Liên quan đến đề xuất miễn phí xe buýt tại TP.HCM, PV Thanh Niên có cuộc trao đổi với ông Bùi Hòa An (ảnh), Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, về mục tiêu, lộ trình và đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách.
Mục tiêu lớn nhất của chính sách miễn phí xe buýt là gì, thưa ông?
Trước hết, phải khẳng định đây là chính sách an sinh xã hội, nhằm hỗ trợ người dân giảm chi phí đi lại trong bối cảnh giá nhiên liệu và chi phí sinh hoạt tăng cao. Xa hơn, TP.HCM kỳ vọng thông qua chính sách này sẽ tạo chuyển biến về hành vi giao thông.
Khi người dân dần chuyển từ xe cá nhân sang phương tiện công cộng, TP.HCM có thể giảm ùn tắc, giảm tai nạn giao thông và giảm ô nhiễm môi trường.
Hiện mạng lưới xe buýt TP.HCM ra sao, và những tuyến nào sẽ miễn phí?
Hiện TP.HCM có khoảng 180 tuyến xe buýt, gồm 135 tuyến nội tỉnh và 45 tuyến liên tỉnh. Các tuyến liên tỉnh xuất phát từ nhu cầu riêng của người dân, không phải nhu cầu sinh sống, học tập, sinh hoạt hằng ngày. Ngoài ra, việc miễn phí xe buýt các tuyến này liên quan đến thẩm quyền của nhiều địa phương, cần thêm thời gian hoàn thiện cơ sở pháp lý.
Trước mắt, Sở Xây dựng đề xuất áp dụng miễn phí cho 135 tuyến nội tỉnh trước. Trong 135 tuyến này có 109 tuyến ngân sách được trợ giá và tổ chức đấu thầu, còn 26 tuyến đang hoạt động theo cơ chế thị trường, chưa trợ giá. Đây là hai nhóm có đặc điểm rất khác nhau, nên cách thức triển khai cũng phải tính toán phù hợp.
Về lâu dài, TP.HCM sẽ tái cấu trúc mạng lưới. Mục tiêu là trên các trục giao thông chính, cứ khoảng 300 – 500 m phải có một điểm dừng xe buýt, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận và trung chuyển.
Lộ trình triển khai chính sách đang được chuẩn bị như thế nào, thưa ông?
Hiện Sở Xây dựng đã báo cáo UBND TP.HCM trình HĐND TP.HCM cho phép xây dựng nghị quyết theo trình tự rút gọn. Trong quá trình xây dựng chính sách, chúng tôi phải lấy ý kiến các sở, ngành liên quan, đồng thời có phản biện của Ủy ban MTTQ VN TP.HCM để đảm bảo chính sách vừa đúng quy định, vừa khả thi khi triển khai.
Nếu tiến độ thuận lợi, nghị quyết có thể được HĐND TP.HCM thông qua cuối tháng 4.2026 và áp dụng chính sách miễn phí từ ngày 30.4.
Nguồn ngân sách dành cho chính sách này được tính toán ra sao?
Dự kiến, tổng kinh phí khoảng 930 tỉ đồng cho 8 tháng cuối năm 2026, áp dụng cho 135 tuyến nội tỉnh. Con số này được tính toán dựa trên dữ liệu thực tế, bao gồm số tuyến, số phương tiện, sản lượng hành khách và dự báo tăng trưởng khi miễn phí.
Năm 2025, hệ thống xe buýt phục vụ khoảng 97 triệu lượt khách. Qua các đợt miễn phí thử nghiệm trước đây, lượng khách tăng khoảng 30%.
TP.HCM sẽ có giải pháp nào để đảm bảo việc sử dụng ngân sách hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí?
Về sử dụng ngân sách để miễn phí vé xe buýt, Sở Xây dựng đang cùng các sở ngành nghiên cứu quy định pháp luật để lựa chọn phương án tối ưu.
Nguyên tắc chung là phải bảo đảm người dân đi xe buýt miễn phí được thuận lợi, công khai, minh bạch. Ngân sách sử dụng đúng mục đích, chống thất thoát, lãng phí, hài hòa với lợi ích của các doanh nghiệp vận tải.
