Mục Lục
ToggleLiên quan đến vụ phụ huynh vào trường đánh học sinh 10 roi, ngày 7/4, thông tin từ UBND xã Lương Thế Trân (tỉnh Cà Mau) cho biết, xã đã giao Phòng Văn hoá – Xã hội chủ trì tổ chức kiểm điểm đối với Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phú Hưng A.
Còn đối với 2 giáo viên chủ nhiệm và bộ môn chứng kiến vụ việc, xã yêu cầu hiệu trưởng tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm theo thẩm quyền.
Trước đó nhà trường đã yêu cầu 2 giáo viên này làm tường trình sự việc, đồng thời tạm dừng đứng lớp trực tiếp đối với 2 giáo viên, điều chuyển sang thực hiện các công tác văn phòng.
Nhà trường cũng yêu cầu phụ huynh học sinh cam kết không tái phạm hành vi xâm phạm thân thể học sinh trong khuôn viên trường học; giáo dục lại hai học sinh; tăng cường nhắc nhở giáo viên và bảo vệ giám sát chặt chẽ việc phụ huynh ra vào trường trong các khung giờ cao điểm.
Theo lãnh đạo xã Lương Thế Trân, các đơn vị đang thực hiện kiểm điểm theo quy trình, sau khi có kết quả sẽ báo cáo về UBND xã.
Như Dân trí đã đưa tin, trước đó em K.V.G.H. có hành vi đánh em H.L.N.Y. (cùng học chung lớp 3 tại Trường Tiểu học Phú Hưng A). Giáo viên chủ nhiệm đã mời phụ huynh 2 bên làm việc và thống nhất hòa giải.
Phụ huynh của em Y. đã đưa ra yêu cầu rằng nếu em H. tiếp tục đánh em Y. thì “phải chịu đánh 10 roi”. “Giao kèo” này đã được bà ngoại của em H. và chính em H. chấp nhận.
Vào chiều 25/3, em H. và em Y. tiếp tục xảy ra mâu thuẫn dẫn đến va chạm. Sau khi nghe con kể lại sự việc, phụ huynh em Y. đã liên hệ với gia đình em H. để xử lý.
Phụ huynh của em Y. sau đó đã thực hiện việc đánh em H. 10 roi theo “giao kèo” thống nhất trước đó, với sự chứng kiến của giáo viên và bà ngoại em H..
Trình độ thạc sĩ có đủ tiêu chuẩn làm phó hiệu trưởng trường ĐH?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư số 17/2026/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ sở giáo dục ĐH, cơ sở giáo dục nghề nghiệp (gọi chung là hiệu trưởng và phó hiệu trưởng). Vậy trình độ thạc sĩ có được nằm trong ban giám hiệu?
Theo đó, tiêu chuẩn chung đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục ĐH là có phẩm chất đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thường xuyên, trực tiếp quản lý, điều hành công việc; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và có năng lực xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển cơ sở giáo dục ĐH.
Tiêu chuẩn cụ thể đối với hiệu trưởng là có trình độ tiến sĩ và có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn của cơ sở giáo dục ĐH, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu phù hợp với trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục.
Bên cạnh đó, có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục ĐH từ cấp trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên. Đồng thời có năng lực lãnh đạo, quản trị và phát triển cơ sở giáo dục ĐH có khả năng hợp tác phát triển, huy động nguồn lực cho cơ sở giáo dục ĐH.
Trước đó, luật Giáo dục ĐH năm 2012 yêu cầu hiệu trưởng có trình độ tiến sĩ, phải tham gia quản lý cấp khoa, phòng của cơ sở giáo dục ĐH ít nhất 5 năm nhưng không yêu cầu về kinh nghiệm giảng dạy 5 năm như quy định mới.
Còn luật Giáo dục ĐH sửa đổi năm 2018 lại chỉ yêu cầu hiệu trưởng trình độ tiến sĩ, có kinh nghiệm quản lý giáo dục ĐH mà không quy định bao nhiêu năm kinh nghiệm.
