Ngay sau khi bài viết Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 còn 46 triệu người, ‘siêu già’ từ năm 2040 đăng trên Báo Thanh Niên (ngày 9.4.2026) – chủ đề này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của độc giả với hàng trăm lượt tương tác trên fanpage của báo cùng nhiều bình luận dưới bài viết và trên mạng xã hội. Đáng chú ý, câu chuyện dự báo dân số giảm mạnh vẫn tiếp tục là chủ đề chưa hạ nhiệt được đông đảo bạn đọc bàn luận.
Bên cạnh mối quan tâm về dự báo dân số Việt Nam và xu hướng già hóa dân số tại nhiều quốc gia phát triển trong tương lai, không ít bạn đọc đã thẳng thắn chia sẻ về bài toán sinh con, nuôi con giữa bối cảnh chi phí ngày càng cao.
Đáng chú ý, bạn đọc “CK Nguyen” đưa ra một phép tính khá chi tiết về chi phí nuôi dạy con tại đô thị lớn như TP.HCM. Theo bạn đọc này, ngay cả trong kịch bản chi tiêu tiết kiệm, để nuôi 1 con từ nhỏ đến hết đại học, gia đình cũng phải chuẩn bị khoảng 1,2 – 1,8 tỉ đồng; nếu nuôi 2 con, số tiền có thể lên tới 2,4 – 3,6 tỉ đồng.
Trong đó, giai đoạn 6 – 18 tuổi được xem là tốn kém nhất, với tổng chi phí ước tính khoảng 600 triệu – 1,2 tỉ đồng, chưa kể những khoản khác như học thêm, học ngoại ngữ, kỹ năng, thiết bị học tập hay chăm sóc sức khỏe. Riêng 4 năm đại học, học phí và sinh hoạt cũng có thể tiêu tốn thêm khoảng 200 – 500 triệu đồng.
Từ phép tính này, bạn đọc CK Nguyen cho rằng đây mới chỉ là mức chi tối thiểu, qua đó bày tỏ nỗi lo trước áp lực tài chính kéo dài trong hành trình sinh con, nuôi dạy con.
Bạn đọc “Minh Nguyen” chia sẻ rất yêu trẻ nhưng chần chừ trước quyết định sinh con. Theo bạn đọc này, nuôi con không chỉ là lo ăn học, mà còn cần thời gian, công sức để đồng hành, dạy dỗ con nên người. Đồng thời, bạn đọc cho rằng việc sinh con không thể trông chờ vào suy nghĩ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
“Có những điều không thể giải quyết chỉ bằng tiền. Phải lo được cho con thì tôi mới dám sinh, không chỉ đủ điều kiện kinh tế, mà còn phải có thời gian để chăm sóc, đồng hành và dạy dỗ con”, bạn đọc bày tỏ.
Trong khi đó, bạn đọc “Hung Cuong” nhắc đến thực tế thu nhập còn thấp là rào cản lớn khiến nhiều người không dám sinh con. Theo bạn đọc này, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc trang trải cuộc sống cá nhân đã không dễ, nên chuyện lập gia đình, sinh con và bảo đảm điều kiện nuôi dạy con càng trở thành bài toán khó. “Ngay cả nuôi bản thân còn chật vật nên chuyện sinh con càng khó tính toán”, bạn đọc bày tỏ.
Chị Ái Trinh (30 tuổi, ở phường Thủ Đức, TP.HCM) hiện đã có 2 con nhỏ, cho biết từng nghĩ đến chuyện sinh thêm con thứ ba. Thế nhưng, mong muốn ấy phải gác lại trước áp lực áp lực kinh tế và thời gian.
Theo chị Trinh, nỗi lo lớn nhất không chỉ là chuyện sinh thêm một đứa trẻ, mà là làm sao bảo đảm điều kiện nuôi dạy con chu đáo trong bối cảnh chi phí sống ở đô thị ngày càng đắt đỏ.
“Vợ chồng tôi đều đi làm, thu nhập không thấp nhưng chi phí nuôi 2 con đã rất lớn, từ học hành, ăn uống đến các khoản phát sinh. Nếu sinh thêm, tôi không chắc có đủ thời gian chăm sóc con hay không, chưa kể áp lực công việc và nguy cơ ảnh hưởng thu nhập”, chị Trinh nói.
