Khi Patrick Ciriello mất việc và không tìm được công việc mới trong gần một năm, mọi thứ với người đàn ông 60 tuổi ở Vermont (Mỹ) này dường như sụp đổ, bởi ông là trụ cột kinh tế của gia đình. “Bạn thường nghe về những người rơi xuống đáy vực”, Ciriello nói với Guardian. “Tôi cũng đã ở trong hoàn cảnh đó”.
Trong phần lớn sự nghiệp, Ciriello với tấm bằng thạc sĩ quản lý thông tin đã thiết kế vô số hệ thống phần mềm cho các ngân hàng, trường đại học và công ty dược phẩm. Ông đã trải qua nhiều cú sốc kinh tế, từ sự sụp đổ của bong bóng dotcom, khủng hoảng tài chính năm 2008 cho đến đại dịch Covid-19. Ông cũng mất việc nhiều lần, nhưng thường kiếm được công việc mới sau đó.
Nhưng đến năm 2023, khi cơn sốt AI bùng nổ, mọi thứ dường như khác hẳn. Ciriello cũng mất việc. Ông đã gửi hàng trăm đơn xin việc đến vị trí hỗ trợ IT, dịch vụ khách hàng, thậm chí cả công việc bán hàng tại quầy thực phẩm ở một siêu thị, nhưng đều nhận lại cái lắc đầu.
Không thể tìm công việc mới, Ciriello phải ở trên “ngôi nhà di động” là chiếc xe Toyota Highlander cũ. Vào một tối tháng 3/2024, ông nhận được tin nhắn bí ẩn trên LinkedIn và cuối cùng có công việc mới: huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo.
Sau khi tốt nghiệp trường Y khoa Albert Einstein và thạc sĩ y tế công cộng tại Đại học Brown nhiều năm trước, Rebecca Kimble, 52 tuổi, đã điều trị và cứu sống bệnh nhân tại các phòng cấp cứu trên khắp nước Mỹ, với thu nhập 300.000-500.000 USD mỗi năm. Nhưng vào tháng 2/2022, công việc của bà gặp trục trặc vì vấn đề sức khỏe. Sau hai năm điều trị và trở lại, bà liên tục bị từ chối khi ứng tuyển vào các vị trí.
Nhiều tháng nỗ lực tìm công việc mới không thành công, Kimble nhận ra bản thân có thể không quay lại phòng cấp cứu nữa, và đó là một cú sốc lớn. “Thật kinh khủng. Mỗi lần cố gắng nhưng lại bị từ chối, tôi lại phải trải qua quá trình vật lộn với chứng trầm cảm và lo âu. Tôi nghĩ một phần con người tôi đã chết, nhưng tôi chưa sẵn sàng cho điều đó”. Đầu năm nay, Kimble tìm thấy công việc mới: đào tạo AI trên nhiều nền tảng khác nhau, đánh giá cách các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) phản hồi câu hỏi về y tế.
Giống như Kimble, Anne chuyển sang lĩnh vực đào tạo AI sau khi sự nghiệp học thuật của cô bị đình trệ. Người phụ nữ 60 tuổi yêu cầu giấu tên này có bằng thạc sĩ về khoa học sức khỏe và tiến sĩ về chính sách công, đã dành 18 năm làm việc trong lĩnh vực quản lý giáo dục đại học, giám sát và giảng dạy các chương trình tiến sĩ.
Tuy nhiên, các hội chứng liên quan đến hậu Covid-19 khiến Anne mệt mỏi và giảm trí nhớ. Bà nghỉ việc tháng 4/2023, sau đó ứng tuyển vào khoảng 100 vị trí làm việc từ xa, nhưng đều bị từ chối. Trong một lần tình cờ, Anne tìm thấy công việc huấn luyện AI trên mạng. Từng có mức lương 6 con số trong giới học thuật, bà khi đó kiếm được 26 USD/giờ khi huấn luyện AI của Google, sau đó là Meta, không có bất kỳ phúc lợi nào. “Thật đau lòng và nản chí khi nghĩ đến tất cả thời gian tôi đã dành cho sự nghiệp và những hy sinh tôi đã bỏ ra để có tấm bằng thạc sĩ”, Anne nói.
