Ngày 8.4, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ, các bác sĩ Khoa Ngoại Lồng ngực vừa can thiệp kịp thời bảo tồn chân trái cho một bệnh nhân bị đau chân kéo dài do bệnh lý động mạch chi dưới nặng có nguy cơ hoại tử và cưa chân.
Trước đó, bệnh nhân Ng.V.Đ (70 tuổi, quê ở An Giang) nhập viện trong tình trạng loét gót chân dần mở rộng, lâu lành, cẳng bàn chân trái đau dai dẳng kéo dài hơn 3 tháng cùng nhiều bệnh lý nền như tăng huyết áp, tiểu đường…
Qua thăm khám lâm sàng, các bác sĩ ghi nhận động mạch đùi, động mạch khoeo và động mạch dưới gối chân bên trái của bệnh nhân không bắt được. Kết quả siêu âm Doppler mạch máu chi dưới ghi nhận tắc động mạch chậu bên trái, mất phổ 3 pha động mạch đùi, khoeo chân trái. Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới (CTA) để đánh giá cụ thể và chính xác hơn tình trạng bệnh lý mạch máu, vị trí tắc nghẽn, mức độ tổn thương mạch máu.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bị tắc động mạch chậu bên trái, tắc 1/3 giữa động mạch đùi bên trái và xơ vữa rải rác các động mạch chi dưới khác.
Bệnh nhân được chỉ định can thiệp nội mạch để kịp thời tái thông các mạch máu bị tắc gồm động mạch chậu và động mạch đùi nông bên trái.
Quá trình can thiệp, bệnh nhân được nong bóng và đặt 1 stent 06 x 58 mm vào động mạch chậu trái và nong bóng động mạch đùi bên trái. Sau can thiệp, tình trạng của bệnh nhân được cải thiện rõ, chân ấm, giảm đau chân và tiếp tục điều trị nội khoa.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Trang, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, việc can thiệp kịp thời không chỉ giúp bệnh nhân giữ lại chân trái mà còn ngăn chặn nguy cơ hoại tử và phải cắt cụt chi. Với chân còn lại, bác sĩ đã xây dựng kế hoạch theo dõi, thăm khám định kỳ chặt chẽ nhằm phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.
Cũng theo bác sĩ Nguyễn Văn Trang, bệnh động mạch chi dưới là tình trạng các động mạch, từ động mạch chủ bụng đến hệ mạch ở chân, bị hẹp, làm giảm lưu lượng máu nuôi cơ, da và thần kinh ở vùng phía dưới. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể tiến triển gây teo cơ, loét, hoại tử chi, lan dần từ ngọn đến gốc, thậm chí buộc phải cắt cụt chi.
Hiện nay, phương pháp can thiệp nội mạch cho hiệu quả tương đương phẫu thuật bắc cầu, đặc biệt với các tổn thương trên gối. So với phẫu thuật, kỹ thuật này có nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại chỗ, tránh mổ lớn và giúp người bệnh phục hồi nhanh, có thể sinh hoạt bình thường sau 24 – 48 giờ.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nắng nóng kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, đặc biệt ở người cao tuổi và người có bệnh nền như tăng huyết áp.
Khi trời nóng, cơ thể giãn mạch để tỏa nhiệt, điều này có thể khiến huyết áp giảm tạm thời. Tuy nhiên, việc mất nước do đổ mồ hôi nhiều lại khiến thể tích máu giảm và tim phải làm việc nhiều hơn.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, mất nước trong thời tiết nắng nóng có thể gây tụt huyết áp, chóng mặt, thậm chí ngất xỉu. Ở một số người, đặc biệt là người có bệnh nền, huyết áp cũng có thể dao động theo hướng tăng.
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA), huyết áp được phân loại như sau:
Ngay từ mức 130/80 mmHg, nguy cơ tim mạch đã bắt đầu tăng. Đặc biệt, huyết áp từ 180/120 mmHg trở lên được xem là tình trạng cấp cứu. Mức huyết áp này có thể gây tổn thương nhanh đến các cơ quan như não, tim, thận và mắt nếu không được xử trí kịp thời, theo Mayo Clinic (Mỹ).
Tiến sĩ Nieca Goldberg, bác sĩ tim mạch tại NYU Langone Health (Mỹ), cho biết thời tiết nóng có thể làm rối loạn điều hòa huyết áp, đặc biệt ở những người đang dùng thuốc điều trị.
Một số thuốc như thuốc lợi tiểu có thể làm cơ thể mất nước, khiến huyết áp biến động mạnh hơn trong điều kiện nắng nóng.
Trong thời tiết nóng, người có vấn đề về huyết áp cần chú ý:
Nếu xuất hiện các dấu hiệu này, cần nghỉ ngơi, bổ sung nước và tìm kiếm hỗ trợ y tế khi cần.
Các chuyên gia khuyến nghị:
Nắng nóng có thể khiến huyết áp dao động theo nhiều hướng, từ tụt huyết áp do mất nước đến tăng nguy cơ biến cố tim mạch. Việc hiểu rõ các ngưỡng huyết áp nguy hiểm và chủ động bảo vệ sức khỏe là điều cần thiết, đặc biệt trong thời tiết nắng nóng khắc nghiệt.
Đặc biệt, nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí khoa học BMC Nephrology đã cảnh báo về mối liên hệ mật thiết giữa sức khỏe răng miệng và chức năng thận.
Nghiên cứu quốc tế do các nhà khoa học Trường Y Đại học Cincinnati (Mỹ) dẫn đầu, đã bất ngờ phát hiện mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh nướu răng và bệnh thận.