Còn bạn đọc Trung Nguyên chia sẻ: khi bàn về chuyện sinh con, điều nên đặt lên trước là làm sao để một đứa trẻ được sinh ra trong hạnh phúc, chứ không phải sinh con như một chỗ dựa để cha mẹ thấy yên lòng hơn về sau. Theo bạn đọc này, đó là hai cách nghĩ hoàn toàn khác nhau…
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng chuyện sinh con ngày nay không còn chỉ là việc riêng của mỗi gia đình, mà gắn trực tiếp với quy mô lao động, quy mô dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, người lao động có “vai trò kép”: vừa trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa tạo ra thế hệ lao động tiếp theo cho đất nước.
Ông nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thu nhập không theo kịp chi phí nuôi con. Theo phân tích của ông, tại nhiều nước vẫn còn khoảng 35 – 45% người lao động có mức lương dưới ngưỡng đủ sống tối thiểu – tức mức lương thấp nhất để một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề. Với mức thu nhập đó, họ không đủ điều kiện tài chính để sinh và nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Theo ông Nhân, cái gốc của câu chuyện ngại sinh con nằm ở chỗ đã sinh thì phải nuôi được, dạy cho tử tế. Người trẻ sẽ không sinh hoặc chỉ sinh 1 con nếu chưa có đủ những điều kiện cần thiết như thu nhập đủ sống và chỗ ở phù hợp.
Ông nêu rõ: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ. Nhưng khi mà một đất nước trên dưới 40% số gia đình hoặc phụ nữ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con, còn hầu hết các gia đình còn lại chỉ sinh 2 con, thì mức sinh bình quân của cả nước không bao giờ đạt mức thay thế 2,1 con. Tỷ lệ tái tạo lao động của đất nước luôn nhỏ hơn 100%”.
Ông cũng phân biệt rõ giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tối thiểu. Nếu lương tối thiểu chỉ giúp người lao động tự nuôi bản thân, còn muốn yên tâm sinh con, nuôi con và duy trì một gia đình ổn định, phải có mức lương đủ sống cho cả gia đình.
Bên cạnh đó, từ việc khảo sát hàng loạt công bố, ông Nhân cho rằng mức sinh thấp kéo dài không chỉ do gánh nặng chi phí sống, thiếu dịch vụ chăm trẻ, thời gian làm việc quá dài hay điều kiện lao động chưa thuận lợi cho phụ nữ, mà còn bắt nguồn từ sự suy giảm cả động lực cá nhân lẫn động lực xã hội đối với hôn nhân và sinh con.
Ông chỉ ra xu hướng “3 không” trong một bộ phận thanh niên: không kết hôn, không sinh con, không thấy có trách nhiệm phải kết hôn và sinh con. Từ đó, ông Nhân cho rằng các chính sách khuyến sinh sẽ khó hiệu quả nếu không xử lý đúng các điểm nghẽn cốt lõi.
Theo ông, nhiều Chính phủ đã chi hàng tỉ, chục tỉ USD mỗi năm để khuyến khích kết hôn và sinh con, nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Nguyên nhân là các chương trình hỗ trợ này có tác dụng rất hạn chế, do mức hỗ trợ quá nhỏ so với nhu cầu tài chính để nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Ông lý giải, nhiều Chính phủ đã chi rất nhiều chi phí để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng hiệu quả vẫn hạn chế do mức hỗ trợ còn quá nhỏ so với gánh nặng thực tế, trong khi các vấn đề nền tảng chưa được giải quyết. Đó là thu nhập của một bộ phận người dân không đủ nuôi 2 con ăn học đàng hoàng tới 18 tuổi; thiếu trường mầm non công lập với chi phí vừa phải; chi phí nhà quá cao; bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong việc nhà và trả lương.
Bên cạnh đó là điều kiện làm việc khắc nghiệt với phụ nữ, khiến cơ hội thăng tiến bị ảnh hưởng tiêu cực khi họ có con; chi phí điều trị vô sinh cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều cặp vợ chồng; môi trường xã hội chưa thân thiện với trẻ em và phụ nữ làm mẹ.
Ngoài ra, nhiều nơi cũng chưa có nội dung giáo dục về trách nhiệm công dân đối với tương lai, sự phát triển của đất nước, cũng như giáo dục về hạnh phúc gia đình và cách xây dựng gia đình hạnh phúc.
