Mục Lục
ToggleKhánh Linh
Nguồn: https://vnexpress.net/nuoc-nao-co-quoc-ky-lau-doi-nhat-the-gioi-5058614.html

Đến trưa nay (5.4), thí sinh đã hoàn tất kỳ thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM đợt 1. Ngay sau buổi thi, ĐH Quốc gia TP.HCM có báo cáo nhanh về tình hình thí sinh dự thi, trong đó có việc công bố điểm thi.
Theo đó, 133.489 thí sinh chính thức bước vào kỳ thi, đạt tỷ lệ 98,33% so với số thí sinh đăng ký dự thi - cao nhất từ trước tới nay.
Thông tin từ ĐH Quốc gia TP.HCM cũng nêu, công tác tổ chức kỳ thi được triển khai đồng bộ, chặt chẽ ở tất cả các công đoạn. Từ công tác in sao, bảo mật và vận chuyển đề thi đến các điểm thi đều được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt, có sự phối hợp của các lực lượng chức năng nhằm bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối. Tại các điểm thi, công tác coi thi được tổ chức đúng quy chế; đội ngũ cán bộ coi thi, giám sát và lực lượng hỗ trợ được tập huấn đầy đủ, thực hiện nhiệm vụ nghiêm túc, góp phần bảo đảm kỳ thi diễn ra an toàn, khách quan và đúng quy định.
Theo kế hoạch, ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ bắt đầu tổ chức chấm thi đánh giá năng lực đợt 1 từ ngày mai (6.4) và công bố kết quả vào ngày 17.4. Năm nay, ĐH này sẽ không gửi giấy báo điểm cho thí sinh qua đường bưu điện, thí sinh tra cứu kết quả thông qua tài khoản cá nhân khi đăng ký dự thi.
Thời gian đăng ký đợt 2 bắt đầu từ ngày 18.4 đến hết ngày 25.4. Kỳ thi được tổ chức vào ngày 24.5 tại 36 đơn vị thuộc 9 tỉnh, thành phố gồm: Huế; Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Đồng Tháp và An Giang. Kết quả thi đợt 2 dự kiến được công bố vào ngày 6.6.
Năm 2025, kỳ thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM thu hút khoảng 152.000 thí sinh với hơn 223.000 lượt đăng ký dự thi tại 55 điểm thi thuộc 25 tỉnh, thành phố. 111 cơ sở giáo dục ĐH-CĐ sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển. Riêng trong hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, phương thức này chiếm hơn 56% tổng chỉ tiêu tuyển sinh. Năm nay, điểm thi đánh giá năng lực dự kiến được hơn 100 trường ĐH-CĐ trên toàn quốc sử dụng trong công tác tuyển sinh.
Giáo Dục
Đề xuất tăng lương giáo viên mầm non, kéo dài nghỉ thai sản lên 12 tháng

Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Áp lực lớn tại các đô thị, khu công nghiệp
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý - quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
"Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội", ông Vinh nhấn mạnh.

