Vụ việc nhóm học sinh lớp 5 viết giấy nhục mạ bạn cùng lớp với nhiều từ ngữ thô tục, phụ huynh bức xúc, đang gây xôn xao trên mạng xã hội, xảy ra tại lớp 5/4, Trường tiểu học Phan Chu Trinh, phường Phú Thạnh, TP.HCM.
Sự việc được các em học sinh tường trình là vào ngày thứ bảy (11.4.2026) một bạn tên B.N trong lớp đã phát những tờ giấy mẫu cho 7 bạn khác chơi chung nhóm và kêu các bạn chép lại những câu từ thô tục về M. Học sinh tên M. đã nhặt được một tờ giấy nhắc đến tên mình, em cho vào cặp. Sau đó mẹ của em phát hiện, liên lạc với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường đề nghị được giải quyết vì thấy vấn đề nghiêm trọng.
Trao đổi với PV Báo Thanh Niên chiều 21.4, chị V.T, mẹ của bé M. gửi kèm tờ giấy mà nhóm học sinh lớp 5 viết về con gái chị với những từ ngữ gây sốc. Đáng chú ý, nhiều câu từ được nhóm học sinh quy ước thành các mật mã là số và chữ cái.
Chiều 21.4, bà Lương Thị Thanh Lý, Hiệu trưởng Trường tiểu học Phan Chu Trinh, trả lời PV Báo Thanh Niên. Bà Lý cho biết vụ việc này có 4 bạn tham gia viết những câu nói thô tục về M., còn 4 bạn thấy từ bậy thì ném vào thùng rác. Các học sinh đều biết sai nhưng không ai báo thầy cô giáo.
Nhà trường đã đăng tải thông báo kết quả xử lý vụ việc lên Cổng thông tin điện tử của trường. “Thông qua sự việc này, nhà trường đã tăng cường giáo dục kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn minh, xây dựng môi trường học đường thân thiện, tôn trọng và tích cực; đồng thời nhắc nhở học sinh toàn trường nâng cao ý thức trong lời nói, hành vi, đặc biệt trong các mối quan hệ bạn bè…”, trích thông báo.
Đồng thời, bà Lý cho biết thời gian tới sẽ phải tiếp tục tăng cường giáo dục học sinh về an ninh mạng, truy cập mạng lành mạnh, bởi chính các giáo viên, phụ huynh đều sốc nặng khi nhiều học sinh ở trên lớp, ở nhà rất ngoan ngoãn, học lực tốt, nhưng mặt khác có thể viết những từ ngữ thô tục về bạn của mình, bị ảnh hưởng nặng từ TikTok…
Bà Lý cho hay các học sinh vi phạm đã được yêu cầu viết bản tường trình và đã có tổng cộng 4 lần xin lỗi: xin lỗi cha mẹ, xin lỗi cô giáo chủ nhiệm, cô Tổng phụ trách Đội, xin lỗi bạn M. riêng. “Có bạn còn mua quà tặng bạn M. Hôm thứ hai (20.4), cô giáo chủ nhiệm còn cho các bạn xin lỗi bạn M. trong tiết sinh hoạt lớp, có sự chứng kiến của phó hiệu trưởng nhà trường và cô Tổng phụ trách Đội”, bà Lý cho hay.
Bà Lý khẳng định việc xử lý kỷ luật học sinh như trên là tuân thủ Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT ngày 15.9.2025 của Bộ GD-ĐT quy định về khen thưởng, kỷ luật học sinh. Trong đó, điều 11 nêu nguyên tắc kỷ luật là “a) Bảo đảm tính chủ động, tích cực trong thực hiện nhiệm vụ và quyền của học sinh; giữ vững kỷ cương, nền nếp trong nhà trường; b) Tôn trọng, bao dung, khách quan, không định kiến, bảo đảm quyền được tham gia và lợi ích của học sinh đối với các vấn đề liên quan; c) Bảo đảm phù hợp đặc điểm tâm sinh lý, giới tính, thể chất, hoàn cảnh gia đình, đặc điểm văn hóa vùng miền của từng học sinh; d) Không sử dụng biện pháp kỷ luật mang tính bạo lực, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của học sinh”. Còn điều 13 hướng dẫn “Các biện pháp kỷ luật đối với học sinh tiểu học là a) Nhắc nhở; b) Yêu cầu xin lỗi”.
