Mục Lục
ToggleLiên quan đến vụ ẩu đả xảy ra tại phường Tân Sơn Nhì, ngày 17.4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM cho biết đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Thành Đô (29 tuổi), Nguyễn Duy Huỳnh (42 tuổi), Trần Quang Anh Bằng (29 tuổi), Lê Tấn Phát (25 tuổi), Trần Hoàng Phúc (23 tuổi), Trương Quang Hiền (23 tuổi), Nguyễn Đình Tuấn (17 tuổi) và Trương Trung Hậu (30 tuổi) để điều tra về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Theo điều tra ban đầu, nguồn cơn vụ việc từ những mâu thuẫn trên mạng xã hội. Trước đó, Lê Tấn Phát và Nguyễn Đình Tuấn đăng bài viết vào các hội nhóm Facebook chia sẻ về quá trình đi phượt. Do nội dung bị cho là thiếu thực tế, bài viết đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều và tranh luận gay gắt từ cộng đồng mạng.
Sự việc đẩy lên cao trào khi Nguyễn Thành Đô đăng bài lên trang cá nhân nhằm mục đích trêu chọc Phát và Tuấn. Sau một hồi nhắn tin cự cãi, thách thức qua lại, 2 bên quyết định hẹn gặp mặt trực tiếp tại một quán cà phê trên đường Tân Thắng (phường Tân Sơn Nhì) để “giải quyết” mâu thuẫn. Tại điểm hẹn, 2 nhóm tiếp tục xảy ra cự cãi và dẫn đến xô xát.
Sau khi nhận tin báo, Công an phường Tân Sơn Nhì đã có mặt tại hiện trường, kịp thời ngăn chặn vụ việc và đưa những người liên quan về trụ sở. Tại cơ quan điều tra, những người này đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM tiếp tục củng cố hồ sơ, làm rõ vai trò của từng cá nhân để xử lý.
Công an phường Tân Sơn Nhì nhận định vụ việc là hồi chuông cảnh tỉnh về tình trạng mâu thuẫn ảo dẫn đến hậu quả thật đang có xu hướng gia tăng tại TP.HCM thời gian gần đây. Để ngăn chặn tình trạng này, bên cạnh việc xử lý nghiêm của pháp luật, rất cần sự phối hợp chặt chẽ từ gia đình, nhà trường trong việc quản lý, giáo dục thanh thiếu niên.
Để đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, Công an phường Tân Sơn Nhì đề nghị người dân khi phát hiện thông tin về tội phạm cần liên hệ ngay cảnh sát khu vực hoặc số điện thoại trực ban: 028.3847.0006.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Đừng đổ lỗi cho phụ nữ ‘lười sinh con’

Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.

Sáng 21.4, tại phiên thảo luận về kinh tế - xã hội, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã phát biểu làm rõ một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế, giải ngân đầu tư công, về y tế, giáo dục.
Trước đó, trong thảo luận, nhiều đại biểu nêu chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện qua từng năm, qua từng nhiệm kỳ nhưng vẫn còn một số hạn chế. Đó là tăng trưởng kinh tế vẫn dưới mức tiềm năng, tốc độ tăng năng suất lao động thấp hơn mục tiêu; hệ số ICOR của nền kinh tế còn cao, năng lực trình độ công nghệ còn yếu, các ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ chiến lược chậm phát triển.
Theo Phó thủ tướng, tăng trưởng cao và bền vững là yếu tố gắn bó chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, được ví như "hai cánh của một con chim" của nền kinh tế.
"Chúng ta chỉ có thể đạt được tăng trưởng cao trong một thời gian dài khi có nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và ngược lại", ông nói. Vì vậy, Chính phủ tiếp tục xác định ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết, nền tảng để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và ổn định.
Về đổi mới mô hình tăng trưởng, Trung ương sẽ ban hành nghị quyết chuyên đề nhằm tiếp cận toàn diện hơn với nhiều nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện thành công chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Tuy nhiên, ngay từ hiện nay, theo Phó thủ tướng, yêu cầu đặt ra là phải thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ, tái cấu trúc nền kinh tế, đồng thời bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Đây cũng là thách thức lớn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, bắt kịp, tiến cùng khu vực và thế giới, thực hiện các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Phó thủ tướng cũng cho hay, Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán nhằm trở thành một kênh huy động trung và dài hạn của nền kinh tế, chia sẻ "gánh nặng" với các ngân hàng - hiện vẫn là kênh cung cấp vốn trung, dài hạn chủ yếu của doanh nghiệp. Mục tiêu đến năm 2028, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 120% GDP.
Về giải ngân vốn đầu tư công, Phó thủ tướng nêu rõ, "dứt khoát phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch", đồng thời bảo đảm chất lượng. Chính phủ đang tập trung ưu tiên nguồn vốn cho các dự án trọng điểm quốc gia, giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước và gắn trách nhiệm người đứng đầu về tiến độ, chất lượng giải ngân, để không còn tình trạng giải ngân không được thì trả lại cho Trung ương.
Bên cạnh đó là việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng. Chính phủ đang trình Quốc hội ban hành nghị quyết về chính sách tháo gỡ toàn diện cho các dự án khó khăn, tồn đọng. Dự kiến sẽ huy động được nguồn lực khoảng hơn 3,3 triệu tỉ đồng cho tăng trưởng kinh tế.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
- Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
- Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
- Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là "mệnh lệnh phát triển", thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm "made in Viet Nam".
- Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
- Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là "đứng trên vai người khổng lồ".
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
- Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
- Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
- Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Tin Gốc: Vnexpress