Ciriello, Kimble, Anne là ba trong số những người trên 50 tuổi tìm đến công việc huấn luyện AI dù sở hữu trình độ chuyên môn cao. Công việc của họ chủ yếu là gắn nhãn và đánh giá thông tin sử dụng để đào tạo các mô hình như ChatGPT của OpenAI hay Gemini của Google. Các dịch vụ thường thông qua bên thứ ba như Mercor, GlobalLogic, TEKsystems, Micro1 hay Alignerr.
So với công việc trước đó, mức thu nhập của những chuyên gia giàu kinh nghiệm này có thể giảm rất sâu. Tuy nhiên, với hầu hết, chúng là công việc làm thêm, hoặc một phương án tạm thời sau khi bị sa thải. So với người huấn luyện phổ thông, nhóm chuyên gia này cũng kiếm nhiều tiền hơn, có thể tới 180 USD/giờ.
Nhưng đối với một số người lao động lớn tuổi như Ciriello, công việc huấn luyện AI lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác: nơi nương náu cuối cùng trong một thị trường việc làm khắc nghiệt thời công nghệ, nơi càng lớn tuổi càng khó trụ lại hoặc quay lại làm việc. Đối với nhiều người trong số họ, việc AI “cướp” việc nếu đào tạo chúng hay không là điều không còn quan trọng. Họ cần việc làm ngay bây giờ.
Theo Richard Johnson, Phó chủ tịch Viện Chính sách Công AARP của Mỹ, lao động Mỹ trên 60 tuổi mất thời gian tìm việc mới lâu hơn tới 50% so với độ tuổi 20-30. Chỉ một phần nhỏ tìm được công việc có mức thu nhập trước đây. “Các nhà tuyển dụng cho rằng người lao động lớn tuổi tốn kém hơn, thiếu kỹ năng hiện đại và khó đào tạo hơn so với người trẻ tuổi”, Johnson nói với WSJ.
Urban Institute, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu chính sách xã hội, cuối năm ngoái cho biết khoảng một nửa số người lao động ở Mỹ trong độ tuổi 50-54 bị buộc thôi việc sớm trước khi đến tuổi nghỉ hưu. Một tổ chức khác là Viện Chính sách Kinh tế (Economic Policy Institute) chỉ ra khoảng 5,7 triệu người lao động trên 55 tuổi đã mất việc làm giai đoạn 2020-2025, và nhiều người đến nay vẫn chưa tìm được việc làm ổn định.
Những người đang huấn luyện AI có trình độ cao cho biết công việc này có thể thú vị về mặt trí tuệ, nhưng nó cũng khiến họ phải đối mặt với sự bất ổn của nền kinh tế việc làm tự do. Ciriello cho biết đã phải ngừng một số công việc dán nhãn dữ liệu sau khi cảm thấy bị bóc lột; Anne đánh giá mọi thứ thoải mái hơn công việc cũ; nhưng Kimble cho rằng chúng “không phải là công việc”, chỉ là một hình thức làm thêm.
“Nếu ngày mai, khi được giao một công việc đúng chuyên môn mà tôi nghĩ mình có thể làm được, tôi sẽ đi làm”, bà Kimble nói”. Tôi nhớ phòng cấp cứu”.
Bảo Lâm tổng hợp
Mặt trái của nghề bán dữ liệu cá nhân cho AI
30 tỷ hình ảnh thu thập từ Pokémon Go được dùng để huấn luyện robot
Con người có thể cần huấn luyện để phân biệt khuôn mặt AI tạo
Phi hành đoàn trên tàu vũ trụ Orion thuộc nhiệm vụ Artemis II đang trong ngày thứ tư trên chuyến bay 10 ngày quay quanh Mặt Trăng. Đây là sự kiện được đánh giá mang tính lịch sử bởi khôi phục lại hoạt động thám hiểm không gian của con người ngoài Trái Đất. Artemis II còn là chuyến bay có người lái lên Mặt Trăng đầu tiên chứng minh tính ưu việt của công nghệ truyền dữ liệu bằng tia laser, hứa hẹn cách mạng hóa cách thức liên lạc giữa các tàu vũ trụ.
Tàu Orion hiện mang theo O2O, hệ thống liên lạc laser được phát triển tại Phòng thí nghiệm Lincoln của của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) phối hợp với Trung tâm không gian Goddard của NASA. Công nghệ này có khả năng truyền dữ liệu băng thông cao hơn từ không gian so với các hệ thống tần số vô tuyến (RF) truyền thống. Trong sứ mệnh Artemis II, O2O sử dụng chùm tia laser để gửi video và hình ảnh độ phân giải cao về bề mặt Mặt Trăng xuống Trái Đất với tốc độ tới 260 Mb/giây (Mbps).