Như vậy, quy định mới khắt khe và cụ thể hơn khi vừa yêu cầu có 5 năm kinh nghiệm vừa yêu cầu có ít nhất 2 năm quản lý từ cấp trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên.
Ngoài những quy định chung như đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục ĐH cũng phải có tiêu chuẩn cụ thể là trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu vị trí công tác.
Riêng đối với các trường đào tạo ngành đặc thù (quy mô đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, nhóm ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài, nhóm ngành thể dục thể thao chiếm ít nhất 70% tổng quy mô đào tạo toàn trường), yêu cầu trình độ thạc sĩ trở lên trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với vị trí công tác.
Ngoài ra, có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục ĐH từ cấp phó trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên; có năng lực quản lý và phát triển các lĩnh vực cụ thể của cơ sở giáo dục ĐH.
Trước đây, tiêu chuẩn về cấp phó hiệu trưởng chưa được quy định trong luật Giáo dục và luật Giáo dục ĐH mà chỉ có trong Điều lệ trường ĐH năm 2014. Theo đó, Điều lệ nêu rõ phó hiệu trưởng trường ĐH phải có trình độ tiến sĩ, có uy tín và năng lực quản lý, đã tham gia quản lý cấp bộ môn hoặc tương đương trở lên ở trường ĐH ít nhất 5 năm.
Tuy nhiên, trường hợp trường ĐH không có đủ người có trình độ tiến sĩ thì có thể bổ nhiệm người có trình độ thạc sĩ, nhưng không giao phụ trách hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ.
Nếu được điều động từ cơ quan, tổ chức khác để bổ nhiệm vào chức vụ phó hiệu trưởng thì sau khi bổ nhiệm, phó hiệu trưởng phải là giảng viên cơ hữu hoặc cán bộ quản lý cơ hữu của nhà trường.
Có thể nói, thông tư mới ban hành có quy định chi tiết, chặt chẽ và thu hẹp hơn về trường hợp trình độ thạc sĩ được giữ chức vụ hiệu phó. Có nghĩa là chỉ những trường đào tạo ngành đặc thù (có thể do những ngành này hiếm tiến sĩ-NV) mới được bổ nhiệm người có trình độ thạc sĩ làm hiệu trưởng.
Trên thực tế, tại nhiều trường ĐH không đào tạo ngành đặc thù như quy định tại thông tư, vẫn có một số phó hiệu trưởng đang ở trình độ thạc sĩ. Như vậy, trong thời gian tới các hiệu phó phải học lên trình độ tiến sĩ để đáp ứng quy định.
Chàng trai 17 tuổi đạt 8.5 IELTS, điểm SAT cao nhất thế giới

Đức Thành, học sinh lớp 11 Toán 1, trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội, nhận kết quả SAT hôm 27/3. Đây là bài thi chuẩn hóa, được dùng rộng rãi trong xét tuyển đại học ở Mỹ và các nước châu Âu. Theo College Board, đơn vị tổ chức, ở mức điểm 1520, thí sinh đã lọt top 1% cao nhất thế giới.
"Em rất vui và bất ngờ, vì dự tính có thể sai 1-2 câu", Thành nói.
Đây là lần thứ hai Đức Thành tham gia bài thi này. Hồi tháng 8/2025, em đạt 1510 điểm (Đọc - Viết 750/800, Toán 760/800). Theo nam sinh, đề thi lần này thử thách hơn ở phần Đọc - Viết với nhiều từ vựng khó liên quan khoa học, chuyên ngành. Vì thế, Thành ưu tiên xử lý các câu dễ trước, sau đó đọc kỹ bài để đoán ngữ cảnh của từ vựng và hoàn thành các câu hỏi suy luận.
Thành cho biết bắt đầu tự học SAT từ hè năm ngoái, chủ yếu luyện đề từ các nguồn trên mạng, diễn đàn và bộ đề của College Board, kết hợp học từ vựng.
