Tại buổi tọa đàm “The Japanese Way of Living and The Art of Caring at Nobu”, các chuyên gia đã cùng giải mã “mật mã” tạo nên sức hút mãnh liệt của đế chế Nobu trên bản đồ phong cách sống toàn cầu. TS. Vũ Kỳ – Chuyên gia văn hóa và Lịch sử Nhật Bản cho biết: “Kokoro là kim chỉ nam trong cách người Nhật sống và làm việc. Vì vậy, trong dịch vụ, họ không chỉ “phục vụ”, mà trao đi sự tận tâm – một cách tự nhiên, chân thành và xuất phát từ chính nội tâm.”
Tại Nobu, Kokoro chưa bao giờ là một khẩu hiệu xa vời, mà chính là dòng chảy DNA xuyên suốt hệ thống có mặt ở toàn cầu. Đó là một sự tỉ mỉ thầm lặng, nơi người đầu bếp có thể ghi nhớ vẹn nguyên khẩu vị riêng biệt của một vị khách dù họ chỉ mới ghé thăm một lần từ nhiều tháng trước, biến những tương tác vô hình thành mối gắn kết hữu hình đầy xúc cảm.
Hay tại các khách sạn Nobu, sự nhất quán trong dịch vụ không chỉ nằm ở trải nghiệm cảm xúc của khách hàng mà còn ở việc luôn chú tâm vào tạo nên ký ức đặc biệt – từ đó xây dựng sự gắn kết lâu dài với khách hàng và khiến họ quay trở lại.
Ông Morgan Ulaganathan – Chuyên gia BĐS Hospitality chia sẻ: “Trong khi nhiều thương hiệu khách sạn xây dựng sự sang trọng dựa trên các chuẩn mực dịch vụ, Nobu lại chọn một hướng đi khác – không có khuôn mẫu cố định. Sự nhất quán của Nobu nằm ở cảm xúc mà khách hàng nhận được, ở bất cứ đâu trên thế giới – điều mà rất ít nơi có thể làm được.”
Không bắt đầu từ không gian lưu trú, Nobu lựa chọn khởi nguồn hành trình trải nghiệm bằng ẩm thực. Nobu chọn kiến tạo sự gắn kết ngay trên bàn ăn – nơi vị giác trở thành “ngôn ngữ” đầu tiên dẫn lối thẳng đến trái tim.
Mê đắm mỹ vị tại các nhà hàng Nobu, những vị khách tinh hoa bắt đầu tìm kiếm cảm giác gắn kết với Nobu không chỉ trong 2 giờ đồng hồ của một bữa ăn. Mong muốn của những người hâm mộ nhiệt thành thôi thúc thương hiệu chuyển mình. Đến năm 2013, Nobu Hospitality đặt dấu ấn đầu tiên với Nobu Hotel Caesars Palace ở Las Vegas, chính thức đưa tinh thần của Nobu vào không gian lưu trú xa xỉ. Giờ đây, Nobu là một hiện tượng toàn cầu với hệ sinh thái 81 nhà hàng, 44 khách sạn và 16 tòa căn hộ khắp các châu lục cùng hơn 4 triệu “Nobu Enthusiasts – Tín đồ Nobu” bao gồm các siêu sao, chính khách và tỉ phú.
Ngày nay, thương hiệu Nobu được nhắc đến như một hành trình kết tinh hoàn hảo giữa mọi giác quan. Hành trình ấy khởi đầu từ những đặc quyền thưởng thức thực đơn trứ danh tại nhà hàng Nobu, nơi những món ăn là một biểu tượng sáng tạo trong ẩm thực. Sự thỏa mãn về vị giác ấy nhanh chóng được tiếp nối bởi sự thăng hoa của thị giác, khi cư dân được đắm chìm trong những đường nét kiến trúc tinh tế dưới bàn tay tài hoa của những kiến trúc sư ngôi sao. Không dừng lại ở đó, tâm hồn mỗi chủ nhân còn được vỗ về bởi những bản giao hưởng êm dịu của không gian sống “Quiet Luxury” đúng nghĩa.
Để dấu ấn cá nhân thêm phần sâu đậm, mỗi bước chân tại đây đều được dẫn dắt bởi mùi hương độc quyền của thương hiệu, tạo nên một định danh không gian riêng biệt và đầy tinh tế. Và cuối cùng, mọi trải nghiệm được kết tinh trọn vẹn ở cảm xúc thăng hoa thông qua những dịch vụ tận tâm theo triết lý Kokoro.
Tại Nobu Danang Residences, việc sở hữu một căn hộ không dừng lại ở một giao dịch bất động sản đơn thuần, mà được xem như “tấm vé đặc quyền” để bước chân vào cộng đồng thượng khách Nobu toàn cầu.
Ông Forest Lâm – Giám đốc Kinh doanh VCRE – nhấn mạnh rằng, Nobu Danang không xây dựng dựa trên tiêu chí hào nhoáng và phô trương, mà hướng đến những cá nhân trân trọng giá trị chiều sâu và sự tinh tế kín đáo. Đó là những doanh nhân thành đạt, các nhà hoạt động sáng tạo hay những trí thức tinh hoa – những người tìm thấy sự đồng điệu trong một môi trường sống phản chiếu đúng tư duy và hệ giá trị nhân văn của chính mình.
Sự gắn kết này được minh chứng qua một hành trình trải nghiệm khép kín: từ thượng khách trở thành người bạn thân thiết của thương hiệu, sau đó lựa chọn lưu trú tại hệ thống khách sạn Nobu và cuối cùng là khát khao sở hữu một không gian sống vĩnh cửu trong hệ sinh thái này để tận hưởng những đặc quyền cá nhân hóa cao nhất.