"Truyền dữ liệu trong không gian luôn là một thách thức lớn", Farzana Khatri, kỹ sư hệ thống trưởng kiêm thành viên cấp cao của Nhóm Truyền thông Quang học và Lượng tử thuộc Phòng thí nghiệm Lincoln, cho biết trên trang MIT. "Cách thức truyền qua RF đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Phổ tần RF hiện bị tắc nghẽn nghiêm trọng và cũng không hoạt động hiệu quả ở khoảng cách xa hơn trong không gian. Truyền dữ liệu qua laser (lasercom) có thể giải quyết vấn đề".
Phòng thí nghiệm Lincoln đã phát triển O2O trong hơn hai thập kỷ. NASA tích hợp công nghệ này vào Artemis II và các sứ mệnh trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thám hiểm không gian đường dài và thu thập dữ liệu lớn.
Tàu vũ trụ Orion đã thu thập được lượng dữ liệu khổng lồ trong ngày đầu tiên của sứ mệnh. Theo Khatri, trước đây, những dữ liệu này nằm trên tàu vũ trụ cho đến khi hạ cánh xuống biển, thậm chí có thể mất nhiều tháng để được chuyển xuống. Nhưng với O2O hoạt động ở tốc độ cao nhất, tất cả dữ liệu có thể đưa xuống Trái Đất trong vòng vài giờ để phân tích. Nhờ đó, NASA có thể "livestream" mọi hoạt động trong sứ mệnh Artemis II.
"Với tốc độ 260 megabit mỗi giây, O2O giúp truyền video độ phân giải cao 4K từ Mặt Trăng", Steve Horowitz, quản lý dự án O2O, cho biết trên website NASA. "Ngoài video và hình ảnh, O2O sẽ truyền và nhận quy trình, hình ảnh, kế hoạch bay và đóng vai trò là cầu nối giữa Orion và trung tâm điều khiển nhiệm vụ trên Trái Đất".
Cốt lõi của O2O là thiết bị đầu cuối quang học dạng module linh hoạt và có khả năng mở rộng (MAScOT). Có kích thước bằng một con mèo nhà, MAScOT gồm một kính viễn vọng 4 inch được gắn trên một giá đỡ xoay hai trục (gimbal) với hệ thống quang học phía sau cố định. Gimbal định hướng chính xác kính viễn vọng và theo dõi chùm tia laser, qua đó các tín hiệu liên lạc được phát ra và nhận theo hướng người nhận hoặc người gửi dữ liệu mong muốn. Bên dưới gimbal là hệ thống quang học gồm các thấu kính hội tụ ánh sáng, cảm biến theo dõi, gương chuyển hướng nhanh và một số thành phần khác để định hướng chùm tia laser một cách chính xác.
Theo Axios, MAScOT là một phần của Dự án trình diễn chuyển tiếp truyền laser tích hợp (LCRD), gồm thiết bị đầu cuối dạng modem và bộ khuếch đại ILLUMA-T, được phóng lần đầu lên Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS vào tháng 11/2023. Trong 6 tháng tiếp theo, nhóm nghiên cứu của MIT đã thực hiện các thí nghiệm kiểm tra, đánh giá chức năng cơ bản, hiệu suất và tiện ích của hệ thống.
Ban đầu, nhóm đã kiểm tra xem liên kết quang ILLUMA-T đến LCRD có hoạt động ở tốc độ dữ liệu lý tưởng là 622 Mbps tải xuống và 51 Mbps tải lên hay không. Trên thực tế, tốc độ dữ liệu thậm chí còn cao hơn mong đợi với 1,2 Gb/giây (Gbps) tải xuống và 155 Mbps tải lên. MAScOT được vinh danh trong Giải thưởng R&D 100 năm 2025, sau đó được sử dụng cho Artemis II và sẽ hỗ trợ các sứ mệnh không gian trong tương lai.
