Sáng 11-4, tại Hà Nội, diễn ra hội thảo Tương lai ngành bán dẫn: Giải mã con chip, định hình tương lai, giúp các bạn học sinh hiểu rõ cơ hội nghề nghiệp, có thêm định hướng trong ngành bán dẫn.
Tại hội thảo, do Viện Đại học quốc tế FPT (Tập đoàn FPT) tổ chức, PGS.TS Phạm Thị Liên – Giám đốc đào tạo Đại học Gachon tại Việt Nam – cho biết theo dự báo, thị trường nhân lực bán dẫn toàn cầu có thể đạt quy mô 1.000 tỉ USD vào năm 2030.
Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ này kéo theo sự thiếu hụt về nguồn nhân lực. Trong đó đến cuối 2030, toàn cầu dự kiến thiếu khoảng 1 triệu kỹ sư bán dẫn.
Để khắc phục sự thiếu hụt nguồn nhân lực, Việt Nam đã đặt mục tiêu quốc gia đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030. Tuy nhiên thời điểm hiện tại mới đáp ứng khoảng 20% nguồn nhân lực trên thị trường.
“Ngoài thiếu hụt số lượng, hiện chúng ta còn đang thiếu hụt về chất lượng. Các kỹ sư khi được đào tạo ra gặp một số hạn chế về khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Cụ thể như thiếu hụt trầm trọng kỹ sư thiết kế vi mạch và quy trình sản xuất, thiếu kinh nghiệm thực chiến. Đặc biệt, còn gặp rào cản ngoại ngữ khi làm việc tại môi trường có yếu tố nước ngoài”, bà Liên nói.
Theo bà Liên, bán dẫn là một ngành học mới, học liệu mới gần như đều được cập nhật bằng tiếng Anh. Khi có khả năng ngoại ngữ tốt, sinh viên có thể tiếp cận, đọc hiểu tài liệu nhanh hơn nhiều lần. Nếu ngoại ngữ không tốt, sinh viên dễ bị lạc hậu, bỏ sau về kiến thức.
“Để học tốt lĩnh vực bán dẫn, người học cần có trình độ IELTS tối thiểu từ 5.5. Ngoại ngữ sẽ như một tấm “hộ chiếu” để những người theo đuổi bán dẫn cập nhật kiến thức toàn cầu, đi được đường dài trong học tập, phát triển sự nghiệp”, bà Liên nói thêm nếu cùng năng lực, người có ngoại ngữ lương có thể cao hơn gấp 1,5 lần.
Còn tiến sĩ Jimmy Le – Phó viện trưởng Viện Quantum AI, Tập đoàn FPT – cho rằng để phát triển bản thân, mỗi người cần phải vượt qua các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, phá vỡ những giới hạn để thể hiện năng lực bản thân.
Ông Jimmy Le cho rằng học sinh THPT tại Việt Nam có nhiều tiềm năng, nằm trong top 34 trình độ học sinh toàn cầu. Tuy nhiên các em cần tự tin hơn trong việc học tập, kết nối kiến thức, thể hiện năng lực bản thân để cạnh tranh với toàn cầu.
“Nếu chúng ta cứ chọn việc dễ thì không bao giờ việc đến với chúng ta. Hãy chọn công việc có nhiều thách thức, việc khó, để chúng ta cố gắng. Chúng ta hơn người khác là nhờ sự vượt khó”, ông Jimmy Le nhắn nhủ các bạn học sinh khi chọn ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn cần có sự đầu tư, quyết tâm, quyết liệt vô cùng lớn.
Theo ThS Võ Hoài Xuân – Phó giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam cho thấy tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ với sự gia nhập của các tập đoàn hàng đầu thế giới và sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn. Hiện Việt Nam có hơn 50 công ty thiết kế, 15 công ty đóng gói và kiểm tra vi mạch…
Ông Xuân cho biết phát triển công nghiệp bán dẫn là nhiệm vụ khó khăn liên quan đến các ngành với nhiều thách thức. Trong đó hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn trong nước vẫn trong giai đoạn hình thành, tiếp tục phát triển để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu.
Hiện nguồn lực chất lượng cao còn thiếu, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư thực hành và nhân lực trình độ chuyên sâu; hạ tầng kỹ thuật tiêu chuẩn cao. Do đó lĩnh vực bán dẫn cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế và đi vào chiều sâu, đặc biệt trong chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực.
Tại hội thảo, Trường đại học FPT và Đại học Gachon (Hàn Quốc) cũng đã ra mắt chương trình cử nhân công nghệ bán dẫn do hai bên hợp tác. Sinh viên theo học sẽ có cơ hội học tập 2 năm ở Việt Nam và 2 năm tại Hàn Quốc.
