Mục Lục
ToggleTrang tin USNI News của Viện Hải quân Mỹ hôm 6/4 cho biết trong đề xuất ngân sách của Lầu Năm Góc cho năm tài chính 2027, hải quân Mỹ muốn quốc hội duyệt mua 540 tên lửa phòng không SM-6 có tổng giá trị 4,33 tỷ USD, tăng khoảng ba lần so với con số 166 quả trước đó một năm.
Lực lượng này cũng muốn được cấp 3 tỷ USD để mua 785 tên lửa hành trình Tomahawk, tăng hơn 14 lần so với 55 quả được phê duyệt trong năm tài chính 2026. Hải quân Mỹ còn đề xuất mua 494 tên lửa đối không tầm trung AIM-120 AMRAAM có tổng giá trị 804 triệu USD, cùng 141 ngư lôi hạng nặng Mark 48 với giá 571 triệu USD.
Phần lớn tên lửa Tomahawk và SM-6 sẽ nằm trong dự luật hòa giải ngân sách liên bang thứ hai, cho phép hải quân Mỹ dàn trải mua sắm trong vài năm.
Tên lửa hành trình Tomahawk đạt tầm bắn 1.600-2.500 km tùy phiên bản, có thể được khai hỏa từ hệ thống phóng thẳng đứng Mark 41 trên nhiều loại tàu mặt nước và tàu ngầm của hải quân Mỹ. SM-6 là tên lửa phòng không chủ lực của hạm đội tàu mặt nước Mỹ, cũng có khả năng làm nhiệm vụ chống hạm trong một số trường hợp.
SM-6 và Tomahawk nằm trong số những loại đạn đắt tiền, khó chế tạo nhất trong kho vũ khí của quân đội Mỹ.
Hải quân Mỹ đề xuất mua lượng lớn tên lửa giữa lúc xuất hiện lo ngại rằng lực lượng này đang tiêu hao quá nhiều vũ khí trong xung đột Trung Đông. Điều này làm kho dự trữ bị hao hụt và có thể khiến Mỹ gặp bất lợi trong nỗ lực đối phó với các đối thủ ngang hàng.
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ước tính đến cuối tháng 3, hải quân Mỹ đã khai hỏa khoảng 850 quả Tomahawk trong xung đột với Iran. Đây là số lượng tên lửa Tomahawk lớn nhất được phóng trong một xung đột đơn lẻ kể từ Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991.
Todd Harrison, chuyên gia cấp cao về chi tiêu quốc phòng tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, cho biết Washington cần mua lượng lớn tên lửa Tomahawk và SM-6, song ngành công nghiệp quốc phòng nội địa hiện không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu lớn như thế trong thời gian ngắn.
Harrison cho rằng chính quyền Tổng thống Donald Trump muốn dàn trải mua sắm bằng cách đưa phần lớn tên lửa vào dự luật hòa giải ngân sách liên bang, thêm rằng đây là phương án khả thi hơn. “Về cơ bản, họ đang ứng tiền trước để mua đạn dược”, ông cho hay.
Phạm Giang (Theo USNI News)
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hai-quan-my-muon-mua-them-gan-800-ten-lua-tomahawk-5059355.html

Theo Hãng tin Reuters, Karex Bhd - nhà sản xuất bao cao su lớn nhất thế giới - hôm 21-4 thông báo kế hoạch tăng giá bán từ 20-30%. Nguyên nhân là cuộc xung đột tại Iran đang khiến chuỗi cung ứng đứt gãy, đẩy chi phí nguyên liệu và vận tải lên mức kỷ lục.
Ông Goh Miah Kiat, Giám đốc điều hành Karex (Malaysia), cho biết doanh nghiệp không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển phần chi phí phát sinh sang người tiêu dùng. Mức tăng 20-30% thậm chí có thể chưa phải con số cuối cùng nếu chiến sự còn tiếp diễn.
"Tình hình hiện rất mong manh, giá cả đắt đỏ… Chúng tôi buộc phải chuyển phần chi phí này sang khách hàng" - ông Goh Miah Kiat nói. Ông cho biết thêm chi phí sản xuất đã tăng trên diện rộng, từ cao su tổng hợp, nitrile đến vật liệu đóng gói và chất bôi trơn.
Ông Goh Miah Kiat cũng cho biết từ khi xung đột Iran bùng phát cuối tháng 2, nhu cầu bao cao su tăng vọt.
Chi phí vận chuyển tăng cao và giao hàng chậm trễ khiến nhiều khách hàng không kịp bổ sung hàng, dẫn đến lượng tồn kho thấp hơn bình thường.
Các lô hàng của Karex tới châu Âu và Mỹ hiện mất gần hai tháng để đến nơi - lâu gấp đôi so với trước.
"Chúng tôi thấy nhiều lô hàng bao cao su vẫn đang nằm trên tàu, chưa tới được điểm đến dù nhu cầu rất lớn", ông Goh Miah Kiat nói. Ông cũng cho biết nhiều quốc gia đang phát triển đang thiếu hụt nguồn cung do thời gian vận chuyển kéo dài.
Karex hiện sản xuất hơn 5 tỉ chiếc bao cao su mỗi năm, cung cấp cho các thương hiệu lớn như Durex, Trojan cũng như các hệ thống y tế công như NHS và các chương trình viện trợ toàn cầu của Liên hợp quốc.
Nhu cầu bao cao su năm nay tăng khoảng 30%, nhưng nguồn cung toàn cầu giảm đáng kể do cắt giảm chi tiêu viện trợ nước ngoài, đặc biệt từ USAID.