"Thành công của chúng tôi với ILLUMA-T đặt nền tảng cho việc truyền phát video độ phân giải HD đến và đi từ Mặt Trăng", Jade Wang, đồng trưởng nhóm nghiên cứu Nhóm Truyền thông Quang học và Lượng tử, cho biết. "Bạn có thể hình dung tốc độ cho phép phi hành gia Artemis sử dụng để kết nối với bác sĩ, phối hợp các hoạt động nhiệm vụ và phát trực tiếp chuyến đi lên Mặt Trăng".
Trong sứ mệnh Artemis II, một nhóm vận hành chuyên trách của Phòng thí nghiệm Lincoln đảm nhiệm nhiệm vụ theo dõi các vấn đề kết nối kéo dài 10 ngày của phi hành đoàn từ các trạm mặt đất ở Houston (Texas) và White Sands (New Mexico) của Mỹ, thậm chí cả một trạm mặt đất ở Australia giúp quan sát tàu vũ trụ tốt hơn từ bán cầu Nam. Trước khi phóng, nhóm đã thực hiện một loạt mô phỏng từ trước đến khi phóng, hành trình lên Mặt Trăng và trở về, cho đến khi hạ cánh xuống biển vào cuối sứ mệnh.
"Những bài học kinh nghiệm từ sứ mệnh Artemis II sẽ mở đường cho con người quay trở lại bề mặt Mặt Trăng và xa hơn nữa, cuối cùng là đến Sao Hỏa", Khatri nói thêm. "Thông qua các chương trình Artemis, O2O sẽ đặt nền tảng cho kết nối dữ liệu tốc độ cao từ không gian, tạo nên di sản cho thế hệ tương lai".
Tàu Artemis II rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội), đưa bốn phi hành gia bay quanh Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nếu không có vấn đề lớn nào khác phát sinh trong Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.
Bảo Lâm tổng hợp
Toàn cảnh Trái Đất nhìn từ Artemis II
Phi hành đoàn Artemis II vượt mốc 'nửa đường tới Mặt Trăng'
Điểm đặc biệt của bốn phi hành gia Artemis II
Chương trình Mặt Trăng mới của Mỹ khác gì 54 năm trước?
Đáng chú ý, bản vá này được triển khai diện rộng bao gồm cả những thiết bị vốn đã đủ điều kiện nâng cấp lên các hệ điều hành mới hơn như iOS 26, nhằm ngăn chặn một mối đe dọa an ninh mạng đặc biệt nguy hiểm mang tên DarkSword.
Theo báo cáo từ Nhóm Phân tích Đe dọa của Google (TAG), DarkSword không chỉ là một lỗi đơn lẻ mà là một bộ công cụ khai thác tinh vi. Nó kết hợp chuỗi 6 lỗ hổng bảo mật zero-day khác nhau để xâm nhập hoàn toàn vào thiết bị chạy iOS từ phiên bản 18.4 đến 18.7 mà người dùng không hề hay biết.
Google cho biết các nhà cung cấp phần mềm giám sát thương mại và các nhóm tin tặc sử dụng DarkSword trong nhiều chiến dịch riêng biệt từ tháng 11/2025.
Đáng lo ngại hơn, các nhóm hacker đã sử dụng bộ công cụ này để thực hiện các cuộc tấn công nhắm mục tiêu, dẫn đến cảnh báo khẩn cấp từ Cơ quan An ninh mạng và Cơ sở hạ tầng Hoa Kỳ (CISA).
Thông thường, Apple sẽ ưu tiên thúc đẩy người dùng nâng cấp lên hệ điều hành mới nhất (iOS 26) để đảm bảo an toàn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận lớn người dùng vẫn lựa chọn ở lại iOS 18 vì nhiều lý do cá nhân hoặc sự ổn định của thiết bị cũ.
Kể từ bản iOS 26.2 được phát hành vào tháng 12 năm ngoái, Apple từng giới hạn các bản vá lỗi của iOS 18 chỉ dành cho những thiết bị không thể lên được iOS 26.
Tuy nhiên, trước mức độ nghiêm trọng của DarkSword - vốn có khả năng nghe lén và theo dõi mọi hoạt động, kể cả trên các ứng dụng mã hóa như WhatsApp hay Signal - Apple đã có sự phá lệ, cung cấp phiên bản iOS 18.7.7 cho tất cả người dùng còn đang ở phiên bản này.
Chuyên gia Jake Moore, cố vấn an ninh mạng toàn cầu tại ESET nhận định, iOS 18.7.7 là một bản vá đặc biệt vì tính chất chưa từng có của lỗ hổng mà nó xử lý.
