Bộ Y tế đề xuất mô hình chăm sóc người cao tuổi trong dự thảo hướng dẫn thi hành Luật Dân số. Trong đó, Bộ Y tế đề xuất tận dụng nhà văn hóa, tổ dân phố để chăm sóc ban ngày, kèm theo đó là nâng cao đội ngũ chăm sóc tại chỗ cho người cao tuổi.
Đề xuất này được nhiều người quan tâm, đón nhận, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Ở tuổi ngoài 70, bà Nguyễn Thị Hòa (Thanh Liệt, Hà Nội) trước đây có thể tự đi chợ, tập thể dục nhưng khoảng một năm trở lại đây sức khỏe bà yếu dần.
“Hiện tôi đang điều trị đái tháo đường, cao huyết áp, tiền đình. Con cháu đi làm suốt ngày, nhiều khi tôi ở nhà một mình, có hôm mệt cũng không biết nhờ ai. Muốn đi khám bệnh thì phải đợi con cháu sắp xếp đưa đi, khá bất tiện”, bà Hòa bộc bạch.
Còn anh Khoa (Hà Đông, Hà Nội) đang chăm sóc mẹ đã gần 80 tuổi. “Bà bị tăng huyết áp và đi lại khó khăn. Trước đây gia đình có thể thay nhau chăm sóc nhưng hiện giờ vợ chồng tôi đi làm cả ngày, con cái đi học nên phần lớn thời gian bà ở nhà một mình.
Dù đã lắp camera và nhờ hàng xóm để ý giúp, chúng tôi vẫn rất lo, nhất là khi bà có thể té ngã hoặc quên uống thuốc. Những lúc cần đưa đi khám cũng phải xin nghỉ làm, khá áp lực”, anh Khoa nói.
Bà Hòa chia sẻ người cao tuổi đặc biệt tại TP thường xuyên phải ở nhà một mình, ít tham gia các hoạt động. “Nếu khu dân cư có điểm chăm sóc ban ngày ngay tại nhà văn hóa hoặc tổ dân phố thì rất thuận tiện. Chúng tôi vừa được theo dõi sức khỏe định kỳ vừa có nơi gặp gỡ, tập thể dục nhẹ, trò chuyện cho đỡ cô đơn”, bà Hoa nói.
Anh Khoa cũng cho rằng nếu có mô hình chăm sóc người cao tuổi ngay tại khu dân cư sẽ giảm gánh nặng rất lớn cho gia đình. Gia đình có thể yên tâm gửi ông bà vào ban ngày, có người hỗ trợ ăn uống, theo dõi sức khỏe.
“Tuy vậy điều tôi quan tâm là chi phí có phù hợp hay không và chất lượng dịch vụ phải ổn định, an toàn. Nếu làm tốt, đây sẽ là mô hình rất thiết thực, vừa hỗ trợ cho người già vừa giúp các gia đình an tâm hơn”, anh Khoa chia sẻ.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Trung Anh – Giám đốc Bệnh viện Lão khoa trung ương – cho hay Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Nếu không có những thay đổi đáng kể, đến khoảng năm 2036 Việt Nam sẽ chính thức trở thành một quốc gia có dân số già.
“Cùng với xu hướng này, số lượng người cao tuổi cần được chăm sóc sẽ gia tăng nhanh chóng. Điều đó đặt ra nhu cầu cấp thiết về việc chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời cho người bệnh và chăm sóc thường xuyên”, ông Trung Anh nhận định.
Liên quan đến mô hình chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi tại cộng đồng, tận dụng các tổ dân phố, nhà văn hóa, ông Trung Anh cho rằng đây là một hướng đi rất đáng quan tâm.
“Mô hình này có thể đóng vai trò như một điểm sinh hoạt cộng đồng, nơi truyền thông, giáo dục sức khỏe cho người cao tuổi, đồng thời cung cấp các hoạt động chăm sóc cơ bản với sự tham gia của nhân viên y tế trong ngày. Theo tôi, đây là mô hình hoàn toàn có tiềm năng triển khai tại Việt Nam.
Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cần đảm bảo một số yếu tố. Đó là sự phối hợp giữa ngành y tế và chính quyền địa phương, đào tạo đội ngũ nhân lực phù hợp, xây dựng quy trình chăm sóc, theo dõi rõ ràng. Đồng thời lồng ghép với các hoạt động truyền thông và tầm soát sớm.
Nếu được triển khai bài bản, mô hình này không chỉ giúp nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi mà còn góp phần giảm tải cho hệ thống y tế và hỗ trợ gia đình trong việc chăm sóc người thân”, ông Trung Anh chia sẻ.
