Theo báo New York Times, khi chiếc F-15 bị bắn rơi, viên sĩ quan hệ thống vũ khí ngồi ở ghế sau đã tiếp đất bằng dù. Sĩ quan này bị thương nhưng vẫn có thể đi lại được. Sau đó người này leo lên một sườn núi cao khoảng 2.100m trước khi ẩn náu trong một khe đá.
Trong tình huống sinh tử như vậy, bộ đồ tác chiến được trang bị trên người sĩ quan đóng vai trò then chốt, khi tích hợp sẵn thiết bị liên lạc CSEL cùng thực phẩm, nước uống, vật dụng sơ cứu và một khẩu súng ngắn.
CSEL (Combat Survivor Evader Locator – tạm dịch: Thiết bị định vị cho người sống sót và lẩn tránh trong chiến đấu) là hệ thống do Hãng Boeing phát triển.
Thiết bị nặng khoảng 800 gam, có độ bền cao, có thể hoạt động ngay cả sau khi bị ngâm nước ở độ sâu 10 mét và duy trì chế độ chờ lên đến 21 ngày.
Điểm khác biệt của CSEL so với các thiết bị liên lạc thông thường là thiết bị sử dụng tín hiệu mã hóa kết hợp công nghệ nhảy tần, giúp giảm đáng kể khả năng bị phát hiện hoặc gây nhiễu.
Ngoài ra thiết bị còn có nút khẩn cấp để phát tín hiệu không mã hóa trong tình huống nguy hiểm.
CSEL cũng được tích hợp bản đồ, dữ liệu nhiệm vụ và có thể kết nối với hệ thống vệ tinh quân sự, đảm bảo duy trì liên lạc liên tục.
Nhờ cơ chế phát tín hiệu cực ngắn và thay đổi tần số liên tục, thông tin về vị trí và tình trạng của phi công vẫn được truyền đi một cách kín đáo về trung tâm chỉ huy. Đồng thời thiết bị còn cho phép nhận lại hướng dẫn từ lực lượng giải cứu, chẳng hạn như di chuyển đến khu vực an toàn hơn trong lúc chờ giải cứu.
Trong gần 48 giờ đầy căng thẳng, phi công duy trì trạng thái ẩn mình, chỉ bật CSEL theo từng khoảng thời gian để tiết kiệm pin và hạn chế nguy cơ bị dò tìm.
Ngày 3-4, khi “hàng chục máy bay” (theo lời kể của Tổng thống Donald Trump) và hàng trăm lính đặc nhiệm, bao gồm biệt kích SEAL Team 6 (Đội 6 SEAL) của Hải quân Mỹ tiến gần, thiết bị được chuyển sang chế độ dẫn đường chính xác, giúp xác định vị trí theo thời gian thực để chiến dịch cứu hộ diễn ra thành công.
"Bất chấp lệnh ngừng bắn, Israel đã buộc 1,2 triệu người Lebanon phải rời bỏ nhà cửa do các cuộc tấn công vào các khu định cư dân sự", Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan cáo buộc khi phát biểu tại Hội nghị các đảng chính trị châu Á quốc tế ở thành phố Istanbul, theo The Jerusalem Post.
Trước đó, Văn phòng Thủ tướng Israel ngày 8.4 thông báo ủng hộ quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc tạm ngừng tấn công Iran trong 2 tuần, nhưng nhấn mạnh việc ngừng bắn không áp dụng cho Lebanon, theo Reuters.
Ông Erdogan tiếp tục mô tả các hành động của Israel là "man rợ", đồng thời trích dẫn một đạo luật gây tranh cãi gần đây được quốc hội Israel thông qua để phê chuẩn án tử hình đối với những kẻ khủng bố, mà nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng chỉ dành "cho các tù nhân Palestine", theo The Jerusalem Post.
