Mục Lục
ToggleÔng Bryan Johnson, chuyên gia về giải pháp chống lão hóa, mới đây chia sẻ giờ giấc ngủ thất thường có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tổng thể, trong đó có chức năng gan, theo tờ The Economic Times.
Dẫn lại các tài liệu nghiên cứu được công bố trên PubMed – cơ sở dữ liệu y khoa thuộc Thư viện Y học Quốc gia Mỹ, ông Johnson cho biết đảo lộn giờ giấc ngủ làm phá vỡ nhịp sinh học, từ đó khiến cơ thể dễ mắc nhiều bệnh lý khác nhau.
Trong một nghiên cứu quy mô lớn mà ông Johnson dẫn lại, các chuyên gia đã phân tích thói quen ngủ nghỉ của hơn 88.000 người trưởng thành.
Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng những thói quen như ngủ không đúng giờ, thức khuya và làm xáo trộn đồng hồ sinh học có thể làm tăng nguy cơ mắc tới 172 loại bệnh lý khác nhau.
Thậm chí, chỉ một thay đổi nhỏ trong sinh hoạt (như ngủ trễ hơn bình thường từ 60 – 90 phút) cũng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các chứng bệnh về gan, với tỷ lệ ước tính khoảng 1,5%.
Các nghiên cứu khoa học ngày càng củng cố thêm mối liên hệ mật thiết giữa giấc ngủ và sức khỏe của gan.
Theo nghiên cứu công bố trên Endocrine.org (cổng thông tin của Hiệp hội Nội tiết Mỹ), những người lười vận động và ngủ nghỉ thiếu điều độ thường có nguy cơ cao mắc bệnh gan nhiễm mỡ.
Hiện gan nhiễm mỡ là một dạng rối loạn gan mãn tính phổ biến, ảnh hưởng đến gần 1/4 người trưởng thành trên thế giới.
Bệnh gan nhiễm mỡ thường song hành cùng nhóm bệnh lý chuyển hóa gồm béo phì và tiểu đường loại 2.
Nếu không được can thiệp kịp thời, bệnh có thể tiến triển sang các giai đoạn tổn thương gan nghiêm trọng, kéo theo những hệ lụy sức khỏe phức tạp.
Tin Gốc: Thanh Niên

Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.
Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày. Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi TrẻSức Khỏe
Không mắc bệnh về gan, tại sao lòng bàn tay, bàn chân chuyển màu vàng?

Bác sĩ Nguyễn Trọng Nghĩa - khoa da liễu và bỏng, Bệnh viện Bạch Mai - cho hay da chuyển màu vàng thường khiến nhiều người lo lắng đến các bệnh lý gan mật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đây có thể là biểu hiện của carotenoderma (carotenaemia) - tình trạng lành tính do tăng nồng độ carotene trong máu, chủ yếu liên quan đến chế độ ăn uống.
Mới đây, bác sĩ Nghĩa thăm khám cho một phụ nữ đến khám vì da lòng bàn tay và bàn chân hai bên chuyển màu vàng. Sau khi thăm khám, thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán cho thấy người bệnh không có triệu chứng cơ năng hay dấu hiệu thần kinh khu trú. Kết quả xét nghiệm cho thấy men gan và bilirubin trong giới hạn bình thường, nhưng nồng độ β-carotene tăng cao.
"Qua khai thác tiền sử, người bệnh chia sẻ có thói quen ăn củ sâm đất liên tục trong nhiều ngày. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vàng da ở tay, chân của bệnh nhân", bác sĩ Nghĩa nhận định.
Bác sĩ Nghĩa giải thích β-carotene cùng các carotenoid khác như alpha-carotene, lycopene, lutein là những sắc tố tự nhiên có trong nhiều loại rau củ quả màu vàng, cam và xanh đậm như cà rốt, bí đỏ, khoai lang, cà chua hay rau lá xanh.
Đây là tiền chất của vitamin A. Sau khi hấp thu tại ruột non, một phần carotene được chuyển hóa thành retinol ở niêm mạc ruột và gan. Khi lượng carotene trong máu tăng cao, sắc tố này sẽ lắng đọng ở lớp sừng và mô mỡ dưới da, gây hiện tượng da đổi màu vàng cam.
Tình trạng này thường gặp ở trẻ nhỏ ăn nhiều thức ăn xay từ cà rốt, bí đỏ, khoai lang; người ăn chay, ăn kiêng kéo dài; người thường xuyên sử dụng nước ép rau củ.
Ngoài ra, một số bệnh lý có thể làm tăng nguy cơ như đái tháo đường, suy giáp, bệnh gan, bệnh thận hoặc chán ăn tâm thần.
"Nguyên nhân có thể do carotenemia nguyên phát; do ăn quá nhiều thực phẩm hoặc dùng thực phẩm bổ sung giàu carotene; hoặc carotenemia thứ phát có liên quan đến giảm chuyển hóa carotene thành vitamin A hoặc tăng lipid máu.
Ngoài ra có thể do carotenemia chuyển hóa hiếm gặp, do rối loạn bẩm sinh trong chuyển hóa carotene", bác sĩ Nghĩa cho hay.
Người bệnh có biểu hiện điển hình là da có màu vàng cam, xuất hiện rõ ở lòng bàn tay, bàn chân, rãnh mũi - má. Màu sắc đậm hơn ở vùng da dày, nhiều tuyến mồ hôi.
Tuy nhiên, củng mạc mắt không vàng (dấu hiệu quan trọng để phân biệt với vàng da do bệnh gan), không ngứa, không có triệu chứng toàn thân. Màu da có thể rõ hơn dưới ánh sáng nhân tạo.
Nếu xuất hiện tình trạng da đổi màu bất thường hoặc khó phân biệt với các bệnh lý gan mật, người bệnh nên đi khám chuyên khoa để được đánh giá chính xác.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