Theo dự thảo tờ trình của UBND TP Hà Nội về đề án Vùng phát thải thấp trong vành đai 1, giai đoạn 1 (1/7-31/12), thành phố sẽ triển khai thí điểm vùng phát thải thấp tại phường Hoàn Kiếm.
Cụ thể vùng phát thải thấp giới hạn trong 11 tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm gồm: Tràng Tiền, Hàng Khay, Lê Thái Tổ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Bạc, Hàng Mắm, Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ. Khu vực này rộng 0,5 km2, chu vi 3,5 km, dân số khoảng 20.000.
Trong vùng phát thải thấp, xe máy xăng bị cấm lưu thông từ 18h đến 24h thứ sáu, từ 6h đến 24h thứ bảy, chủ nhật. Xe môtô, xe gắn máy xăng hoạt động kinh doanh trên nền tảng phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải cũng bị cấm.
Các loại ôtô tải dưới 2 tấn, đáp ứng quy chuẩn khí thải mức 4, chỉ được phép hoạt động ngoài giờ cao điểm. Ôtô tải từ 2 đến dưới 3,5 tấn, đáp ứng quy chuẩn khí thải mức 4, chỉ được phép chạy từ 21h đến 6h hôm sau và phải được Công an thành phố chấp thuận bằng văn bản. Ôtô tải trên 3,5 tấn bị cấm hoạt động.
Ôtô từ 16 chỗ trở lên (trừ xe buýt, xe đưa đón học sinh) tại các tuyến phố trong khu vực phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở các phường Hoàn Kiếm, phường Cửa Nam phải đạt mức 4 theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải ôtô tham gia giao thông đường bộ (quy chuẩn). Phương tiện này bị cấm lưu thông từ 6h đến 9h và từ 16h đến 19h30 hàng ngày.
Xe buýt, xe đưa đón học sinh, khí thải phải đạt mức 4 theo quy chuẩn. Xe dưới 16 chỗ sử dụng nhiên liệu hóa thạch, khí thải phải đạt mức 4.
Thành phố xác định giai đoạn 2 (ngày 1/1/2027-31/12/2027) mở rộng khu vực thí điểm tại phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam, gồm vùng lõi phường Hoàn Kiếm đã thực hiện ở giai đoạn 1 và 14 tuyến phố bao quanh thuộc phường Cửa Nam: Nguyễn Du, Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Hàng Đậu, Cửa Đông, Lý Nam Đế, Tôn Thất Thiệp, Điện Biên Phủ, Hàng Bông, Cửa Nam, Lê Duẩn.
Giai đoạn 3 (1/1/2028-31/12/2029), thành phố mở rộng vùng phát thải thấp toàn bộ diện tích trong vành đai 1 với hơn 26 km2, chu vi 25 km và dân số 625.000. Phạm vi vành đai 1 gồm 9 phường được bao quanh bởi các tuyến đường: Hoàng Cầu, Đê La Thành, Ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân, Nguyễn Khoái, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Yên Phụ, Nghi Tàm, Âu Cơ, An Dương Vương, Lạc Long Quân, Bưởi, Cầu Giấy.
Việc xây dựng đề án vùng phát thải thấp nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57/2025 của HĐND về thực hiện vùng phát thải thấp trên địa bàn, trong đó xác định lộ trình thực hiện tại vành đai 1 từ ngày 1/7/2026.
Theo UBND TP Hà Nội, những năm gần đây, chất lượng môi trường không khí trên địa bàn có thời điểm suy giảm, đặc biệt tại trung tâm đô thị, nơi tập trung mật độ dân cư cao, lưu lượng giao thông lớn và nhiều hoạt động kinh tế - xã hội.
Kết quả nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện trong các năm 2023-2025 cho thấy tỷ lệ đóng góp bụi mịn PM2.5 trên địa bàn thành phố từ hoạt động giao thông vận tải là 25%, xây dựng và bụi đường 20%, đốt 12%, bụi thứ cấp hình thành từ khí ô nhiễm, bao gồm cả công nghiệp 27% và nguồn khác 6%.
Số liệu kiểm kê nguồn thải nội tại, riêng trong thành phố nguồn trực tiếp từ hoạt động giao thông chiếm 59%, bụi đường và hoạt động xây dựng 28%, đốt và hoạt động dân sinh 11%, hoạt động công nghiệp 2%.