Ông nhấn mạnh ngay cả khi người dùng đã kích hoạt Chế độ khóa (Lockdown Mode), việc cập nhật phần mềm vẫn là hàng rào bảo vệ tiên quyết và triệt để nhất.
Dù các bản vá cho DarkSword đã xuất hiện rải rác trong các phiên bản từ iOS 26.3 đến iOS 26.4, nhưng đối với những người dùng iPhone vẫn đang duy trì iOS 18, bản cập nhật 18.7.7 là lựa chọn duy nhất và cấp thiết để bảo mật dữ liệu cá nhân.
Người dùng được khuyến nghị thực hiện cập nhật ngay lập tức bằng cách truy cập vào Cài đặt > Cài đặt chung > Cập nhật phần mềm để bảo vệ thiết bị trước các cuộc tấn công có chủ đích.
Theo dự báo từ Boston Consulting Group (BCG), thị trường mã hóa tài sản thực toàn cầu có thể đạt mốc 19.000 tỉ USD vào năm 2033. Việt Nam được đánh giá là thị trường mã hóa tài sản thực (RWA - Real World Asset) có dư địa tăng trưởng lớn với tiềm năng kỳ vọng đạt 70 - 80 tỉ USD vào năm 2030.
Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị triển khai thí điểm các sàn giao dịch tài sản mã hóa, trung tướng Đặng Vũ Sơn - nguyên Trưởng ban, Ban Cơ yếu Chính phủ, cố vấn cấp cao Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA) nhận định, cơ hội lớn nhất của Việt Nam không chỉ là đi nhanh mà phải đi đúng ngay từ đầu. Cách tiếp cận bài bản về thể chế, tiêu chuẩn và quản trị sẽ quyết định khả năng tham gia sâu vào cấu trúc tài chính số mới.
Dù mang lại triển vọng, lĩnh vực này vẫn tiềm ẩn sự phức tạp cao. Ông Nghiêm Minh Hoàng, Trưởng ban RWA (thuộc Câu lạc bộ Đầu tư Tài sản số Việt Nam - VIDA) chỉ ra rằng các sản phẩm RWA phải đối mặt với 12 rủi ro chính, được phân thành 3 nhóm: rủi ro tài sản cơ sở, rủi ro cấu trúc tài chính và rủi ro công nghệ. Cụ thể, rủi ro tài sản cơ sở khi nhà đầu tư không nắm quyền sở hữu pháp lý trực tiếp, phụ thuộc vào bên lưu ký và khó thu hồi tài sản nếu đơn vị phát hành gặp sự cố.
Thứ hai, rủi ro cấu trúc tài chính như khoảng trống bảo chứng, bất cân xứng lợi ích và nguy cơ phát hành token vượt quá tài sản thực. Cuối cùng, rủi ro công nghệ và thị trường bao gồm thanh khoản không thực, hạn chế quy đổi, lỗi hệ thống và khung pháp lý chưa hoàn thiện. Đáng chú ý, việc đánh giá quá cao vai trò của blockchain dễ dẫn tới định giá sai về công nghệ, khi hệ thống chỉ đảm bảo dữ liệu, không xác minh tài sản ngoài chuỗi.
Dưới góc độ kỹ thuật, TS Đỗ Văn Thuật, Giám đốc Giải pháp và Kiến trúc Blockchain tại công ty 1Matrix, nhấn mạnh thách thức trọng tâm là đảm bảo tính xác thực giữa tài sản thực vật lý và dữ liệu trên chuỗi. Điều này đòi hỏi sự tích hợp giữa các cổng dữ liệu thực (oracle) đáng tin cậy, quy trình kiểm toán độc lập và khả năng đồng bộ giá theo thời gian thực.
Còn theo ông Lương Duy Phước, Giám đốc phân tích Công ty Chứng khoán Kafi, yếu tố quyết định sự thành bại không nằm ở công nghệ mà ở năng lực quản trị rủi ro. Đối với các nhà đầu tư, rủi ro lớn nhất là chưa hiểu đúng bản chất cấu trúc của sản phẩm. Do đó, thị trường đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối về quyền tài sản, cơ chế bảo chứng và khả năng thanh khoản thực tế nhằm duy trì niềm tin và bảo vệ người tham gia trước những biến động phức tạp của tài sản kỹ thuật số.