Dù học nhiều, em nhận ra lỗ hổng khi ôn luyện không có hệ thống, làm nhiều đề nhưng không thống kê lỗi sai, cũng không xác định được điểm yếu của mình. Việc sử dụng nguồn tài liệu rời rạc, không cập nhật cũng khiến em thiếu kỹ năng xử lý bài làm khi "thực chiến".
Sau lần thi đầu, nam sinh quyết định thay đổi phương pháp học. Cuối năm 2025, em đăng ký học tại một trung tâm luyện thi để xây dựng lại phương pháp, tập trung phân tích lỗi sai và rèn chiến thuật làm bài.
Với phần Toán, nhờ có nền tảng từ lớp chuyên, Thành không mất nhiều thời gian. Em chủ yếu học cách tận dụng Desmos - máy tính đồ thị được tích hợp sẵn trong phần mềm thi SAT - nhằm giải các câu khó nhanh và dễ dàng hơn, đồng thời làm lại đề nhiều lần để ghi nhớ dạng bài và tránh lặp lỗi.
Còn ở phần Đọc - Viết, thế mạnh của Đức Thành là ngữ pháp và từ vựng. Thành thường nâng cao vốn từ vựng bằng các bộ flashcard (thẻ từ vựng) theo chủ đề thường gặp trong SAT, kết hợp tham khảo đề thi học sinh giỏi và sách luyện thi để mở rộng vốn từ.
Để tránh áp lực về điểm số, Thành rèn thói quen bình tĩnh từ các buổi thi thử, tránh nộp bài sớm và luôn kiểm tra lại đáp án. Bên cạnh đó, em thường xuyên chơi cầu lông, đá bóng và ăn uống điều độ để giữ sức khỏe và tinh thần thoải mái.
Song song ôn luyện SAT, Đức Thành cũng tự luyện thi IELTS và đạt 8.5 hồi tháng 1. Trong đó, em đạt tuyệt đối hai kỹ năng Nghe, Đọc, còn Nói và Viết đạt 7.5. Theo thống kê của IELTS, chỉ khoảng 1% người thi ở Việt Nam đạt mức này trở lên.
Nam sinh nhìn nhận kết quả một phần từ nền tảng tiếng Anh từ nhỏ. Em không học "nhồi nhét", mà gắn tiếng Anh vào cuộc sống hàng ngày, tích cực giao tiếp với giáo viên bản xứ và đọc sách, nghe nhạc, xem phim bằng ngôn ngữ này. Hai cuốn sách tiếng Anh mà Thành yêu thích là "Cậu bé nhút nhát" và "Kiêu hãnh và định kiến".
Lên cấp 3, Thành có định hướng tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Song, do nhận thấy khả năng môn Toán không nằm trong top 10 toàn trường, em quyết định chuyển hướng sang tiếng Anh, vừa để thử sức, vừa để phát triển đam mê vốn có.
Thời gian đầu, em khá ngợp vì chưa từng tham gia cuộc thi học thuật tiếng Anh nào, khó theo kịp với tiến độ học của lớp. Sau đó, nhờ sự hỗ trợ của các thầy cô đội tuyển Anh, Thành dần bắt nhịp và tiến bộ rõ rệt. Kết quả, em giành giải nhì học sinh giỏi quốc gia.
Thầy Hà Duy Hưng, giáo viên chủ nhiệm lớp 11 Toán 1, nhận xét Thành là một học sinh toàn tài và nghiêm túc, được bạn bè yêu quý.
"Dù là thành viên đội tuyển quốc gia, Thành vẫn chăm chỉ lên lớp và học đều các môn. Em cũng là một lớp phó học tập trách nhiệm trong các hoạt động của trường, lớp", thầy nói.
Trước mắt, Đức Thành định sử dụng kết quả SAT và IELTS để xét tuyển đại học trong và ngoài nước, mong muốn đỗ vào ngành Dược học.
Hải Yến
Nguồn: https://vnexpress.net/chang-trai-17-tuoi-dat-8-5-ielts-diem-sat-cao-nhat-the-gioi-5057838.html
Thầy cô Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel

Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.