Cũng theo tờ báo này, trả lời câu hỏi của phóng viên sau đó trong ngày, ông Erdogan đã có những phát ngôn ám chỉ rằng Ankara có thể lựa chọn can thiệp quân sự vào Israel. "Chúng ta phải mạnh mẽ để ngăn Israel làm điều này với Palestine... Không có gì ngăn cản chúng ta làm điều đó", The Jerusalem Post dẫn lời nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ.
The Jerusalem Post còn đưa tin đáp lại phát ngôn trên của Tổng thống Erdogan, Bộ trưởng Di sản Israel Amichai Eliyahu (Otzma Yehudit) đã kịch liệt lên án những phát ngôn và lập trường của ông Erdogan, đồng thời cáo buộc nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đạo đức giả.
Trong khi đó, trang tin Türkiye Today ngày 12.4 đưa tin Trung tâm Chống Thông tin sai lệch của Thổ Nhĩ Kỳ đã chính thức bác bỏ một câu nói mang cảnh báo quân sự được gán cho Tổng thống Erdogan đang được lan truyền trên mạng xã hội, khẳng định câu nói đó là hoàn toàn bịa đặt.
Theo câu nói gây tranh cãi đó, ông Erdogan đã tuyên bố bất kỳ cuộc tấn công nào vào Iran hoặc Lebanon sẽ bị coi là một cuộc tấn công vào Thổ Nhĩ Kỳ.
Trung tâm Chống thông tin sai lệch còn khẳng định việc gán ghép sai thông tin không phải là ngẫu nhiên mà là một phần của ý đồ bắt nguồn từ một nguồn cụ thể, nhưng trung tâm không xác định nguồn đó một cách công khai, theo Türkiye Today.
Công bố kế hoạch sau cuộc họp "AZEC Plus" thuộc sáng kiến Cộng đồng không phát thải châu Á (AZEC), Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi ngày 15.4 cho biết quy mô hỗ trợ tương đương khoảng 1,2 tỉ thùng dầu, tương ứng gần một năm nhập khẩu dầu thô của ASEAN.
Cuộc họp có sự tham dự của lãnh đạo Philippines, Malaysia, Singapore, Thái Lan và một số nước khác trong khu vực.
"Chúng tôi có mối liên kết chặt chẽ với các nước châu Á thông qua chuỗi cung ứng và nhiều kênh khác, và chúng tôi phụ thuộc lẫn nhau. Việc hỗ trợ chuỗi cung ứng của châu Á cũng sẽ thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản", bà Takaichi nói.
Gói hỗ trợ nêu trên sẽ được triển khai thông qua các tổ chức tài chính do chính phủ Nhật Bản hậu thuẫn như Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Công ty bảo hiểm xuất khẩu và đầu tư Nhật Bản (NEXI), nhằm hạn chế tác động lan tỏa đến chuỗi cung ứng của Tokyo, theo Reuters.
Theo kế hoạch, Nhật Bản sẽ cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp địa phương để mua các nguồn năng lượng thay thế như dầu thô từ Mỹ, đồng thời tài trợ và cho vay đối với các doanh nghiệp và chính phủ nằm trong chuỗi cung ứng của Tokyo. Gói hỗ trợ cũng bao gồm đầu tư xây dựng cơ sở lưu trữ nhằm đa dạng hóa nguồn cung và tăng dự trữ năng lượng cho các nước đối tác.
So với Nhật Bản, nhiều quốc gia Đông Nam Á có dự trữ dầu mỏ hạn chế, khiến nguồn cung dầu thô và các sản phẩm như naphtha - nguyên liệu chính sản xuất nhựa - dễ rơi vào tình trạng thiếu hụt khi thị trường biến động.
Những gián đoạn sản xuất tại Đông Nam Á gần đây đã làm dấy lên lo ngại trong ngành y tế Nhật Bản, vốn phụ thuộc vào khu vực này để cung ứng các vật tư như hộp đựng, ống nghiệm và găng tay.