Đại học Yonsei và Đại học Korea đang đối mặt làn sóng chỉ trích sau các báo cáo về việc tuyển dụng học giả ưu tú nước ngoài nhưng thực tế những người này không giảng dạy hay cư trú tại Hàn Quốc.
Theo nhận định của Yonhap News, đây có thể là chiến lược nhằm "lách luật" của các bảng xếp hạng đại học danh tiếng như QS và THE. Cụ thể, nếu tên của trường được liệt kê ở phần tác giả của một bài báo, bài đó sẽ được tính vào tổng sản lượng nghiên cứu của trường.
Đại học Yonsei được cho đã bắt đầu lộ trình này từ năm 2017 qua chương trình "Yonsei Frontier Lab", ưu đãi lên tới 30.000 USD để các nhà nghiên cứu nước ngoài ghi tên Yonsei vào danh sách đơn vị liên kết trong các bài báo công bố quốc tế.
Kết quả là trong vòng 6 năm, nhóm này đã đóng góp hàng trăm bài báo cho trường. Thứ hạng của Yonsei trên bảng xếp hạng QS đã nhảy vọt từ ngoài top 100 năm 2018 lên vị trí thứ 70 thế giới vào năm 2023.
Đại diện Đại học Yonsei cho biết trường từng bổ nhiệm các học giả này trong thời gian đại dịch Covid-19, nhưng đã chấm dứt hợp đồng với khoảng 14 người vào năm 2022, sau khi nhận thấy việc thiếu trao đổi thực chất có thể gây ra những rắc rối về mặt pháp lý.
Phía nhà trường cũng phủ nhận chi tiền để yêu cầu học giả ghi danh trường, mà chỉ nhằm hỗ trợ đi lại và sinh hoạt.
Tương tự, chương trình "K-Club" do Đại học Korea triển khai năm 2023 thu hút khoảng 150 học giả nước ngoài. Thứ hạng của trường trên bảng xếp hạng THE đã nhảy từ ngoài top 200 lên vị trí 156 vào năm 2026.
Phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus cho thấy, trong hơn 8.700 bài báo liên quan đến Đại học Korea năm ngoái, hơn 1.000 bài (khoảng 11%) thuộc về các thành viên của K-Club. Tính đến giữa tháng 3, tỷ lệ này đã tăng lên 12,5%.
Đáng chú ý, phần lớn học giả này đang công tác toàn thời gian tại các viện nghiên cứu hoặc đại học khác ở nước ngoài. Sau khi nhận danh hiệu giáo sư thỉnh giảng của Đại học Korea, họ liệt kê tên trường này như một đơn vị công tác thứ hai hoặc thứ ba.
Điển hình là Zahoor Ahmed, một phó giáo sư người Pakistan, nổi tiếng với tần suất công bố bài báo khoa học "khủng" (trung bình hai tuần một bài), dù cho tới nay, ông chưa từng đặt chân đến khuôn viên Đại học Korea để làm việc.
Phía trường khẳng định mục tiêu của K-Club là thúc đẩy hợp tác quốc tế, nhưng số liệu thực tế lại cho thấy một bức tranh khác. Chỉ khoảng 8% trong số 1.600 bài báo của các giáo sư K-Club có tên đồng tác giả là giảng viên cơ hữu của trường này.
Giải thích, Đại diện Đại học Korea cho rằng đây là mô hình "hợp tác nghiên cứu từ xa", phù hợp với xu hướng số hóa toàn cầu, tương tự cách làm của Harvard, MIT hay Imperial College London.
Trường cũng bác bỏ cách gọi "giáo sư ma", khẳng định đóng góp học thuật không nên bị đánh giá chỉ dựa trên việc các nhà nghiên cứu có mặt trực tiếp tại trường hay không.
Trong tiêu chí xếp hạng đại học thế giới của THE, môi trường nghiên cứu và chất lượng nghiên cứu chiếm tổng cộng 59% trọng số. QS cũng coi nghiên cứu và khám phá là tiêu chí có sức nặng nhất, quyết định 50% thứ hạng của trường.
Đề nghị này xuất phát từ thực tế xâm hại trẻ em trên không gian mạng với nhiều hình thức tinh vi như bắt cóc online, bạo lực mạng, bắt nạt qua mạng. Ngoài ra còn từ kinh nghiệm của Úc từ tháng 12.2025 cấm người dưới 16 tuổi, Indonesia và Pháp cấm từ tháng 3.2026, còn Vương quốc Anh đang thí điểm và Hy Lạp cấm trẻ em dưới 15 tuổi sử dụng mạng xã hội có hiệu lực từ ngày 1.1.2027.