Theo ThS Lê Văn Thành – nguyên trưởng Phòng nghiên cứu văn hóa – xã hội, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, hiện nay loại hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình chiếm tuyệt đại bộ phận, ở TP.HCM tỉ lệ này là trên 99,5%.
Nói cách khác, mô hình chăm sóc người cao tuổi hiện nay chủ yếu là ở gia đình. Tuy nhiên, bản thân nguồn lực chăm sóc của gia đình có chiều hướng suy giảm vì nhu cầu tham gia vào thị trường lao động xã hội. Ngay cả với mô hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình cũng không thể duy trì phương thức như lâu nay, cần được nâng cao chất lượng và thay đổi phương thức chăm sóc.
Việc phát triển mở rộng mạng lưới với các hình thức và loại hình cơ sở chăm sóc người cao tuổi đã được xác định là cần thiết. Cần tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao và tham gia các tổ chức xã hội, các hoạt động thiết thực.
Chiều 18/4, Bệnh viện Đa khoa Diễn Châu cho biết đang điều trị cho hơn 20 bệnh nhân tuổi từ 4-85, có biểu hiện ngộ độc thực phẩm. Họ trú ở xã Diễn Ngọc, Diễn Thọ, Diễn Bích, Diễn Hoa (huyện Diễn Châu cũ). Các ca nhập viện bắt đầu từ sáng 17/4 và tăng nhanh vào buổi tối cùng ngày, đến sáng hôm nay vẫn có thêm người đến khám.
Bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như nôn ói, đau bụng, tiêu chảy, một số trường hợp kèm sốt cao.
Theo lãnh đạo bệnh viện, các bệnh nhân đang được theo dõi, điều trị tích cực. Một số trường hợp sức khỏe đã ổn định, song vẫn cần tiếp tục giám sát do các triệu chứng tiêu hóa còn nặng.
Cơ quan chức năng đã kiểm tra cơ sở kinh doanh liên quan, đồng thời lấy mẫu thực phẩm và bệnh phẩm để xét nghiệm, làm rõ nguyên nhân.
Gần đây, các tỉnh phía Nam liên tiếp ghi nhận hàng trăm người nhập viện sau khi ăn món này. Ngày 3 và 4/3, cơ quan y tế tiếp nhận79 bệnh nhân tại phường Vũng Tàudo ăn bánh mì vỉa hè đường Đồ Chiểu. Trước đó vài ngày, 22 người ở TP HCM và hơn70 người tại cơ sở Hồng Ngọc 12 (Đồng Tháp) cũng gặp triệu chứng tương tự. Mới nhất là hàng trăm học sinh tiểu học tại TP HCM. Năm ngoái, hàng loạt sự cố với quy mô hàng trăm nạn nhân cũng xuất hiện tại nhiều địa phương.
Ngày 7/4, đại diện Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cho biết người hiến tạng trên bị thương nặng sau tai nạn giao thông, Hội đồng chuyên môn chẩn đoán chết não.
Bệnh viện chuẩn bị 4 phòng mổ, huy động gần 100 y bác sĩ tham gia lấy - ghép tạng chiều 6/4, với sự phối hợp của các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Trong đó, hai quả thận được ghép cho hai bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí. Trái tim, hai lá gan, hai giác mạc được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Mắt Trung ương ghép cho 5 bệnh nhân.
Đến chiều nay, các bệnh nhân đang được theo dõi sát sau ghép tạng.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Anh Cường, Giám đốc Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, cho biết đây là ca hiến tạng - lấy đa tạng thứ hai được triển khai tại bệnh viện. Hai năm trước, bệnh viện là đơn vị đầu tiên tại Quảng Ninh lấy đa tạng từ một người hiến chết não. So với ca đầu tiên chỉ lấy tạng, nay bệnh viện đã có thể triển khai đồng thời ghép hai ca thận trực tiếp tại đơn vị.
Bệnh viện sẽ triển khai các kỹ thuật chuyên sâu như ghép gan, ghép giác mạc trong thời gian tới.
Hiện, Quảng Ninh đã tiến hành ba trường hợp hiến ghép tạng.
Ghép tạng là một trong những thành tựu quan trọng nhất của y học nhân loại từ thế kỷ 20. Đây là phương pháp cuối cùng trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, hiểm nghèo do các mô, tạng bị suy giảm chức năng và không hồi phục như suy thận mạn, gan, tim, tủy, hỏng giác mạc...
Ca ghép tạng từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam thực hiện hồi tháng 5/2010.