Đồng thời, các học sinh vi phạm lần này còn bị đánh giá không thực hiện tốt việc rèn luyện đạo đức trong tháng 4; không được đề nghị danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”.
Bà Lý cho rằng vụ việc này đã được nhà trường xử lý kịp thời, công bằng, khách quan, đúng quy trình, quy định.
Song, theo bà Lý, mẹ bé M., chưa đồng ý với cách xử lý của nhà trường. Mẹ bé M. yêu cầu các phụ huynh của 8 bé tham gia nhóm viết những từ ngữ bậy trên phải có mặt trong một buổi, cùng với 8 bé, chứng kiến con họ xin lỗi bé M., cha/mẹ bé M. cũng cần có mặt. Ý kiến này không được các phụ huynh đồng ý.
Bà Lý cho hay phụ huynh bé K.N (một trong 8 học sinh tham gia viết những từ ngữ thô tục cho bé M.), đã gửi văn bản đề nghị bảo vệ pháp lý cho con của họ, có đoạn: “Theo quy định của luật Trẻ em 2016 về việc bảo đảm danh dự, nhân phẩm và bảo vệ trẻ em khỏi các tác động tiêu cực về tâm lý, cũng như nguyên tắc giáo dục học sinh tiểu học theo Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT, chúng tôi nhận thấy việc tiếp tục yêu cầu học sinh xin lỗi lặp lại nhiều lần, đặc biệt trong bối cảnh phải thực hiện trước mặt nhiều phụ huynh và người lớn, không còn phù hợp với mục tiêu giáo dục ban đầu và có thể tạo ra áp lực tâm lý không cần thiết đối với trẻ…”.
Trong khi đó, chị V.T, mẹ của bé M., nói với PV Báo Thanh Niên, chị không đồng ý khi trong thông báo của Trường tiểu học Phan Chu Trinh về xử lý vụ việc ở lớp 5/4 đăng trên trang web trường, tên con của chị – là nạn nhân – thì được nêu công khai, còn không hề nhắc tới 8 học sinh đã có hành vi bạo lực học đường với con chị, trong khi việc bảo vệ trẻ em, bảo vệ quyền riêng tư của mọi học sinh là điều nhà trường cần phải làm.
Bên cạnh đó, chị không đồng ý với một điểm nữa trong thông báo của nhà trường nêu “có cha mẹ học sinh đã chở con tới nhà bạn D.M xin lỗi bạn và trao đổi cùng phụ huynh bạn M.”. Vì chỉ có 1 lần, sau khi sự việc xảy ra, cha và mẹ bạn K.N có tới nhà để trao đổi với chị, nhưng không chở theo con để xin lỗi bạn M. Phụ huynh này cũng hứa sẽ sắp xếp 1 buổi sẽ chở con gái tới gặp M. để xin lỗi, nhưng điều này chưa xảy ra.
Chị V.T cho rằng yêu cầu việc 8 học sinh vi phạm xin lỗi M., cần sự chứng kiến của phụ huynh 8 bạn, đồng thời có phụ huynh bé M., có cô chủ nhiệm, ban giám hiệu nhà trường chứng kiến, là “không có gì quá đáng hết”.
“Tôi chỉ nói là cả 8 bé này, mình mong muốn các bé tới phòng giáo viên chứ không phải đứng trước cả trường. Vì các bé đã làm sai với con tôi, con tôi cũng đang bị bạo lực tinh thần, con là nạn nhân, con tôi được phép nhận lời xin lỗi từ các bạn và lời xin lỗi có sự giám hộ của mẹ, chứ không phải tôi bắt các bé làm gì xấu hổ hết. Lời xin lỗi thành khẩn, thiện chí. Tôi muốn, sau khi các bé xin lỗi con mình, có phụ huynh ở đây, các bé sẽ hứa, sẽ không lặp lại việc này. Bởi năm nay là năm cuối cấp, nếu khi lên cấp 2, các bé học chung lớp, chung trường tiếp, nếu lặp lại chuyện này thì sao? Nên nếu chỉ xin lỗi M., mà không có phụ huynh của các bé, thì không có đủ sự răn đe, chế tài, các bé kia có thể lặp lại do tư thù cá nhân thì sao, đó là lo xa của một người mẹ”, chị V.T cho hay.
