng lực cho tuyến cơ sở sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người khuyết tật.
Theo thống kê được chia sẻ tại hội thảo, Việt Nam hiện có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 6% dân số. Trong khi đó trên thế giới, con số này lên đến hơn 1,3 tỉ người. Tuy nhiên tỉ lệ người khuyết tật được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cơ bản vẫn còn hạn chế. Đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nhiều trường hợp có dấu hiệu trầm cảm, lo âu nhưng chưa được phát hiện và hỗ trợ kịp thời.
Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải xây dựng hệ thống hỗ trợ toàn diện, từ phòng ngừa, phát hiện sớm đến can thiệp và phục hồi, hướng tới một xã hội không rào cản. Từ các tham luận và ý kiến trao đổi, hội thảo đã gợi mở nhiều hướng đi quan trọng.
Đó là hoàn thiện thể chế theo hướng bao trùm và dễ tiếp cận, tăng cường phối hợp liên ngành trong thực thi chính sách, phát triển hệ sinh thái việc làm cho người khuyết tật. Đồng thời đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức xã hội, đảm bảo sự tham gia thực chất của người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách.
Nếu trong nhiếp ảnh có một người mang dáng dấp của họa sĩ Van Gogh - tài năng xuất chúng nhưng vô danh lúc sinh thời - đó là Vivian Maier. Tạp chí The New Yorker nhận định di sản của bà làm thay đổi lịch sử nhiếp ảnh đương đại. Trong khi đó, giới chuyên môn gọi bà là "thiên tài nhiếp ảnh bí ẩn nhất thế kỷ 20".
Cuộc đấu giá 380 USD
Năm 2007, nhà môi giới bất động sản John Maloof chi 380 USD mua vài chiếc vali lớn tại một cuộc đấu giá kho ký gửi quá hạn ở Chicago. Thay vì tìm thấy tài liệu lịch sử như kỳ vọng, ông phát hiện hàng vạn phim âm bản nên cất vào kho suốt hai năm.
Khi đem rửa và scan ảnh, Maloof nhận ra đây là các tác phẩm khắc họa đường phố New York và Chicago giữa thế kỷ 20. Trẻ em, người già, người lao động hay giới thượng lưu hiện lên tự nhiên với bố cục hoàn hảo, sánh ngang tác phẩm của những nhiếp ảnh gia đường phố xuất sắc nhất nước Mỹ. Thấy tên "Vivian Maier" trên vali, Maloof tra cứu nhưng không có kết quả. Ông liên hệ những người cùng dự đấu giá để mua lại toàn bộ số vali còn lại.
Năm 2009, Maloof tra cứu lại và tìm thấy một cáo phó "Vivian Maier đã qua đời ngày 21/4/2009". Đang sở hữu hơn 100.000 phim âm bản (trong tổng số khoảng 150.000 bức ảnh di sản của bà), Maloof đăng một số tấm lên diễn đàn ảnh Flickr để xin lời khuyên: "Tôi nên làm gì với những thứ này? Tác phẩm này có xứng đáng triển lãm, in sách không?".
Bộ ảnh lập tức tạo hiện tượng mạng. Giới chuyên môn đổ xô đi tìm "thiên tài nhiếp ảnh đường phố" đã ghi lại chân thực nước Mỹ thế kỷ 20.
Maloof lần theo số điện thoại trên cáo phó, tìm đến gia đình Gensburg tại Chicago. "Vivian là bảo mẫu của chúng tôi", những người trong gia đình cho biết. Ba anh em nhà Gensburg do Vivian nuôi lớn nhưng không ai biết về tài năng nhiếp ảnh của bà, ngoài việc căn phòng luôn đầy vali và cấm người khác chạm vào.
Nữ bảo mẫu lập dị
Vivian Maier sinh năm 1926 tại New York, gốc Pháp và Áo. Sau khi cha bỏ đi năm 1930, bà cùng mẹ di chuyển giữa Pháp và Mỹ. Bà từng sống cùng nhiếp ảnh gia Jeanne Bertrand.
Năm 1951, bà về lại New York làm công nhân một thời gian ngắn trước khi chuyển sang nghề bảo mẫu. Công việc này giúp bà có thời gian dạo phố và chụp ảnh. Năm 1952, bà mua máy ảnh Rolleiflex. Loại máy có ống ngắm ngang hông giúp thao tác kín đáo.
Năm 1956, Vivian làm việc cho gia đình Gensburg ở ngoại ô Chicago và biến phòng tắm thành buồng tối rửa ảnh. Bà được mô tả là người nói tiếng Anh giọng Pháp, thường đội mũ rộng vành, đi giày da nam, máy ảnh đeo trước ngực. Yêu cầu đầu tiên của bà khi nhận việc luôn là có phòng riêng trang bị khóa.