Mới đây, một bệnh nhân (BN) nữ 35 tuổi ở Bắc Ninh được gia đình đưa đến khám tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện (BV) Bạch Mai (Hà Nội), sau thời gian dài trong tình trạng thường xuyên nói cười một mình, từng điều trị nhưng không lui bệnh. Người thân cho biết BN thường nghe thấy tiếng nói trong đầu và có lúc cãi lại, có lúc nghe theo tiếng nói đó.
Trước khi có biểu hiện trên, BN thường xuyên phải đi làm về muộn và tăng ca, công việc nhiều, dần dần xuất hiện ngủ kém, ngủ chập chờn khó vào giấc, sau đó tự ý nghỉ làm. Các biểu hiện hoang tưởng, ảo thanh tăng dần, BN được người nhà đưa đến khám, điều trị nội trú tại BV tâm thần tỉnh, ra viện được kê đơn ngoại trú. Khi đi làm trở lại, BN tái phát bệnh, luôn trong tình trạng lo lắng, sợ hãi, ám ảnh có người hại mình.
Tại Viện Sức khỏe tâm thần, BV Bạch Mai, qua khám và các kiểm tra đánh giá, BN cho thấy có các triệu chứng rối loạn cảm xúc hành vi theo hoang tưởng, ảo giác, được chẩn đoán mắc tâm thần phân liệt thể paranoid.
Quá trình điều trị BN, các bác sĩ chỉ định dùng thuốc chống loạn thần phối hợp kích thích từ xuyên sọ (Transcranial Magnetic Stimulation - TMS) theo phác đồ ảo thanh. Trong tuần đầu điều trị, BN hết hoang tưởng, còn ảo thanh trò chuyện; sau 2 tuần điều trị, BN hết ảo thanh, được ra viện, duy trì điều trị ngoại trú và đi làm trở lại.
Theo PGS-TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, BV Bạch Mai, ảo thanh ở BN tâm thần phân liệt thường tồn tại dai dẳng, xu hướng mạn tính.
Về điều trị ảo thanh ở BN tâm thần phân liệt, Viện trưởng Nguyễn Văn Tuấn cho biết, bên cạnh dùng thuốc, TMS là kỹ thuật kích thích và điều biến thần kinh dựa trên nguyên tắc cảm ứng điện từ của một điện trường trong não, dùng các xung từ tính sóng ngắn xuyên qua xương sọ kích thích các tế bào thần kinh để làm thay đổi chức năng điện thần kinh của vùng não tương ứng.
Với tiến bộ của trang thiết bị, TMS hiện đã có nhiều ưu điểm, kiểm soát tối ưu các tác dụng không mong muốn, bệnh nhân không phải gây mê, không xâm lấn, thêm cơ hội được điều trị với kết quả rất khả quan. "Tuy nhiên, BN cần được chẩn đoán đúng, chỉ định đúng bởi các bác sĩ chuyên khoa. Quá trình điều trị cần theo phác đồ phù hợp, để an toàn và hiệu quả", bác sĩ Tuấn lưu ý.
Chia sẻ thêm về bệnh tâm thần phân liệt, bác sĩ nội trú Nguyễn Thị Hoa, Viện Sức khỏe tâm thần, cho hay tâm thần phân liệt là bệnh lý loạn thần nặng và mạn tính, ảnh hưởng đến tư duy, hành vi và cảm xúc; ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm hoạt động cá nhân, gia đình, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp. Tỷ lệ mắc khoảng 0,3 - 0,5% dân số. Tỷ lệ ảo thanh trên người bệnh tâm thần phân liệt hiện chiếm khoảng 60 - 80%.
Theo Viện Sức khỏe tâm thần, TMS chỉ định trong rối loạn trầm cảm; tâm thần phân liệt, ảo thanh kéo dài; hội chứng đau, đau nửa đầu; sang chấn tâm lý; động kinh, ù tai; rối loạn hoảng sợ, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, rối loạn lo âu lan tỏa; phục hồi chức năng sau đột quỵ.
TMS là kỹ thuật điều trị hiện đại và không xâm lấn, sử dụng sóng từ trường ngắn phát ra từ một thiết bị đặt sát da đầu nhằm kích thích hoặc điều hòa hoạt động của các tế bào thần kinh ở một vùng não nhất định. Nhờ đó, các vùng não bị rối loạn hoạt động sẽ được "điều chỉnh" về trạng thái cân bằng hơn, giúp giảm bớt triệu chứng của nhiều bệnh tâm thần kinh.
Ưu điểm nổi bật của TMS là khả năng tái lập "trật tự" cho não bộ mà không cần phẫu thuật, không đau, không gây mê. Chỉ với sóng từ trường nhắm trúng vùng não rối loạn, BN tỉnh táo suốt quá trình thực hiện.