Chị V.T cho biết, bé M. sau 1 ngày nghỉ học thì đi học đầy đủ, nhưng tâm trạng không ổn định. Khi vào trường, các bạn đều chỉ trỏ hỏi “mày có ổn không”, “mày có làm gì đó thì người ta mới làm cho mày như vậy”. “Bé tỏ ra mình ổn cho mẹ vui, cho thầy cô và các bạn thấy mình bình thường nhưng về nhà thì bé không ổn, bé ngủ hay bị giật mình, bất ổn về tâm lý”, chị V.T kể.
Theo đề xuất của Bộ Giáo dục Hàn Quốc, “học tập nhận thức” được hiểu là các hoạt động giảng dạy do giáo viên hướng dẫn, mang tính luyện tập lặp lại các nội dung như ngôn ngữ và toán học.
Với trẻ dưới 36 tháng tuổi, các hình thức này sẽ bị cấm hoàn toàn. Đối với trẻ từ 3 tuổi trở lên, thời lượng học sẽ bị giới hạn tối đa 3 giờ mỗi ngày, tương đương 15 giờ mỗi tuần.
Chính sách này là một phần trong nỗ lực nhằm hạn chế tình trạng học sớm quá mức trong khu vực giáo dục tư nhân, dự kiến có hiệu lực sớm nhất từ nửa cuối năm sau, sau khi hoàn tất sửa đổi luật liên quan đến các cơ sở dạy thêm.
Bộ Giáo dục cho biết sẽ đưa các hình thức giảng dạy này vào nhóm “hành vi giảng dạy bị coi là gây hại”, qua đó tạo cơ sở pháp lý để cấm.
Các quy định mới được cho là sẽ tác động đáng kể đến các cơ sở thường được gọi là “mẫu giáo tiếng Anh”, vốn tổ chức chương trình học cả ngày với nội dung giảng dạy ngôn ngữ có cấu trúc.
Bên cạnh việc giới hạn thời lượng học, cơ quan quản lý cũng đề xuất cấm các hoạt động đánh giá mang tính cạnh tranh đối với trẻ nhỏ. Cụ thể, các cơ sở giáo dục tư nhân sẽ không được tổ chức kiểm tra viết hoặc vấn đáp nhằm mục đích xếp hạng, tuyển chọn hoặc phân lớp học sinh; đồng thời không được công bố kết quả đánh giá nội bộ.
Theo Bộ Giáo dục, các hoạt động như yêu cầu trẻ đọc lặp lại từ vựng trên bảng, làm bài tập trong vở hằng ngày, hoặc ghi nhớ dãy số theo trình tự và lặp lại cho đến khi đúng sẽ bị xếp vào nhóm “hành vi giảng dạy gây hại” và bị cấm theo quy định sửa đổi.
Tuy nhiên, việc triển khai các quy định này được dự báo sẽ gặp thách thức. Đại diện cơ quan quản lý thừa nhận vẫn tồn tại những “vùng xám” trong việc xác định thế nào là “học tập nhận thức”, do đó sẽ cần ban hành thêm hướng dẫn chi tiết và các bộ tình huống minh họa, dựa trên phương pháp giảng dạy, tài liệu và môi trường lớp học.
Một số ý kiến cũng bày tỏ lo ngại về khả năng lách luật, khi phụ huynh có thể cho trẻ học tại nhiều cơ sở khác nhau hoặc thuê gia sư riêng để vượt qua giới hạn thời lượng. Ngoài ra, các cơ sở giáo dục có thể điều chỉnh chương trình theo hướng tăng thời lượng các hoạt động được phân loại là trải nghiệm để tránh bị coi là vi phạm.