Khi dắt trẻ ra ngoài, bà mang máy theo và chụp liên tục. Phil Donahue, một người từng thuê Vivian kể: "Thấy bà chụp một thùng rác, tôi chưa từng nghĩ những việc đó có giá trị nghệ thuật".
Không kết hôn, sinh con hay có bạn thân, nhiếp ảnh là mối quan tâm duy nhất của bà. Nhà phê bình nghệ thuật, nhiếp ảnh gia Anna Fox (Anh) đánh giá ảnh của Vivian mang sự dịu dàng, nhạy cảm khi ghi lại cuộc sống của người nghèo, người yếu thế bên lề xã hội.
Chuyến đi vòng quanh thế giới
Tự nhận mình nghèo và không mua bảo hiểm y tế, nhưng Vivian có cách chi tiêu riêng. Năm 1959, nhận khoản tiền thừa kế bất động sản ở Pháp, bà dùng toàn bộ để du lịch vòng quanh thế giới trong 6 tháng. Bà đã đặt chân đến Ai Cập, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Italy.
Bà không kết hôn và không có bạn thân. Nhiếp ảnh gia Anna Fox đánh giá ảnh của Vivian ghi lại sự sống động của những người yếu thế bên lề xã hội, khác biệt hoàn toàn với góc chụp rập khuôn về các tòa nhà chọc trời thời bấy giờ.
Đầu thập niên 1970, khi các con nhà Gensburg trưởng thành, Vivian chuyển việc. Bà mang theo hàng chục thùng phim qua nhiều nơi, cuối cùng phải thuê kho lưu trữ. Về già cạn kiệt tài chính, bà không thể trả phí nên số di sản này bị mang ra đấu giá năm 2007.
Anh em nhà Gensburg sau đó tìm thấy bà đang sống lang bạt và đưa về chăm sóc. Tháng 4/2009, bà qua đời tại một viện dưỡng lão sau một tai nạn trượt ngã.
Đến nay, di sản của bà vẫn được trưng bày tại nhiều triển lãm lớn trên thế giới, từ New York đến Thượng Hải. Cuộc đời bà cũng trở thành nguồn cảm hứng cho phim tài liệu Finding Vivian Maier.
Giữa tháng 2, tài khoản TikTok @papafromjapan của một người đàn ông Nhật Bản 74 tuổi thu hút hàng trăm nghìn lượt xem, giải thích thuật ngữ "madogiwazoku".
Khái niệm này chỉ nhóm nhân viên bị điều chuyển sang các vị trí ít áp lực, bàn làm việc thường đặt gần cửa sổ. Công việc hàng ngày của họ là xử lý giấy tờ đơn giản hoặc trả lời một vài email. Họ bị tách hoàn toàn khỏi các dự án quan trọng nhưng vẫn được nhận mức lương ổn định.
Thay vì sa thải như phương Tây, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản chọn cách giữ lại nhóm lao động không còn bắt kịp công nghệ hay chiến lược mới. Những người này chủ yếu là nam giới ở độ tuổi cuối 50 đến 60, từng được tuyển dụng theo chế độ làm việc trọn đời (shushin koyo) và trả lương theo thâm niên. Doanh nghiệp đánh giá họ là những nhân viên trung thành, ít phàn nàn và không gây xung đột.
Hiện tượng này phản ánh tình trạng già hóa lực lượng lao động tại Nhật Bản. Số liệu năm 2022 cho thấy hơn 25% người từ 65 tuổi trở lên tại nước này vẫn đi làm, cao hơn mức 20% tại Mỹ và 10% tại Anh. Theo khảo sát của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, 80% người lao động muốn tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu, trong đó 70% muốn gắn bó với cơ quan cũ.
Chính phủ Nhật Bản cũng thúc đẩy xu hướng này. Các nhà chức trách cung cấp nhiều khoản trợ cấp để khuyến khích doanh nghiệp duy trì việc làm cho nhân sự đến tuổi 70. Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho biết một số công ty đã áp dụng mô hình kéo dài tuổi nghỉ hưu để bảo toàn quyền lợi cho nhân viên.
Dưới góc độ quản trị, việc không sa thải người yếu kém giúp doanh nghiệp ổn định tâm lý nhân viên, tránh tạo ra nỗi sợ mất việc. Các công ty cũng tận dụng kinh nghiệm tích lũy nhiều thập kỷ của nhóm lao động lớn tuổi để hỗ trợ đào tạo nội bộ.
