Năm 2026, Trường đại học Kinh tế (UEB) tuyển 3.000 sinh viên đại học chính quy cho 6 ngành, 8 chương trình đào tạo và 30 chuyên ngành chuyên sâu.
Trường dự kiến sử dụng 8 tổ hợp xét tuyển cho tất cả các ngành đào tạo chính quy trong nước gồm: D01 (toán, văn, tiếng Anh), C01 (toán, văn, vật lý), C04 (toán, văn, địa lý), C03 (toán, văn, sử), X01 (toán, văn, giáo dục kinh tế và pháp luật), A01 (toán, vật lý, tiếng Anh), D09 (toán, sử, tiếng Anh), D10 (toán, địa lý, tiếng Anh).
Trong đó, 4 tổ hợp dùng để xét tuyển kết hợp với chứng chỉ tiếng Anh quốc tế là A01, D01, D09, D10.
Về phương thức tuyển sinh, với hệ chính quy trong nước, năm nay nhà trường bỏ phương thức xét học bạ để gia tăng chất lượng đầu vào thí sinh. Với hệ chính quy liên kết đào tạo với nước ngoài, nhà trường vẫn sử dụng phương thức xét học bạ.
Đối với tuyển sinh đào tạo trong nước, ngoài xét điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc xét tuyển kết hợp với chứng chỉ tiếng Anh, trường còn xét điểm thi đánh giá năng lực HSA do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, xét tuyển thẳng, xét tuyển dự bị đại học và lưu học sinh.
Đối với tuyển sinh liên kết đào tạo với nước ngoài, trường xét theo 6 phương thức: xét kết hợp học bạ với chứng chỉ tiếng Anh quốc tế; xét học bạ; xét chứng chỉ SAT, ACT, A-LEVEL; xét điểm thi tốt nghiệp THPT; xét điểm thi đánh giá năng lực HSA; xét thí sinh tốt nghiệp THPT tại nước ngoài.
Trường đại học Kinh tế quy đổi chứng chỉ IELTS sang điểm 10 môn tiếng Anh như sau:
Về cách tính điểm thưởng, năm nay Trường đại học Kinh tế vẫn giữ nguyên mức điểm quy đổi cho giải nhất, nhì, ba học sinh giỏi quốc gia, quốc tế nhưng không còn cộng điểm thưởng cho giải khuyến khích.
Với điểm xét thưởng, năm nay kỳ thi Olympic và kỳ thi chọn học sinh giỏi bậc THPT cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng như kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương năm 2026 không còn xét giải khuyến khích, đồng thời có sự điều chỉnh giảm điểm xét thưởng giải nhất, nhì, ba nhằm đảm bảo sự công bằng cho các thí sinh xét tuyển thông thường.
Điểm mới năm 2026, nhà trường đã cộng điểm xét thưởng cho các giải tại kỳ thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, quốc tế do Bộ GD-ĐT tổ chức, cử tham gia.
Bảng quy đổi điểm khuyến khích với thí sinh có SAT, ACT, A-Level như sau:
Về lệ phí xét tuyển, các chương trình chính quy trong nước trường thu lệ phí theo quy định chung của Bộ GD-ĐT.
Với phương thức xét tuyển ngành quản trị kinh doanh do Đại học Troy hoặc Đại học St.Francis, Hoa Kỳ cấp bằng, lệ phí tuyển sinh 2.639.100 đồng/sinh viên (tương đương 100 USD).
Với khóa tuyển sinh năm 2026 chương trình đào tạo chính quy trong nước, nhà trường dự kiến áp dụng mức học phí 48 triệu đồng/năm, sau đó tăng 2 triệu đồng mỗi năm.
Ngày 4.4, Đại học (ĐH) Trà Vinh tổ chức lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường ĐH Trà Vinh thành ĐH Trà Vinh.
Tại buổi lễ, ông Hoàng Bách Việt, Phó vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường ĐH Trà Vinh thành ĐH Trà Vinh.
Theo PGS-TS Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc ĐH Trà Vinh, việc chuyển đổi từ Trường ĐH Trà Vinh thành ĐH Trà Vinh là kết quả của hành trình phát triển bền bỉ qua nhiều giai đoạn. Từ mô hình cao đẳng cộng đồng tiên phong đến Trường ĐH Trà Vinh và nay là ĐH Trà Vinh. Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà còn là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với những thành tựu nổi bật của nhà trường về quy mô, chất lượng và đóng góp cho xã hội.
Sự kiện hôm nay đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tự chủ đại học, trách nhiệm giải trình và hội nhập quốc tế trong bối cảnh luật Giáo dục đại học năm 2025 chính thức có hiệu lực.
Mặc dù thiết chế Hội đồng trường đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử nhưng ĐH Trà Vinh vẫn tiếp tục khẳng định sự nhất quán trong phát huy tinh thần dân chủ, đề cao trí tuệ thông qua việc ra mắt Hội đồng Chiến lược ĐH Trà Vinh – nơi quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý uy tín, nhằm tham vấn, định hướng và kiến tạo các quyết sách mang tính chiến lược, góp phần nâng cao chất lượng quản trị đại học trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở quán triệt các định hướng lớn từ Nghị quyết số 71 của Trung ương, Nghị quyết số 12 của Chính phủ, cùng Chương trình hành động số 06 của Tỉnh ủy và Kế hoạch số 12 của Ủy ban nhân dân tỉnh, ĐH Trà Vinh xác định kế hoạch hành động trong thời gian tới với 3 trụ cột cốt lõi gồm: kiến tạo mô hình quản trị hiện đại và phát triển đội ngũ tinh hoa; Nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; Phát triển không gian đại học thông minh, hiện đại và bền vững.