Song song với các biện pháp trên, Bộ Giáo dục cũng dự kiến siết chặt hoạt động quảng cáo sai lệch hoặc phóng đại của các cơ sở giáo dục tư nhân, bao gồm việc tự xưng là “mẫu giáo tiếng Anh”.
Theo đề xuất, mức phạt có thể lên tới 50% doanh thu liên quan, trần phụ thu được nâng lên 10 triệu won, đồng thời mở rộng cơ chế thưởng cho người tố cáo nhằm tăng cường thực thi.
Dù thừa nhận việc thực thi có thể còn hạn chế, cơ quan quản lý nhấn mạnh việc thiết lập một chuẩn mực rõ ràng về giới hạn học tập đối với trẻ nhỏ vẫn có ý nghĩa quan trọng.
Trong thời gian tới, Bộ Giáo dục Hàn Quốc sẽ triển khai khảo sát hằng năm về chi tiêu cho giáo dục tư nhân đối với trẻ nhỏ, đồng thời phối hợp với các tổ chức học thuật trong lĩnh vực giáo dục mầm non, khoa học thần kinh và nhi khoa nhằm nâng cao nhận thức về các phương pháp giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Đại diện Bộ Giáo dục nhấn mạnh mục tiêu của chính sách là bảo vệ quyền phát triển của trẻ em trong giai đoạn đầu đời - thời kỳ có ý nghĩa nền tảng đối với sự phát triển lâu dài.
Theo www.koreaherald.com
Châu, hiện là sinh viên năm cuối ngành Khoa học máy tính tại Đại học Pomona (Mỹ), nhận thư trúng tuyển từ ba ngôi trường Ivy League vào cuối tháng 2.
Cả ba đều trao khoản hỗ trợ toàn phần, gồm học phí, bảo hiểm, và sinh hoạt phí trong 5 năm, tổng giá trị khoảng 12-17 tỷ đồng ở mỗi trường.
"Đây vừa là thành quả của quá trình bền bỉ suốt 4 năm đại học, vừa giống như một tín hiệu xác nhận rằng mình thực sự thuộc về con đường nghiên cứu khoa học", Châu nói.
Ngày học lớp chuyên Anh ở trường THPT chuyên Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Châu đã mày mò tự học lập trình. Gõ từng dòng code đầu tiên để tạo ra sản phẩm và đưa lên mạng, Châu phấn khích thấy nhiều người sử dụng. Nhưng khi bước chân vào đại học, nữ sinh nhận ra bản thân không muốn dừng lại ở việc làm kỹ sư phần mềm mà còn muốn theo đuổi nghiên cứu.
Ngay từ kỳ đầu năm thứ nhất, Châu chủ động xin giáo sư cho thử sức, làm quen với lĩnh vực Robotics - Kỹ thuật robot. Cô sớm hiểu rằng công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro và trăn trở với câu hỏi làm sao để công nghệ đổi mới liên tục, nhưng an toàn.
Tới năm thứ hai, Châu làm một dự án mới và ngay lập tức thấy bản thân phù hợp với lĩnh vực Tương tác người - máy (Human-Computer Interaction - HCI), nơi có sự giao thoa giữa kỹ thuật, khoa học nhận thức và thiết kế.
"Mình muốn đóng góp cho cộng đồng bằng cách xây dựng những hệ thống đặt con người làm trung tâm", Châu nói.
Nghiên cứu này có tên "Tính thời điểm của việc nhìn lại dữ liệu trong các ứng dụng theo dõi sức khỏe trẻ sơ sinh", do Châu là đồng tác giả chính. Năm 2025, dự án nằm trong top 5% bài báo xuất sắc của Hội nghị về các yếu tố con người trong hệ thống máy tính của Hiệp hội Máy tính (ACM CHI) 2025 tại Nhật Bản.
Cùng năm, Châu thực hiện một đề tài khác cùng nhóm nghiên cứu ở Đại học Pomona và Stanford, đạt giải Bài báo xuất sắc (Top 1%) ở Hội nghị chuyên đề về Phần mềm và Công nghệ Giao diện Người dùng (ACM UIST) tại Hàn Quốc. Nghiên cứu tập trung vào thiết kế thuật toán AI để đưa ra phản hồi cho các họa sĩ kỹ thuật số nhằm cải thiện kỹ năng vẽ.