Việc xây dựng, triển khai đề án vùng phát thải thấp trong vành đai 1 là tiền đề để các sở, ngành và UBND phường xã tổ chức triển khai đồng bộ giải pháp như: kiểm soát phương tiện giao thông phát thải cao đi vào trung tâm; tổ chức giao thông công cộng, phát triển phương tiện sử dụng năng lượng sạch; tăng cường quản lý, giám sát và ứng dụng công nghệ trong kiểm soát phát thải giao thông.
Việc triển khai đề án cũng là bước thí điểm quan trọng để đánh giá hiệu quả thực tiễn, làm cơ sở nghiên cứu mở rộng mô hình vùng phát thải thấp ra các khu vực khác trong các giai đoạn tiếp theo.
Hiện Hà Nội có khoảng 6,9 triệu xe máy, trong đó riêng vành đai 1 khoảng 450.000.
TS Trương Bá Kiên, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển trả lời VnExpress về khả năng xuất hiện El Nino cũng như tác động đến Việt Nam.
- Các cơ quan khí tượng quốc tế cảnh báo khả năng xuất hiện "siêu El Nino" trong năm nay. Ông nhìn nhận thế nào về kịch bản này?
Cường độ El Nino được theo dõi bằng chỉ số ONI - trung bình trượt 3 tháng của dị thường nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực Niño 3.4 ở trung tâm xích đạo Thái Bình Dương. Theo phân loại, El Nino được chia thành yếu (0,5-0,9 độ C), trung bình (1-1,4 độ), mạnh (1,5-1,9 độ) và rất mạnh khi từ 2 độ C trở lên. Vì vậy, "siêu El Nino" thực chất là El Nino rất mạnh, với ONI khoảng từ 2 độ C.
Cập nhật từ các trung tâm dự báo lớn như Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ và Trung tâm Dự báo Thời tiết trung hạn châu Âu cho thấy khả năng chuyển sang El Nino trong hè 2026 trên 60% và có thể kéo dài đến cuối năm. Xác suất đạt ngưỡng rất mạnh vào cuối năm khoảng 25%. Tuy nhiên, các mô hình vẫn chưa thống nhất về cường độ cực đại nên cần tiếp tục theo dõi.
Nhìn chung, độ tin cậy đối với xu thế hình thành El Nino là khá cao, khi tín hiệu đại dương rõ rệt và điều kiện khí quyển thuận lợi cho quá trình ấm lên. Tuy nhiên, bất định vẫn lớn về cường độ cực đại do ENSO (dao động tự nhiên giữa đại dương và khí quyển ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương) đang trong giai đoạn "rào cản mùa xuân", thời kỳ kỹ năng dự báo suy giảm và biên độ dự báo giữa các kịch bản còn rộng.
- Nếu El Nino phát triển mạnh, ông đánh giá thế nào cường độ của nó (có thể so sánh các đợt lịch sử như 1997-1998 hay 2015-2016)?
- Nếu El Nino năm 2026 thực sự phát triển tới ngưỡng rất mạnh thì xét riêng về chỉ số ONI, nó có thể được xếp vào cùng nhóm với các sự kiện El Nino mạnh nhất trong chuỗi quan trắc hiện đại như 1997-1998 và 2015-2016. Tuy nhiên, về mặt khoa học khí hậu cần đặc biệt thận trọng khi so sánh trực tiếp như vậy.
Cùng một giá trị ONI hoặc cùng được xếp vào nhóm rất mạnh không đồng nghĩa với việc các tác động khí hậu sẽ lặp lại theo cùng một cách. Nguyên nhân là tác động của ENSO không chỉ phụ thuộc vào biên độ nhiệt độ mặt nước biển ở khu vực Niño 3.4, mà còn phụ thuộc vào cấu trúc không gian của dị thường nhiệt độ mặt biển trên toàn vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, thời điểm hiện tượng đạt cực đại, mức độ kết nối giữa tín hiệu đại dương và hoàn lưu khí quyển, cũng như trạng thái đồng thời của các dao động khí hậu khác.