Tuy nhiên, sự tồn tại của nhóm "nhân viên cửa sổ" gây ra những phản ứng trái chiều từ đồng nghiệp trẻ. Khảo sát của công ty tư vấn Shikigaku với những nhân sự từ 20 đến 39 tuổi cho thấy, gần 50% xác nhận công ty họ có "người cao tuổi không làm việc". Công việc chính của nhóm này thường là hút thuốc, ăn vặt, tán gẫu, lướt web hoặc chỉ ngồi nhìn.
90% thanh niên tham gia khảo sát cho biết nhóm "ngồi cạnh cửa sổ" tác động tiêu cực đến môi trường công sở. Họ cho rằng tình trạng này làm giảm tinh thần đồng đội, đẩy áp lực công việc sang người trẻ và gia tăng gánh nặng chi phí cho công ty.
Bà Lee Chang-wol, 80 tuổi, sống gần 40 năm trong ngôi nhà không cửa sổ tại đây. Nhà có lối vào rộng 1,2 m, bếp và phòng tắm thông nhau, phía trên là mạng lưới dây điện treo sát mái tôn. Cách đó một con đường 8 làn xe là các tòa chung cư cao tầng.
Khi đêm xuống, các tòa tháp chung cư sáng rực đối lập với bóng tối bao trùm Guryong. Ánh sáng yếu ớt của làng chỉ phát ra từ vài túp lều và cây thánh giá neon đỏ của nhà thờ. Khói bốc lên từ rác và than đang cháy dở.
Chính quyền thành phố đang giải tỏa khu vực này để tái thiết. Họ đề nghị bồi thường cho bà Lee 3.300 USD (khoảng 83 triệu đồng) và yêu cầu di dời trước giữa tháng 6. Nếu không thực hiện, bà sẽ bị cưỡng chế. Bà Lee từ chối vì số tiền này không đủ để tìm chỗ ở mới. "Chỉ sống qua ngày hôm nay đã đủ khó khăn rồi", bà nói.
Làng Guryong hình thành từ cuối thập niên 1980, khi người nghèo bị đẩy khỏi trung tâm Seoul để chuẩn bị cho Olympic 1988. Họ dựng nhà tạm từ vật liệu tận dụng. Vào thập niên 1990, Guryong từng có 10.000 cư dân với các cửa hàng tạp hóa, tiệm cắt tóc và hội đồng tự quản.
Tuy nhiên, chính quyền không công nhận những ngôi nhà này là hợp pháp. Seoul từng dựng màn che để giấu Guryong khỏi tầm mắt du khách quốc tế. "Họ bị biến thành vô hình dù vẫn sống ở đó", nhà nghiên cứu Lim Mi-ri nói.
Một số cư dân kiện thành phố, yêu cầu công nhận nơi ở hợp pháp để có quyền mua căn hộ mới và vay ngân hàng. "Nếu nơi chúng tôi sống không được coi là nhà, thì chúng tôi là gì?", bà Lee nói.
Cuộc sống tại làng thiếu hụt các dịch vụ cơ bản. Điện và nước được kéo tự phát. Do vật liệu dễ cháy, làng thường xuyên xảy ra hỏa hoạn. Vụ cháy tháng 1 vừa qua thiêu rụi một phần làng, khiến 180 người phải sơ tán. Ông Baek Su-hyeon, 66 tuổi, hiện ngủ trong một túp lều sau khi nhà cháy. Ông từ chối khoản hỗ trợ 4.000 USD vì không đủ khả năng trả tiền thuê nhà lâu dài. "Việc này giống như cướp bóc những người không còn nơi nào khác để đi", ông cho biết.
Từ năm 2023, chính quyền yêu cầu 1.107 hộ dân phải di dời. Thành phố dự kiến xây dựng 3.800 căn hộ mới, trong đó dành một phần cho cư dân cũ thuê lại. Tuy nhiên, hàng trăm người vẫn bám trụ để đòi quyền lợi.
Tại Seoul, giá bất động sản tăng nhanh hơn thu nhập khiến việc sở hữu nhà trở nên khó khăn. Số liệu từ Ngân hàng Kookmin cho thấy chỉ số PIR (tỷ lệ giá nhà trên thu nhập) tại Seoul đạt 15,2 vào cuối năm 2024. Một hộ gia đình trung bình mất hơn 15 năm tích lũy thu nhập mới có thể mua được một căn hộ. Với người nghèo ở Guryong, hy vọng có nơi ở mới càng xa vời.
Thành phố Seoul cho biết vẫn tiếp tục kế hoạch biến nơi này thành tổ hợp chung cư. Trong khi đó, những cư dân như bà Lee vẫn đang đấu tranh để được công nhận quyền cư trú.