"Thói quen của nhiều người Việt là cứ ho, cảm thì tự mua kháng sinh uống, dùng lại toa thuốc cũ hoặc ngưng thuốc giữa chừng khi vừa thấy đỡ", PGS.TS.BS Trần Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Hô hấp TP HCM, nói tại ký kết hợp tác giữa hội và chuỗi Nhà thuốc Long Châu cùng Sandoz Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy tuân thủ điều trị kháng sinh ngày 14/4.
Theo các báo cáo quốc tế, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tình trạng kháng kháng sinh nghiêm trọng tại châu Á và trên thế giới, gây gánh nặng lớn cho hệ thống y tế và đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh. Dữ liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới giai đoạn 2020-2023 cho thấy gần 300.000 người Việt Nam tử vong do các nguyên nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến kháng kháng sinh.
Lý giải thực trạng này, phó giáo sư Ngọc cho rằng một nguyên nhân đáng chú ý là việc người dân dễ dàng tiếp cận và mua kháng sinh. Nhiều người tự ý dùng thuốc cho các bệnh do virus như sốt siêu vi, cảm cúm - vốn không cần kháng sinh - hoặc trong trường hợp nhiễm khuẩn lại dùng sai thuốc, hay dùng đúng thuốc nhưng không đủ liệu trình.
Không ít bệnh nhân chỉ uống một vài ngày, khi các thuốc phối hợp như hạ sốt, giảm đau giúp giảm triệu chứng thì lầm tưởng đã khỏi và tự ý ngưng thuốc. Việc này khiến vi khuẩn chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, dễ gây tái phát bệnh, đồng thời làm tăng nguy cơ kháng thuốc, khiến những lần điều trị sau khó khăn và tốn kém hơn.
Bên cạnh đó, thói quen sử dụng lại toa thuốc cũ cũng góp phần làm tình trạng này trầm trọng. Khi dùng kháng sinh không đúng cách, các vi khuẩn nhạy cảm bị tiêu diệt trước, trong khi những vi khuẩn "lì thuốc" sống sót và tiếp tục phát triển trong đường hô hấp. Theo thời gian, chúng có thể gây bệnh nặng hơn như viêm phổi, buộc bệnh nhân phải nhập viện và sử dụng các loại kháng sinh mạnh hơn.
Để giải quyết bài toán lạm dụng kháng sinh, ông Ngọc đánh giá hệ thống nhà thuốc và dược sĩ đóng vai trò then chốt. Trong bối cảnh người dân dễ dàng mua thuốc ngoài cộng đồng, nhà thuốc không chỉ là nơi cung ứng mà còn là "điểm chốt" giúp định hướng sử dụng thuốc đúng cách.
Bà Nguyễn Đỗ Quyên, Phó tổng giám đốc FPT Retail kiêm Giám đốc điều hành Hệ thống nhà thuốc và Trung tâm tiêm chủng Long Châu, cho biết thực tế tại nhà thuốc cho thấy kháng sinh là nhóm thuốc được sử dụng rất phổ biến nhưng cũng dễ bị dùng sai. Nhiều người bệnh ngưng thuốc khi thấy đỡ hoặc điều trị theo kinh nghiệm cá nhân, vô tình làm giảm hiệu lực lâu dài của kháng sinh. Do đó, hệ thống này đang chú trọng để dược sĩ tư vấn rõ ràng, giúp người bệnh hiểu vì sao phải tuân thủ đủ liệu trình và đồng hành trong quá trình điều trị.
Theo phó giáo sư Ngọc, kháng sinh cần được xem là tài sản quý của y học, không phải hàng hóa thông thường, vì vậy chỉ nên sử dụng khi có chỉ định của bác sĩ và tuân thủ đầy đủ liệu trình. Nếu dùng đúng cách, kháng sinh có thể bảo vệ sức khỏe lâu dài. Ngược lại, việc lạm dụng và sử dụng tùy tiện sẽ khiến thuốc dần mất tác dụng, đẩy người bệnh vào nguy cơ không còn lựa chọn điều trị hiệu quả trong tương lai.
Tin Gốc: Vnexpress