Nhà trường đặt mục tiêu trở thành một trong những cơ sở giáo dục đại học hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2030, tiến tới top 500 đại học hàng đầu châu Á vào năm 2035.
Phát biểu tại buổi lễ, bà Hồ Thị Hoàng Yến, Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long, nhấn mạnh: "Trước yêu cầu phát triển mới, chúng ta phải hành động với quyết tâm cao hơn, tư duy đổi mới mạnh mẽ hơn và cách làm hiệu quả hơn. Phải 'Đột phá tư duy – Nâng tầm tri thức - Kiến tạo phát triển'. Tôi tin tưởng rằng, với truyền thống, nền tảng đã có và khát vọng vươn lên, ĐH Trà Vinh sẽ phát triển mạnh mẽ, trở thành niềm tự hào của tỉnh và của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long...".
ĐH Trà Vinh hoạt động theo mô hình đa ngành, đa bậc học từ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, các chuyên khoa cấp I, cấp II khoa học sức khỏe, với 5 trường thành viên gồm Trường Ngôn ngữ – Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn; Trường Kinh tế, Luật; Trường Y Dược; Trường Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Thực hành sư phạm.
Bên cạnh đó, còn có hệ thống Bệnh viện ĐH Trà Vinh, thành lập Viện dừa ĐBSCL, Viện Công nghệ sinh học, Vườn ươm doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm LOTUS - thích ứng biến đổi khí hậu & chuyển giao công nghệ và các đơn vị nghiên cứu, chuyển giao công nghệ – phục vụ cộng đồng. Với quy mô đào tạo hơn 20.000 sinh viên, mục tiêu của nhà trường là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và ứng dụng phục vụ sự phát triển địa phương, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
Đây là cơ sở giáo dục đại học thứ 17 ký thỏa thuận hợp tác - đào tạo với báo Tuổi Trẻ. Theo đó, hai bên phối hợp triển khai chương trình học bổng Tiếp sức đến trường. Trường đại học Công Thương TP.HCM cấp học bổng hoặc giảm học phí cho sinh viên do báo Tuổi Trẻ giới thiệu.
Báo Tuổi Trẻ hỗ trợ truyền thông tuyển sinh của Trường đại học Công Thương TP.HCM trên các nền tảng, tổ chức các chương trình tư vấn, tọa đàm, sự kiện giáo dục.
Ở chiều ngược lại, Trường đại học Công Thương TP.HCM cung cấp chuyên gia, giảng viên tham gia các chương trình của báo.
Hai bên đặc biệt phối hợp xây dựng học phần thực hành truyền thông cho sinh viên, tổ chức các khóa tập huấn về truyền thông, quan hệ công chúng, thương hiệu.
PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường đại học Công Thương TP.HCM - cho biết trong vài năm gần đây trường có sự đầu tư, phát triển nhanh cả về cơ sở vật chất, đội ngũ, số lượng ngành đào tạo.
Việc hai bên ký kết hợp tác nhằm khai thác tối đa điều kiện của mỗi bên, thậm chí có thể dùng chung cơ sở vật chất và các tài nguyên phù hợp.
Thầy Hiệu trưởng cũng đề nghị báo có thể hỗ trợ cơ sở vật chất và cán bộ giảng dạy cho trường ở một số môn học, học phần phù hợp. Ông đề nghị các đơn vị của trường hợp tác chặt chẽ với báo để cùng nhau phát triển.
Nhà báo Lê Thế Chữ - Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ - cho rằng hai bên ký kết hợp tác là dấu mốc ý nghĩa kết nối giá trị cốt lõi hai đơn vị.
"Đây là đơn vị hợp tác thứ 17 của báo với các trường đại học, cao đẳng. Điều này cho thấy đây không chỉ là sự tin cậy của các trường dành cho báo, mà còn là cam kết của báo Tuổi Trẻ đồng hành cùng các trường.
Hợp tác không chỉ để quảng bá hình ảnh của trường, mà hướng đến những mục tiêu lớn hơn, đưa giá trị học thuật, đào tạo của trường đến cộng đồng xã hội. Các chuyên gia là giảng viên của trường sẽ tham gia các hoạt động của báo để có những giá trị cho bạn đọc", ông Chữ chia sẻ.
Nói về việc đào tạo tại báo Tuổi Trẻ, nhà báo Lê Thế Chữ cho biết thời gian qua đã có 4.000 sinh viên đến học tập tại báo. Ông hy vọng báo sẽ đón những sinh viên truyền thông đầu tiên của Trường đại học Công Thương TP.HCM đến học tập.
Ngoài ra, báo Tuổi Trẻ và trường tiếp tục gắn kết trong các hoạt động cộng đồng, không để những sinh viên hiếu học phải bỏ dở vì điều kiện khó khăn.
Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.