Sự lo lắng của các đại biểu Quốc hội là dễ hiểu. Một đứa trẻ 12 tuổi ngồi trước màn hình 4-5 tiếng mỗi tối, cuộn vô tận qua những video mà thuật toán biết rõ cách giữ chân hơn chính bố mẹ. Và khi người lớn không đủ thời gian theo dõi con em, khi nhà trường chưa hướng dẫn các em sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn thì ý tưởng cấm như một lối thoát. Nhưng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay cấm có thể là một "lối thoát trên giấy''.
Vấn đề thứ nhất nằm ở chính định nghĩa. Điều 33 luật Trẻ em 2016 ghi nhận trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp, có quyền tìm kiếm và thu nhận thông tin dưới mọi hình thức, được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi và năng lực.
Mạng xã hội năm 2026 không còn là một kênh giải trí mà có thể bóc tách riêng để cấm. Nó là hạ tầng giao tiếp của lớp học, của nhóm học thêm, của câu lạc bộ đọc sách, của đội tuyển học sinh giỏi, của các dự án STEM liên trường.
Úc có thể cấm vì họ có hạ tầng giáo dục số thay thế, có Learning Management System quốc gia, có kênh liên lạc giáo viên phụ huynh không phụ thuộc các nền tảng thương mại. Chúng ta thì ngược lại. Suốt giai đoạn Covid-19 và cho đến tận bây giờ, chính các nhóm Zalo lớp học, các fanpage trường, các buổi livestream ôn thi trên YouTube đã trở thành lớp học thứ hai của hàng triệu học sinh, trong khi Bộ GD-ĐT chưa có một nền tảng chính thức nào đủ sức thay thế.
Vấn đề thứ hai là khả năng về hiệu lực thực thi. Nghị định 147/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ 25.12.2024 đã quy định trẻ dưới 16 tuổi khi đăng ký mạng xã hội phải dùng thông tin của cha mẹ, đồng thời phụ huynh có trách nhiệm giám sát nội dung và quá trình sử dụng. Đây là một bước đi đúng hướng, đặt trách nhiệm giám sát vào tay người có khả năng giám sát thực sự.
Nhưng thực tế trẻ em mượn điện thoại người lớn, lập tài khoản ẩn danh, khai gian tuổi. Một lệnh cấm cứng hơn không xóa được những ngả lách này, nó chỉ đẩy các em sang những nền tảng ít được quản lý hơn, hoặc tệ hơn là vào những không gian ẩn danh nơi phụ huynh mất nốt khả năng quan sát. Chính UNICEF đã cảnh báo rằng các lệnh cấm mang tính bao trùm có thể dẫn đến hệ quả ngoài mong muốn khi trẻ tìm cách lách quy định.
Vấn đề thứ ba là khoảng trống của ngành giáo dục. Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT đã đưa tin học thành môn bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 9. Trên lý thuyết, chương trình yêu cầu học sinh hình thành năng lực ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật trong môi trường số hóa. Trên thực tế thì phần lớn giờ tin học ở các trường phổ thông hiện nay vẫn dừng ở Word, Excel và chút lập trình Scratch, còn nội dung quan trọng nhất với một đứa trẻ năm 2026 là nhận diện thông tin giả, hiểu cơ chế thuật toán gợi ý, phòng chống bắt nạt mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân thì lại gần như bỏ ngỏ.
Ngành giáo dục cần đi trước để biết phải trang bị gì cho trẻ em khi bước vào không gian số. Bởi cấm hay không cấm rồi cũng sẽ đến lúc các em 16 - 18 tuổi và bước vào mạng xã hội với tư cách một người sử dụng trưởng thành. Câu hỏi không phải là trì hoãn tuổi truy cập thêm vài năm mà là trong khoảng thời gian đó nhà trường đã dạy các em những gì.
Một chính sách tốt phải đồng thời bảo vệ trẻ khỏi rủi ro và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục hiện đại của trẻ, hai điều này không được phép triệt tiêu nhau. Do đó trước khi bàn đến ngưỡng tuổi và danh sách nền tảng bị cấm, phía Bộ GD-ĐT cần xem xét các yếu tố sau:
Một là, bao giờ có chương trình giáo dục năng lực số chính thức tích hợp vào môn giáo dục công dân và tin học với chuẩn đầu ra đo đếm được cho từng cấp học?
Hai là, nền tảng học tập số quốc gia có đủ sức thay thế các nhóm Zalo, Facebook trong giao tiếp nhà trường và phụ huynh sẽ xây dựng theo lộ trình nào?
Ba là, cơ chế phối hợp giữa Bộ GD-ĐT, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xác minh độ tuổi và bảo vệ dữ liệu cá nhân của học sinh trên các nền tảng số sẽ vận hành ra sao, dưới sự điều phối của cơ quan nào.
Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng là công việc không thể khoán trắng cho một điều cấm trong luật mà đòi hỏi nhà trường phải trở thành nơi dạy trẻ sống trong thế giới số với những đổi thay liên tục.