Các chuyên gia giáo dục của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) - Ảnh: NTCC
Trong buổi chia sẻ trực tuyến của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS), cô Đỗ Minh Châu, Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh cho rằng đích đến không đơn thuần là tốt nghiệp lớp 12 và trúng tuyển đại học, mà là việc học sinh có đủ năng lực, bằng cấp và hồ sơ để vào đúng trường, đúng ngành phù hợp với bản thân.
Mỗi hệ thống đại học trên thế giới có một ‘gu’ tuyển sinh riêng. Các trường tại Mỹ và Canada thường đánh giá cao hồ sơ toàn diện trong đó kết quả học tập chỉ chiếm khoảng 40-50%, còn lại là hoạt động ngoại khóa, kỹ năng lãnh đạo và bài luận cá nhân.
Trong khi đó, các trường tại Anh và Úc lại đặt trọng tâm vào năng lực học thuật xuất sắc, được khẳng định qua các chứng chỉ học thuật chuyên sâu như Cambridge IGCSE và A Level.
Tại Việt Nam, dù là các trường quốc tế hay các đại học công lập hàng đầu, yêu cầu tiên quyết vẫn là nền tảng học thuật vững chắc kết hợp với kỹ năng thế kỷ 21 đặc biệt là năng lực số, kỹ năng tự học và thích ứng để học sinh có thể thành công trong môi trường đại học đầy cạnh tranh.
Do đó, tùy vào quốc gia con muốn đến, bộ hồ sơ năng lực cần được ‘đo ni đóng giày’ ngay từ sớm chứ không thể ‘làm đẹp cấp tốc’ trong giai đoạn cuối cấp.
Cô Đỗ Minh Châu - Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS)
Tại VAS, hồ sơ này được nhà trường đồng hành cùng học sinh xây dựng ngay từ lớp 8 thông qua chương trình Tư vấn Hướng nghiệp và Chuẩn bị vào đại học (UCCC).
Trong đó, học sinh được tư vấn cá nhân hoá xuyên suốt đến lớp 12, giúp các em xác định ‘đích đến’ phù hợp với bản thân, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước đạt được mục tiêu.
Theo cô Kelcie Jean Lamont - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non và Tiểu học, cơ sở VAS Riverside: ‘Thành công ở năm lớp 12 không bao giờ là sự ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một hành trình đã được bắt đầu từ nhiều năm trước đó’.
Khi chúng ta nhìn thấy một học sinh đứng trên sân khấu với học bổng toàn phần hoặc điểm A tuyệt đối ở A Levels, chúng ta không chỉ đang nhìn vào một năm nỗ lực, đó thực chất là ‘trái ngọt’ từ một nền tảng chiến lược được xây dựng bền bỉ suốt những năm Tiểu học và Trung học.
Cô Kelcie Jean Lamont - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non & Tiểu học, cơ sở VAS Riverside
Theo các chuyên gia, để thành công trong môi trường toàn cầu, bên cạnh học thuật, học sinh cần được trang bị các kỹ năng cốt lõi cho tương lai như: Kỹ năng số & tư duy AI; bộ kỹ năng thế kỷ 2 (giao tiếp, phản biện, tự học) và quan trọng nhất đó là kỹ năng thích nghi thực tế, luôn giữ cho bản thân vững vàng cân bằng trước mọi biến động.
Đây cũng chính là những năng lực mà học sinh được nuôi dưỡng và phát triển trong suốt hành trình 15 năm từ bậc mầm non tới lớp 12 tại VAS.
Cô Nguyễn Thu Hà, Hiệu trưởng Hệ thống cho biết: VAS hiện đang giảng dạy 3 lộ trình học song ngữ, tất cả đều có đầu ra là bằng cấp, chứng chỉ Cambridge có giá trị toàn cầu gồm: Lộ trình Tích hợp Quốc tế Toàn phần Cambridge (CAPI); Lộ trình Song ngữ Học thuật Cambridge (CAP); Lộ trình Tiếng Anh Cambridge Chuyên sâu (CEP); Cùng các chương trình giáo dục toàn diện như: giá trị cốt lõi, sức khoẻ well-being, ngoại khoá, UCCC...
Do đó, dù học sinh có nhu cầu và ‘đích đến’ ở đâu cũng có thể tìm được lộ trình học phù hợp để được hỗ trợ tối ưu.
Hiệu trưởng Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) - Cô Nguyễn Thu Hà
Hành trình 15 năm học tại VAS được thiết kế rõ ràng theo từng giai đoạn gồm:
- Mầm non - Gieo hạt : Trẻ làm quen với chương trình giáo dục mầm non Cambridge, phát triển toàn diện và hình thành sự tự tin, khả năng giao tiếp và tình yêu học tập.
- Tiểu học - Xây nền học thuật và tư duy : Học sinh phát triển tiếng Anh học thuật, tư duy logic và kỹ năng tự học; sử dụng tiếng Anh để học các môn học thuật Cambridge và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Tiểu học.
- THCS (Lớp 6-8) - Định hướng cá nhân : Học sinh khám phá bản thân, xác định thiên hướng; đồng thời rèn luyện các kỹ năng quan trọng như tư duy phản biện, nghiên cứu, thuyết trình, quản lý dự án và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Trung học.
- THPT (Lớp 9-12) - Tăng tốc : Học sinh xác định mục tiêu rõ ràng và lập kế hoạch chi tiết để từng bước ‘về đích’. Đầu ra chứng chỉ IGCSE và A Levels chính là ‘tấm vé thông hành’ đến các trường đại học hàng đầu thế giới, tuyển thẳng vào nhiều đại học lớn ở Việt Nam, đồng thời giúp học sinh tăng lợi thế khi ‘săn’ họ bổng và có thể rút ngắn gần 1 năm học đại học nhờ được miễn tín chỉ khi quy đổi điểm A Level.
Đây chính là những yếu tố giúp học sinh không chỉ trúng tuyển vào đại học mà còn là bệ phóng để các em phát triển và vững bước thành công trong tương lai.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