Tại Nobu Danang, mỗi khoảnh khắc trôi qua đều được chăm chút bằng tất cả sự chân thành, để ngôi nhà không chỉ là nơi trở về, mà là nơi mỗi cá nhân tìm thấy sự kết nối sâu sắc nhất với chính mình và cộng đồng cùng đẳng cấp trên toàn cầu.
Đài Khí tượng thủy văn Nam bộ cho biết, ngày hôm qua (6.4), các tỉnh miền Đông nắng nóng tiếp tục xuất hiện diện rộng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất ghi nhận được tại Phước Long 37,2 độ C, Tây Ninh 37 độ C, Đồng Phú 36,8 độ C, Biên Hòa 36,1 độ C. Độ ẩm tương đối thấp nhất dao động từ 36 - 55%, thấp nhất là Long Khánh 36,4%. Tại TP.HCM nhiệt độ tại trạm Tân Sơn Nhất là 35 độ C, Sở Sao là 36,5 độ C.
Bản đồ nhiệt ở TP.HCM và Nam bộ
NGUỒN: ĐÀI KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN NAM BỘ
Nắng nóng cũng mở rộng sang nhiều khu vực ở miền Tây như Châu Đốc 36,2 độ C; Cao Lãnh 35,5 độ C, Vĩnh Long 35,2 độ C, Càng Long 35,5 độ C.
Dự báo khu vực Nam bộ hôm nay (7.4) tiếp tục có nắng nóng diện rộng, miền Đông có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất đến 38 độ C.
Tại TP.HCM, nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 36 độ C, một số khu vực có thể đạt mức 37 độ C như: Thủ Đức, Gò Vấp, Tân Bình, Hóc Môn, Thuận An, Thủ Dầu Một… Độ ẩm thấp nhất từ 30 - 45%. Đáng chú ý, thời gian nắng nóng trong ngày kéo dài đến 4 giờ chiều và nhiệt độ cảm nhận có thể cao hơn phổ biến từ 2 - 4 độ C so với nhiệt độ khí tượng tùy thuộc và điều kiện bê tông và nhựa đường cụ thể. Do thời gian có nắng và nắng nóng kéo dài trong ngày nên cảm giác nóng bức mở rộng đến tận khoảng 20 - 21 giờ đêm.
Hiện tại đang là giai đoạn đỉnh điểm mùa khô ở Nam bộ, dự báo nắng nóng trên khu vực tiếp tục kéo dài trong nhiều ngày tới. Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng trên khu vực ở cấp 1.
Do ảnh hưởng của nắng nóng, độ ẩm không khí thấp nên có nguy cơ xảy ra cháy nổ, hỏa hoạn ở khu vực dân cư và cháy rừng. Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước, kiệt sức, đột quỵ do sốc nhiệt đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nhiệt độ cao.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Theo Cục Hàng không Việt Nam, việc xây dựng Thông tư nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy định của luật Hàng không dân dụng Việt Nam và luật Giá.
Dự thảo cũng hướng tới tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, vì thế có bổ sung một số nội dung mới, trong đó có chính sách ưu đãi giá tại các cảng hàng không mới.
Cụ thể, đối với các hãng hàng không khai thác chuyến bay quốc tế thường lệ đi và đến Cảng hàng không quốc tế Long Thành và duy trì hoạt động tối thiểu 12 tháng liên tục (không bao gồm các hãng đã khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất trong ít nhất 12 tháng trước thời điểm Long Thành đi vào hoạt động), Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng mức giá bằng 50% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh theo quy định. Thời gian ưu đãi kéo dài trong 24 tháng kể từ khi bắt đầu khai thác.
Đối với các hãng hàng không khai thác chuyến bay thường lệ tại các cảng hàng không mới khác của Việt Nam (ngoại trừ Long Thành) và duy trì hoạt động tối thiểu 12 tháng liên tục, cũng sẽ được hưởng mức giá bằng 50% giá dịch vụ cất, hạ cánh trong thời hạn 24 tháng kể từ khi cảng hàng không được đưa vào khai thác.
Trong quá trình xây dựng dự thảo, các doanh nghiệp cơ bản đồng thuận về sự cần thiết ban hành chính sách ưu đãi giá đối với các cảng hàng không mới nói chung và Cảng hàng không quốc tế Long Thành nói riêng, nhằm thu hút các hãng hàng không tham gia khai thác.
Bên cạnh các chính sách ưu đãi tại các cảng hàng không mới, dự thảo cũng đề xuất loại bỏ một số dịch vụ khỏi danh mục do Nhà nước định giá như: Dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không (chuyển sang cơ chế phí); dịch vụ cho thuê mặt bằng tại cảng hàng không, sân bay; dịch vụ cơ bản, thiết yếu tại cảng hàng không; nhượng quyền khai thác dịch vụ kỹ thuật hàng không.
Ở chiều ngược lại, dự thảo bổ sung vào danh mục do Nhà nước định giá đối với hoạt động nhượng quyền khai thác dịch vụ bảo dưỡng tàu bay, động cơ, cánh quạt và các trang thiết bị tàu bay tại Việt Nam.
Ngoài ra, Bộ Xây dựng cũng đã làm rõ thêm các nội dung nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, như quy định giá dịch vụ đối với các chuyến bay đào tạo, huấn luyện; hoặc trường hợp tàu bay phải hạ cánh tại địa điểm khác so với kế hoạch ban đầu do các yếu tố bất khả kháng.