Ngoài ra, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mối quan hệ giữa cường độ ENSO và các cực đoan khí hậu không mang tính tuyến tính đơn giản. Các cực đoan thực tế là kết quả của sự chồng lấn giữa dao động tự nhiên và một nền khí hậu đang nóng lên, với lượng hơi nước lớn hơn và điều kiện nhiệt - ẩm thay đổi. Vì vậy, cùng một mức ONI nhưng tác động đến nắng nóng, hạn hán, mưa lớn hay bão ở từng vùng có thể khác đáng kể giữa các thời kỳ.
Nói cách khác, nếu xét riêng về cường độ thì có thể tiệm cận nhóm lịch sử, nhưng về tác động thì không thể mặc định sẽ lặp lại kịch bản của các năm trước.
- El Nino tác động đến khí hậu toàn cầu?
- Về bản chất, El Nino làm thay đổi chênh lệch nhiệt độ mặt biển dọc xích đạo Thái Bình Dương, làm suy yếu sự khác biệt giữa phía tây và phía đông. Điều này kéo theo biến đổi đối lưu nhiệt đới và hoàn lưu Walker - hệ thống gió quy mô lớn chi phối vận chuyển không khí và độ ẩm.
Khi hoàn lưu Walker suy yếu hoặc dịch chuyển, các vùng mây đối lưu và mưa lớn thay đổi theo, đồng thời kéo theo sự điều chỉnh của các dòng xiết cận nhiệt và các sóng khí quyển quy mô hành tinh. Đây là cơ chế khiến các hình thái thời tiết bị xáo trộn về vị trí và thời điểm.
Tuy nhiên, tác động của El Nino không đồng nhất giữa các khu vực, do còn phụ thuộc vào cấu trúc vùng nước ấm, thời điểm đạt cực đại và tương tác với các hệ thống khí hậu khác, cũng như yếu tố địa hình và hoàn lưu khu vực.
- Với Việt Nam, El Nino sẽ tác động thế nào đến nắng nóng, lượng mưa, bão và các hiện tượng cực đoan?
- Đối với Việt Nam, El Nino thường liên quan đến xu thế nền nhiệt cao hơn trung bình, bốc thoát hơi mạnh hơn và mưa suy giảm trong một số thời kỳ, qua đó làm tăng nguy cơ nắng nóng, khô hạn, thiếu nước và suy giảm dòng chảy. Tuy nhiên, tác động không đồng đều giữa các vùng.
Tín hiệu thiếu mưa và hạn hán thường rõ hơn ở Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, trong khi miền Bắc thể hiện rõ hơn ở việc nền nhiệt cao hơn và số ngày nắng nóng tăng. Các dự báo hiện nay cũng cho thấy nhiệt độ trung bình có thể cao hơn bình thường khoảng 0,5-1 độ C, nắng nóng có thể nhiều và gay gắt hơn.
Trong các năm El Nino, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng ít hơn trung bình nhiều năm, nhưng không đồng nghĩa rủi ro giảm. Vẫn có thể xuất hiện các cơn bão mạnh, tăng cường nhanh hoặc có quỹ đạo phức tạp. Đồng thời, El Nino cũng không loại trừ khả năng xuất hiện các hiện tượng cực đoan như giông mạnh, lốc, sét, mưa đá trong các thời kỳ chuyển mùa.
Nói cách khác, El Nino chủ yếu làm thay đổi nền xác suất khí hậu theo mùa, chứ không quyết định tuyệt đối từng đợt thời tiết cụ thể.
- Trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu đang tăng cao, El Nino có thể làm gia tăng mức độ nắng nóng và rủi ro khí hậu ở Việt Nam thế nào?
- El Nino diễn ra trên nền khí hậu toàn cầu đã nóng lên rõ rệt trong nhiều năm gần đây. Nếu phát triển mạnh, hiện tượng này sẽ cộng hưởng với nền nhiệt vốn cao, làm tăng xác suất các đợt nắng nóng mạnh và kéo dài.
Tuy vậy, chưa thể tách bạch một con số cụ thể về mức tăng nhiệt do El Nino, vì cường độ nắng nóng còn phụ thuộc nhiều yếu tố như hoàn lưu khí quyển, áp thấp nóng phía tây, hiệu ứng phơn, độ ẩm và điều kiện nội mùa.
Điều có thể nói chắc hơn là El Nino làm tăng xác suất nền nhiệt cao hơn trung bình, còn biến đổi khí hậu làm nâng nền nhiệt xuất phát. Khi hai yếu tố này cộng hưởng, các đợt nóng có xu hướng gay gắt hơn, kéo dài hơn và tác động lớn hơn.