Việc miễn phí vé xe buýt sẽ được kiểm soát qua hệ thống thẻ vé, với mục đích xây dựng được cơ sở dữ liệu để thống kê số lượng người dùng, đánh giá tần suất hoạt động… phục vụ cho việc tổ chức hoạt động giao thông công cộng ngày càng tốt hơn.
Khi không còn thu vé, TP.HCM sẽ kiểm soát số lượng hành khách bằng cách nào?
Đây là vấn đề then chốt. Hiện TP.HCM đã lắp đặt thiết bị thanh toán không tiền mặt trên hơn 120/180 tuyến xe buýt, với hơn 1.900 phương tiện. Hệ thống cho phép thanh toán liên thông giữa các loại hình giao thông công cộng như xe buýt, metro, buýt sông, xe đạp công cộng.
Bên cạnh đó, ứng dụng MultiGo và thẻ MultiPass hỗ trợ người dân tra cứu lộ trình, thanh toán và phản ánh thông tin. Dự kiến toàn bộ hệ thống vé điện tử sẽ hoàn thành trong quý 2/2026.
Trong giai đoạn đầu, hành khách vẫn phải quẹt thẻ khi lên xe, dù không phải trả tiền. Hiện các nhóm thường xuyên sử dụng xe buýt như học sinh, sinh viên, người cao tuổi… đã có thẻ. Với những người chưa có thẻ, tiếp viên sẽ phát thẻ trắng (chưa có thông tin cá nhân) để ghi nhận số lượt đi.
Tuy nhiên, khó khăn hiện nay là khi miễn phí, người mới sử dụng xe buýt có thể chưa có thói quen quẹt thẻ. Vì vậy, bên cạnh công nghệ, cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rằng việc quẹt thẻ là cần thiết để thành phố có dữ liệu quản lý và cải thiện dịch vụ.
Chúng tôi cũng định hướng tích hợp thẻ xe buýt với nền tảng định danh điện tử (VNeID), để kiểm soát tốt hơn trong tương lai. Bên cạnh đó, dữ liệu số lượng khách và cơ cấu sử dụng sẽ là cơ sở quan trọng để tái cơ cấu mạng lưới.
Khi miễn phí, làm sao đảm bảo chất lượng dịch vụ không bị giảm sút?
Dù miễn phí, chất lượng dịch vụ vẫn phải tuân theo các tiêu chuẩn và hợp đồng đã ký kết giữa TP.HCM với các doanh nghiệp, hợp tác xã cung ứng dịch vụ xe buýt. Các tiêu chí về thời gian, tần suất, chất lượng phương tiện đều được kiểm soát chặt chẽ.
Hiện trên xe buýt có hệ thống camera, cùng với dữ liệu vé điện tử để giám sát hoạt động. Ngoài ra, thành phố sẽ tiếp nhận phản ánh của người dân qua tổng đài 1022, mạng xã hội và các kênh khác để kịp thời xử lý.
Chúng tôi sẽ tổ chức tập huấn cho đội ngũ lái xe, tiếp viên để nâng cao chất lượng phục vụ. Quan điểm là khi miễn phí thì chất lượng phải tốt hơn, không thể thấp đi.
Sở Xây dựng sẽ đánh giá hiệu quả của chính sách miễn phí xe buýt ra sao?
TP.HCM sẽ áp dụng nhiều cách để đánh giá hiệu quả thông qua dữ liệu tổng sản lượng xe buýt, đo tốc độ lưu thông bình quân trên đường, mật độ xe giờ cao điểm qua camera, đo đếm lượng phát thải qua các trạm quan trắc.
Chiều 16.4, tại buổi họp báo về tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM, ông Nguyễn Kiên Giang, Phó trưởng phòng Quản lý bảo trì và khai thác công trình giao thông (Sở Xây dựng TP.HCM) đã thông tin về tiến độ dự án trung tâm hành chính mới ở Thủ Thiêm (phường An Khánh, TP.HCM).