Sau khi phân tích bằng chứng từ hơn 150 bài báo, bao gồm các nghiên cứu quan sát, phân tích tổng hợp và thử nghiệm can thiệp, các nhà nghiên cứu đã xác định bằng chứng ngày càng tăng về sự tương tác giữa răng miệng và thận.
Bệnh nha chu và bệnh thận mạn tính có các con đường viêm liên kết với nhau, có thể góp phần vào sự tiến triển của bệnh.
Từ răng miệng đến thận: Viêm nha chu không chỉ là nhiễm trùng tại chỗ. Vi khuẩn dưới đường viền nướu gây viêm mạn tính, tạo ra các tín hiệu viêm xâm nhập vào máu đến thận. Tại đây, chúng thúc đẩy hình thành sẹo, tổn thương mạch máu nhỏ và đẩy nhanh suy giảm chức năng lọc của thận. Đáng chú ý, những người bị viêm nha chu có tỷ lệ mắc bệnh thận mạn tính nặng cao hơn gấp 2,4 lần, theo trang tin nghiên cứu Study Finds.
Từ thận đến răng miệng: Khi chức năng thận suy giảm, chất thải tích tụ trong máu làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến nướu dễ bị tổn thương và chậm lành hơn. Ngoài ra, sự mất cân bằng khoáng chất do bệnh thận còn làm suy yếu xương hàm theo thời gian.
Nghiên cứu mang lại tin vui rằng điều trị nướu răng chỉ bằng cách làm sạch sâu răng và loại bỏ mảng bám, giúp giảm đáng kể viêm nhiễm ở bệnh nhân thận. Thử nghiệm cho thấy điều trị nướu răng giúp cải thiện chức năng thận cho bệnh nhân thận, thông qua cải thiện chỉ số cystatin C, một chỉ số được sử dụng để đánh giá chức năng thận (nồng độ Cystatin C tăng cao trong máu cho thấy thận bị suy giảm chức năng). Đặc biệt, ở bệnh nhân chờ ghép thận, điều trị nướu trước phẫu thuật giúp giảm đáng kể các biến cố tim mạch.
Bằng chứng trong nghiên cứu đã chứng minh rằng đánh răng 2 lần mỗi ngày là yếu tố quan trọng đối với việc duy trì chức năng thận, đặc biệt là trong việc quản lý bệnh mạn tính và giảm nguy cơ tim mạch cho bệnh nhân thận, theo Study Finds.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: Răng miệng và thận liên quan chặt chẽ với nhau. Để bảo vệ chức năng thận, bạn cần chăm sóc tốt răng miệng, như đánh răng 2 lần mỗi ngày và thăm khám nha khoa định kỳ. Đồng thời, sức khỏe răng miệng nên được đưa vào danh mục kiểm tra trong quá trình chăm sóc thận.
Ngày 11-4, ông Nguyễn Đức Tuy - Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ngãi - cho biết UBND tỉnh có tờ trình hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe tiền hôn nhân và Thường trực HĐND tỉnh thống nhất chủ trương.
Trên cơ sở đó UBND tỉnh sẽ xây dựng dự thảo quy định cụ thể về mức hỗ trợ cho từng nhóm đối tượng để trình HĐND tỉnh xem xét, ban hành trong thời gian tới.
Theo ông Tuy, chính sách trên được xây dựng đồng bộ cùng hai nghị quyết khác, gồm hỗ trợ phương tiện tránh thai và chi phí kế hoạch hóa gia đình. Đây là các nội dung cụ thể hóa Luật Dân số 2025, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1-7 tới.
Điểm đáng chú ý của chính sách là khuyến khích nam, nữ chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn. Việc hỗ trợ kinh phí sẽ căn cứ vào điều kiện ngân sách và thực tế của địa phương, đồng thời bám sát các quy định chung của Trung ương.
Luật Dân số 2025 cũng đặt ra định hướng mở rộng các hoạt động sàng lọc trước sinh và sơ sinh, nhằm phát hiện sớm các bệnh bẩm sinh và di truyền.
Kinh phí thực hiện được huy động từ nhiều nguồn như ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế… Trong đó chính quyền địa phương có quyền chủ động bổ sung chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế.
Việc Quảng Ngãi sớm thống nhất chủ trương hỗ trợ khám sức khỏe tiền hôn nhân được xem là bước đi chủ động trong bối cảnh luật mới sắp có hiệu lực.
Với quy mô dân số khoảng 2,1 triệu người, xếp thứ 22 cả nước, nhu cầu nâng cao chất lượng dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại địa phương là rất lớn.
Theo ngành y tế, khám sức khỏe tiền hôn nhân thường được thực hiện trước khi cưới từ 1 đến 6 tháng, bao gồm kiểm tra sức khỏe tổng quát và sức khỏe sinh sản cho cả nam và nữ.
Nội dung khám tập trung vào phát hiện các bệnh di truyền, bệnh truyền nhiễm, đánh giá khả năng sinh sản, đồng thời tư vấn tâm lý và kiến thức về đời sống hôn nhân.
Việc triển khai chính sách hỗ trợ không chỉ giúp giảm gánh nặng chi phí cho người dân, mà còn góp phần thay đổi nhận thức, hướng tới việc khám sức khỏe tiền hôn nhân trở thành thói quen phổ biến.
Đây được xem là giải pháp căn cơ để phòng ngừa rủi ro sức khỏe cho thế hệ tương lai, giảm áp lực cho hệ thống y tế và an sinh xã hội về lâu dài.