Nếu El Nino phát triển từ mùa hè và mạnh dần về cuối năm, rủi ro không xuất hiện đồng đều mà tăng theo mùa. Mùa hè và đầu thu 2026, nguy cơ chính là nắng nóng diện rộng, phụ tải điện tăng, thiếu nước cục bộ, nhất là ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Từ cuối hè sang mùa khô 2026-2027, rủi ro gia tăng ở Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ với thiếu mưa, suy giảm dòng chảy, hạn hán và xâm nhập mặn.
- Cần làm gì để giảm thiệt hại do El Nino:
- Để ứng phó với El Nino, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là không chuẩn bị theo một kịch bản đơn tuyến chỉ có nóng và khô mà theo hướng đa rủi ro. Với nông nghiệp, cần điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và tưới tiết kiệm. Với tài nguyên nước, cần theo dõi cân bằng nước, tích nước sớm và xây dựng kịch bản cấp nước dự phòng. Với năng lượng, cần chuẩn bị cho rủi ro kép: phụ tải tăng vì nóng trong khi thủy điện có thể suy giảm vì thiếu nước.
Ở cấp địa phương, cần đồng thời chuẩn bị cho nắng nóng, cháy rừng, thiếu nước, nhưng cũng không lơ là với giông mạnh, mưa đá, mưa lớn cục bộ và bão mạnh có quỹ đạo phức tạp. Cách tiếp cận phù hợp nhất là quản trị rủi ro dựa trên dự báo khí hậu nhiều hạn và cập nhật thường xuyên khi ENSO vượt qua rào cản mùa xuân trong các tháng tới.
Phát biểu chào mừng, bà Veronica Squinzi, Phó chủ tịch phụ trách quốc tế, Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) vùng Lombardy, thuộc Liên đoàn Công nghiệp và giới chủ Ý, nhấn mạnh chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội (QH) Trần Thanh Mẫn tới Cộng hòa Ý là dấu mốc quan trọng trong mối quan hệ bền chặt giữa hai nước. Đây là cơ hội để khẳng định cam kết chung giữa hai nước trong việc tăng cường đối thoại chính trị; làm sâu sắc thêm hợp tác kinh tế, công nghệ, dựa trên các giá trị chung, sự tôn trọng lẫn nhau và một tầm nhìn hướng về tương lai.
Phát biểu tại tọa đàm, Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn nêu rõ tọa đàm chính sách thúc đẩy hợp tác VN - Ý là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, sâu sắc, hiệu quả và thực chất hơn.
Chủ tịch QH khẳng định sự kiện này không chỉ là dịp quan trọng để các DN hai nước gặp gỡ, trao đổi cơ hội hợp tác đầu tư, thương mại, mà còn là biểu tượng sinh động cho tình hữu nghị truyền thống hơn 50 năm, hơn 10 năm là Đối tác chiến lược giữa hai nước - mối quan hệ đã được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp bằng niềm tin, sự sẻ chia và tình cảm chân thành.
Theo Chủ tịch QH, VN và Ý có mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp, được xây dựng trên nền tảng tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới những giá trị chung về hòa bình, phát triển và thịnh vượng. Trong những năm qua, quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang diễn ra nhanh chóng trên thế giới, VN và Ý có nhiều điều kiện thuận lợi để bổ trợ cho nhau, cùng phát huy thế mạnh riêng nhằm hướng tới các mục tiêu tăng trưởng bền vững, bao trùm và tự cường.
Trên tinh thần đó, Chủ tịch QH đề nghị hai bên chuyển tinh thần hợp tác thành kết quả cụ thể, tập trung vào các định hướng hợp tác ưu tiên. Trong đó, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ thể chế, pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước, đặc biệt trong bối cảnh EVFTA đang được triển khai hiệu quả.
Cùng với đó, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mà Ý có thế mạnh và VN có nhu cầu như công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ, chế biến thực phẩm…
Chủ tịch QH đề nghị tăng cường kết nối DN hai nước, hỗ trợ DN nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đặc biệt, phát huy vai trò của QH/Nghị viện hai nước trong việc giám sát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, thuận lợi cho các hoạt động hợp tác lâu dài.