Ông Giang cho hay theo hồ sơ trình chấp thuận chủ đầu tư dự án trung tâm hành chính mới Thủ Thiêm do Công ty TNHH đầu tư và phát triển Mặt Trời Sài Gòn đề xuất, quy mô dự án dự kiến có 4 hạng mục chính, cụ thể:
Theo ông Giang, Sở Tài chính TP.HCM được UBND TP.HCM giao chủ trì thực hiện lập và triển khai kế hoạch tổ chức thực hiện dự án.
Dự án sẽ được xây dựng theo mô hình hiện đại, thông minh, là nơi đặt trụ sở các cơ quan đầu não của TP.HCM, vận hành theo mô hình "công sở mở" và tích hợp hạ tầng số.
Dự báo khu vực này phục vụ tối đa 15.000 người, gồm khoảng 6.000 cán bộ, công chức, viên chức; 2.000 người đến làm việc, giao dịch; 3.000 khách đến các công trình văn hóa; 3.000 khách tham quan công viên và khoảng 1.000 lao động.
Khu vực lập quy hoạch thuộc khu vực hồ trung tâm của Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Phạm vi ranh giới gồm: phía đông giáp đường Nguyễn Cơ Thạch, phía tây bắc giáp đường Tố Hữu, phía nam giáp đường Mai Chí Thọ, tổng diện tích khu đất khoảng 33 ha.
Ngay sau khi bài viết Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 còn 46 triệu người, 'siêu già' từ năm 2040 đăng trên Báo Thanh Niên (ngày 9.4.2026) - chủ đề này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của độc giả với hàng trăm lượt tương tác trên fanpage của báo cùng nhiều bình luận dưới bài viết và trên mạng xã hội. Đáng chú ý, câu chuyện dự báo dân số giảm mạnh vẫn tiếp tục là chủ đề chưa hạ nhiệt được đông đảo bạn đọc bàn luận.
Bên cạnh mối quan tâm về dự báo dân số Việt Nam và xu hướng già hóa dân số tại nhiều quốc gia phát triển trong tương lai, không ít bạn đọc đã thẳng thắn chia sẻ về bài toán sinh con, nuôi con giữa bối cảnh chi phí ngày càng cao.
Đáng chú ý, bạn đọc "CK Nguyen" đưa ra một phép tính khá chi tiết về chi phí nuôi dạy con tại đô thị lớn như TP.HCM. Theo bạn đọc này, ngay cả trong kịch bản chi tiêu tiết kiệm, để nuôi 1 con từ nhỏ đến hết đại học, gia đình cũng phải chuẩn bị khoảng 1,2 - 1,8 tỉ đồng; nếu nuôi 2 con, số tiền có thể lên tới 2,4 - 3,6 tỉ đồng.
Trong đó, giai đoạn 6 - 18 tuổi được xem là tốn kém nhất, với tổng chi phí ước tính khoảng 600 triệu - 1,2 tỉ đồng, chưa kể những khoản khác như học thêm, học ngoại ngữ, kỹ năng, thiết bị học tập hay chăm sóc sức khỏe. Riêng 4 năm đại học, học phí và sinh hoạt cũng có thể tiêu tốn thêm khoảng 200 - 500 triệu đồng.
Từ phép tính này, bạn đọc CK Nguyen cho rằng đây mới chỉ là mức chi tối thiểu, qua đó bày tỏ nỗi lo trước áp lực tài chính kéo dài trong hành trình sinh con, nuôi dạy con.
Bạn đọc "Minh Nguyen" chia sẻ rất yêu trẻ nhưng chần chừ trước quyết định sinh con. Theo bạn đọc này, nuôi con không chỉ là lo ăn học, mà còn cần thời gian, công sức để đồng hành, dạy dỗ con nên người. Đồng thời, bạn đọc cho rằng việc sinh con không thể trông chờ vào suy nghĩ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
“Có những điều không thể giải quyết chỉ bằng tiền. Phải lo được cho con thì tôi mới dám sinh, không chỉ đủ điều kiện kinh tế, mà còn phải có thời gian để chăm sóc, đồng hành và dạy dỗ con”, bạn đọc bày tỏ.