Theo Cơ quan tài nguyên và năng lượng Nhật Bản, khoảng 90% lượng dầu thô đi qua eo biển Hormuz được vận chuyển tới châu Á. Nhật Bản cho biết đã bảo đảm đủ nguồn naphtha cho khoảng 4 tháng nhu cầu nội địa, song ngày càng nhiều doanh nghiệp phản ánh tình trạng gián đoạn nguồn cung.
Trước đó, ngày 14.4, chính phủ Nhật Bản cũng thông báo kế hoạch giải phóng thêm 36 triệu thùng dầu từ kho dự trữ quốc gia, bắt đầu từ đầu tháng 5.
Trả lời câu hỏi về khả năng các nước đề nghị tiếp cận kho dự trữ dầu của Nhật sau cuộc họp AZEC Plus, bà Takaichi từ chối bình luận, đồng thời nhấn mạnh khuôn khổ hỗ trợ mới không liên quan đến việc giải phóng dự trữ dầu và sẽ không ảnh hưởng đến nguồn cung trong nước.
Theo báo Guardian ngày 13-4, Bộ trưởng Môi trường Colombia Irene Vélez cho biết quyết định tiêu hủy hà mã được đưa ra sau khi nhiều biện pháp khác - như triệt sản hoặc di dời tới sở thú - đều bộc lộ hạn chế, vừa tốn kém vừa không hiệu quả.
Bà Vélez cho biết khoảng 80 con có thể bị tiêu hủy, song thời điểm triển khai vẫn chưa được ấn định. "Nếu không hành động, chúng ta sẽ không thể kiểm soát số lượng của chúng. Đây là biện pháp cần thiết để bảo vệ hệ sinh thái" - bà nhấn mạnh.
Colombia hiện là quốc gia duy nhất ngoài châu Phi có quần thể hà mã sống hoang dã.
Đàn thú này là hậu duệ của 4 cá thể do trùm ma túy khét tiếng Pablo Escobar đưa về nuôi những năm 1980, trong vườn thú tư nhân tại điền trang Hacienda Nápoles, thuộc thung lũng sông Magdalena.
Theo nghiên cứu của Đại học Quốc gia Colombia, tính đến năm 2022, số hà mã ngoài tự nhiên đã lên tới khoảng 170 con, thậm chí chúng còn xuất hiện ở những khu vực cách xa trang trại cũ hơn 100km.
Giới chức môi trường cảnh báo hà mã là loài động vật to lớn, hung dữ, tiềm ẩn nguy cơ đối với người dân. Không chỉ vậy, chúng còn cạnh tranh nguồn thức ăn và môi trường sống với các loài bản địa.
Tuy nhiên sự hiện diện của hà mã cũng mang lại lợi ích kinh tế nhất định. Người dân quanh Hacienda Nápoles đã tận dụng hà mã để phát triển các tour tham quan và kinh doanh sản phẩm lưu niệm theo chủ đề này.
Khu điền trang sau khi bị chính phủ tịch thu cũng được cải tạo thành công viên giải trí với hồ bơi, đường trượt nước và sở thú.
Hiện kế hoạch tiêu hủy hà mã vấp phải làn sóng phản đối từ các nhà bảo vệ động vật. Nghị sĩ Andrea Padilla gọi đây là quyết định "tàn nhẫn" và là cách tiếp cận "dễ dãi" của chính phủ.
"Giết chóc không bao giờ có thể được chấp nhận. Những con vật này chỉ là nạn nhân của sự tắc trách từ con người" - bà viết trên mạng xã hội X.
Trong hơn một thập niên qua, Colombia đã thử triệt sản một số cá thể nhằm hạn chế sinh sản, nhưng chi phí cao cùng rủi ro khi tiếp cận loài vật nguy hiểm khiến biện pháp này không đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Bên cạnh đó, việc đưa chúng trở lại châu Phi cũng không khả thi, do những vấn đề liên quan đến di truyền và nguy cơ lây lan dịch bệnh cho quần thể bản địa.