Nhờ những kết quả này, hồi tháng 2, Châu là một trong 8 sinh viên được Hiệp hội nghiên cứu máy tính (CRA) vinh danh là Nhà nghiên cứu xuất sắc bậc đại học trên toàn Bắc Mỹ, là sinh viên đầu tiên từ Đại học Pomona có thành tích này.
Châu nhìn nhận những dự án trên là thế mạnh giúp hồ sơ của mình nổi bật, bởi cho thấy tố chất bền bỉ và khả năng theo đuổi vấn đề đến cùng của một nhà nghiên cứu.
Cùng kỹ năng lập trình vững do liên tục trau dồi từ ngày mới vào đại học, Châu trúng tuyển vị trí thực tập sinh tại ba tập đoàn công nghệ lớn là Microsoft, Amazon và Qualcomm, sau đó làm thực tập sinh kỹ sư phần mềm ở bộ phận tối ưu hóa đồ họa vi tính tại Microsoft. Nữ sinh nhìn nhận trải nghiệm này giúp tích lũy kinh nghiệm, rèn tư duy phân tích và năng lực nghiên cứu trong môi trường công nghệ hàng đầu.
PGS Alexandra Papoutsaki, người hướng dẫn Châu từ năm thứ hai đại học, nhận xét nữ sinh sở hữu kỹ năng kỹ thuật xuất sắc lẫn tư duy nhạy bén trong các nghiên cứu lấy con người làm trung tâm.
Theo bà, tương tác người - máy không chỉ đơn thuần là xây dựng một sản phẩm, mà còn là "khả năng kể một câu chuyện xoay quanh sản phẩm đó". Châu có khả năng kết nối với mọi người để phân tích dữ liệu và viết nên những nội dung có sức thuyết phục cao.
"Kỹ năng của Châu tương đương với một nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ ba", bà khẳng định.
Châu nói từng gặp không ít áp lực, nhất là giai đoạn vừa phải học, luyện kỹ năng lập trình, làm nghiên cứu và ứng tuyển thực tập. Nữ sinh cố gắng duy trì kỷ luật nghiêm ngặt, lên kế hoạch chi tiết theo từng tuần. Dù vậy, Châu cũng không vùi đầu vào công việc mà sắp xếp thời gian tập thể thao, chơi piano hàng ngày và ngủ đủ để cân bằng.
Song song, mỗi khi có cơ hội, chẳng hạn như tham dự hội thảo quốc tế, Châu chủ động trao đổi, kết nối với các giáo sư và nhà nghiên cứu trong ngành, vừa để mở rộng mạng lưới, vừa để lấy động lực cho bản thân.
"Cộng đồng nghiên cứu của ngành này vừa giỏi và sáng tạo, vừa quan tâm đến việc phát triển công nghệ cho con người. Mỗi lần được gặp họ, mình được truyền cảm hứng rất nhiều", Châu tâm sự.
Đây cũng là một trong những lý do để Châu chọn theo chương trình tiến sĩ sau khi ra trường dù trúng tuyển một số công ty công nghệ.
Khi cân nhắc những "bến đỗ", Châu nộp đơn vào các trường Ivy League để có cơ hội tận dụng thế mạnh liên ngành của họ. Theo nữ sinh Việt, đây là những môi trường mà công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, tạo nền tảng thuận lợi để theo đuổi lĩnh vực tương tác người – máy, vượt qua giới hạn của ngành khoa học máy tính thuần túy.
Nhìn lại hành trình, Châu thích nhất việc được tìm hiểu một dự án, sau đó biện luận, phát triển những ý tưởng riêng, rồi tự tay lập trình và thử nghiệm sản phẩm. Cô thấy công việc nghiên cứu là tổng hòa của rất nhiều hoạt động mà mình đam mê, nên càng có động lực theo con đường khoa học.
Châu vẫn đang cân nhắc giữa ba ngôi trường "trong mơ". Dù lựa chọn thế nào, định hướng sắp tới của Châu vẫn xoay quanh việc xây dựng các tương tác an toàn giữa con người và AI.
Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.