Trong khi đó, bạn đọc "Hung Cuong" nhắc đến thực tế thu nhập còn thấp là rào cản lớn khiến nhiều người không dám sinh con. Theo bạn đọc này, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc trang trải cuộc sống cá nhân đã không dễ, nên chuyện lập gia đình, sinh con và bảo đảm điều kiện nuôi dạy con càng trở thành bài toán khó. “Ngay cả nuôi bản thân còn chật vật nên chuyện sinh con càng khó tính toán”, bạn đọc bày tỏ.
Chị Ái Trinh (30 tuổi, ở phường Thủ Đức, TP.HCM) hiện đã có 2 con nhỏ, cho biết từng nghĩ đến chuyện sinh thêm con thứ ba. Thế nhưng, mong muốn ấy phải gác lại trước áp lực áp lực kinh tế và thời gian.
Theo chị Trinh, nỗi lo lớn nhất không chỉ là chuyện sinh thêm một đứa trẻ, mà là làm sao bảo đảm điều kiện nuôi dạy con chu đáo trong bối cảnh chi phí sống ở đô thị ngày càng đắt đỏ.
"Vợ chồng tôi đều đi làm, thu nhập không thấp nhưng chi phí nuôi 2 con đã rất lớn, từ học hành, ăn uống đến các khoản phát sinh. Nếu sinh thêm, tôi không chắc có đủ thời gian chăm sóc con hay không, chưa kể áp lực công việc và nguy cơ ảnh hưởng thu nhập", chị Trinh nói.
Còn bạn đọc Trung Nguyên chia sẻ: khi bàn về chuyện sinh con, điều nên đặt lên trước là làm sao để một đứa trẻ được sinh ra trong hạnh phúc, chứ không phải sinh con như một chỗ dựa để cha mẹ thấy yên lòng hơn về sau. Theo bạn đọc này, đó là hai cách nghĩ hoàn toàn khác nhau...
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng chuyện sinh con ngày nay không còn chỉ là việc riêng của mỗi gia đình, mà gắn trực tiếp với quy mô lao động, quy mô dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, người lao động có “vai trò kép”: vừa trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa tạo ra thế hệ lao động tiếp theo cho đất nước.
Ông nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thu nhập không theo kịp chi phí nuôi con. Theo phân tích của ông, tại nhiều nước vẫn còn khoảng 35 - 45% người lao động có mức lương dưới ngưỡng đủ sống tối thiểu - tức mức lương thấp nhất để một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề. Với mức thu nhập đó, họ không đủ điều kiện tài chính để sinh và nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Theo ông Nhân, cái gốc của câu chuyện ngại sinh con nằm ở chỗ đã sinh thì phải nuôi được, dạy cho tử tế. Người trẻ sẽ không sinh hoặc chỉ sinh 1 con nếu chưa có đủ những điều kiện cần thiết như thu nhập đủ sống và chỗ ở phù hợp.
Ông nêu rõ: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ. Nhưng khi mà một đất nước trên dưới 40% số gia đình hoặc phụ nữ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con, còn hầu hết các gia đình còn lại chỉ sinh 2 con, thì mức sinh bình quân của cả nước không bao giờ đạt mức thay thế 2,1 con. Tỷ lệ tái tạo lao động của đất nước luôn nhỏ hơn 100%”.
Ông cũng phân biệt rõ giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tối thiểu. Nếu lương tối thiểu chỉ giúp người lao động tự nuôi bản thân, còn muốn yên tâm sinh con, nuôi con và duy trì một gia đình ổn định, phải có mức lương đủ sống cho cả gia đình.
Bên cạnh đó, từ việc khảo sát hàng loạt công bố, ông Nhân cho rằng mức sinh thấp kéo dài không chỉ do gánh nặng chi phí sống, thiếu dịch vụ chăm trẻ, thời gian làm việc quá dài hay điều kiện lao động chưa thuận lợi cho phụ nữ, mà còn bắt nguồn từ sự suy giảm cả động lực cá nhân lẫn động lực xã hội đối với hôn nhân và sinh con.
Ông chỉ ra xu hướng “3 không” trong một bộ phận thanh niên: không kết hôn, không sinh con, không thấy có trách nhiệm phải kết hôn và sinh con. Từ đó, ông Nhân cho rằng các chính sách khuyến sinh sẽ khó hiệu quả nếu không xử lý đúng các điểm nghẽn cốt lõi.
Theo ông, nhiều Chính phủ đã chi hàng tỉ, chục tỉ USD mỗi năm để khuyến khích kết hôn và sinh con, nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Nguyên nhân là các chương trình hỗ trợ này có tác dụng rất hạn chế, do mức hỗ trợ quá nhỏ so với nhu cầu tài chính để nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Ông lý giải, nhiều Chính phủ đã chi rất nhiều chi phí để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng hiệu quả vẫn hạn chế do mức hỗ trợ còn quá nhỏ so với gánh nặng thực tế, trong khi các vấn đề nền tảng chưa được giải quyết. Đó là thu nhập của một bộ phận người dân không đủ nuôi 2 con ăn học đàng hoàng tới 18 tuổi; thiếu trường mầm non công lập với chi phí vừa phải; chi phí nhà quá cao; bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong việc nhà và trả lương.
Bên cạnh đó là điều kiện làm việc khắc nghiệt với phụ nữ, khiến cơ hội thăng tiến bị ảnh hưởng tiêu cực khi họ có con; chi phí điều trị vô sinh cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều cặp vợ chồng; môi trường xã hội chưa thân thiện với trẻ em và phụ nữ làm mẹ.
Ngoài ra, nhiều nơi cũng chưa có nội dung giáo dục về trách nhiệm công dân đối với tương lai, sự phát triển của đất nước, cũng như giáo dục về hạnh phúc gia đình và cách xây dựng gia đình hạnh phúc.
Sáng 20.4, Quốc hội tiếp tục các chương trình làm việc đợt 2, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Trình bày dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL Lâm Thị Phương Thanh cho biết nội dung nghị quyết gồm 13 điều với 10 chính sách.
Trong đó, đáng chú ý, dự thảo thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị về chọn ngày 24.11 hàng năm là "Ngày văn hóa Việt Nam", người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.
Về nguồn lực phát triển văn hóa, dự thảo cho biết, Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hàng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước. Đồng thời, khuyến khích huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.
Dự thảo cũng quy định chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng; hỗ trợ thuế, phí, lệ phí để đầu tư hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; giao cho cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng một số thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở.
Về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, Chính phủ đề xuất áp dụng mức thuế giá trị gia tăng chỉ 5% đối với sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật.
Miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan để đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm ở nước ngoài được mua đấu giá đem về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày.
Cùng đó, dự thảo nêu các chính sách thí điểm mô hình đô thị di sản; ưu tiên quỹ đất cho xây dựng các các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí ở cơ sở và sử dụng trụ sở công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, thể thao.
Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, cơ quan thẩm tra nhất trí đề xuất chọn ngày 24.11 hàng năm là "Ngày văn hóa Việt Nam", người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.
Bên cạnh ngày văn hóa Việt Nam, cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, phát huy hiệu quả các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn của dân tộc gắn với giá trị văn hóa truyền thống, nhằm lan tỏa sâu rộng các giá trị văn hóa, nâng cao ý thức gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc trong đời sống xã hội.
Ủy ban cũng cơ bản tán thành chủ trương thu hút, khơi thông các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa. Tuy nhiên, cần nghiên cứu, làm rõ nội hàm và quy định các nguyên tắc áp dụng chính sách ưu đãi đặc thù, bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ để thu hút hiệu quả nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa.
Về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, cơ quan thẩm tra cho rằng việc quy định về miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản thuộc sở hữu nhà nước đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học 100% vốn nhà nước là cần thiết. Tuy nhiên, đề nghị rà soát bảo đảm phù hợp với pháp luật về đất đai và quản lý, sử dụng tài sản công; làm rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng, phạm vi ưu đãi.
Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam sẽ được Quốc hội cho ý kiến trước khi biểu quyết thông qua trong đợt 2 của kỳ họp.