Karex cho biết còn đủ nguyên liệu cho vài tháng tới và sẽ tăng sản lượng để đáp ứng thị trường. Tuy nhiên, công ty cảnh báo các quốc gia đang phát triển sẽ chịu ảnh hưởng nặng nhất do độ trễ vận tải.
Không chỉ bao cao su, ngành sản xuất găng tay y tế cũng đối mặt nguy cơ tương tự vì cùng chịu áp lực từ nguồn nguyên liệu hóa dầu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngày 17-4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi cho biết eo biển Hormuz đã "mở cửa hoàn toàn" cho tàu thương mại trong thời gian còn lại của lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran (sẽ hết hạn vào ngày 22-4), nhưng các tàu sẽ phải sử dụng tuyến đường theo điều phối, đồng thời cho biết động thái này phù hợp với lệnh ngừng bắn Israel - Lebanon 10 ngày vừa đạt được.
Tổng thống Donald Trump hoan nghênh tin tức này và cảm ơn Tehran, nhưng cho biết lệnh phong tỏa của Mỹ với các cảng Iran "sẽ vẫn có hiệu lực đầy đủ" cho đến khi hai bên đạt được thỏa thuận hòa bình.
Còn Iran đe dọa sẽ có "các biện pháp cần thiết" nếu lệnh phong tỏa không được dỡ bỏ. Trước các phóng viên, ông Trump thông báo đàm phán về cuộc chiến Iran tiếp tục trong suốt cuối tuần và ông "sắp có tin tốt", đồng thời lại nói lệnh ngừng bắn có thể sẽ không được gia hạn.
Reuters 18-4 đưa tin về một sự kiện dường như xác nhận các tuyên bố đó: Một đoàn tàu chở dầu đang băng qua eo biển Hormuz - sự kiện đi qua eo biển ở quy mô lớn lần đầu tiên kể từ khi Mỹ và Israel phát động cuộc chiến nhắm vào Iran bảy tuần trước.
Nhóm tàu này gồm bốn tàu chở khí hóa lỏng, một số tàu chở sản phẩm từ dầu và hóa chất, đi qua vùng biển phía nam đảo Larak (Iran), cùng nhiều tàu chở dầu khác bám theo từ phía Vịnh Ba Tư, theo dữ liệu từ MarineTraffic.
"Mọi chuyện có vẻ đang diễn ra rất tốt ở Trung Đông với Iran - ông Trump nói với các phóng viên trên chiếc Không lực Một khi đang trên đường trở về Washington từ Phoenix (Arizona) - Chúng tôi sẽ đàm phán suốt cuối tuần. Tôi kỳ vọng mọi thứ sẽ tiến triển tốt đẹp... Điều chính yếu là Iran sẽ không có vũ khí hạt nhân. Không thể để Iran có vũ khí hạt nhân, và điều đó quan trọng hơn mọi thứ khác".
Trước đó, Reuters dẫn một nguồn tin Pakistan am hiểu các nỗ lực trung gian cho biết một cuộc gặp giữa Iran và Mỹ có thể đưa ra bản ghi nhớ ban đầu, sau đó là thỏa thuận hòa bình toàn diện trong vòng 60 ngày.
Hiện vướng mắc lớn nhất có vẻ vẫn là chương trình hạt nhân của Tehran, khi Iran tỏ ra cương quyết với quyền phát triển điều mà họ gọi là "chương trình năng lượng hạt nhân dân sự". Ông Trump trong khi đó nói Mỹ sẽ loại bỏ các kho dự trữ uranium đã làm giàu của Iran.
Dễ hiểu lý do Tehran và Washington gặp nhiều trở ngại trong nỗ lực đạt được một thỏa thuận, bất chấp những cố gắng từ cả hai phía. Khoảng cách về lòng tin khiến thỏa hiệp trở nên cực kỳ thách thức - điều chủ yếu là do Washington gây ra.
Trong không đầy một năm, Mỹ đã hai lần tấn công Iran ở quy mô rất lớn, thủ tiêu lãnh tụ tối cao Ali Khamenei, hàng chục chỉ huy quân sự hàng đầu và khiến hơn một nghìn dân thường thiệt mạng, chưa kể tổn thất vật chất rất lớn.
Việc cả Mỹ và Iran đều có "lập trường tối đa" khi bước vào đàm phán cũng khiến mọi chuyện rất dễ rơi vào bế tắc.
Họ đã chỉ có thể ngồi lại với nhau sau khi cả hai nhận ra đối phương là không thể bị đánh bại hoàn toàn (dù ở mức bất đối xứng).
Với Mỹ, một khi mục tiêu lật đổ chế độ thần quyền coi như đã thất bại, kéo dài chiến sự trở thành sự tiêu hao vô ích cả về nguồn lực quốc gia lẫn vốn liếng chính trị của chính quyền Trump.
Với Iran, quyền làm giàu uranium gắn liền với vấn đề chủ quyền, năng lực răn đe và lòng tự hào dân tộc. Trong khi đó, eo biển Hormuz, qua cuộc chiến này, chứng tỏ là một tài sản chiến lược thiết yếu, một đòn bẩy địa chính trị mà Tehran sẽ còn có thể sử dụng trong tương lai.
Tuy nhiên, việc hai bên đang đàm phán cho thấy vẫn có một con đường phía trước, để nếu họ không thể đi chung, thì ít ra có thể tránh được đụng độ tương lai.
Con đường đó phải bắt đầu bằng duy trì lệnh ngừng bắn, do quay lại hành động thù địch là bất lợi với cả hai vào lúc này. Trên cơ sở đó, bất cứ một "thỏa thuận lớn" nào (như lời Tổng thống Trump) mới có thể khả thi.
Thay vì chỉ khăng khăng các yêu cầu của mình một cách vô ích, Tehran và Washington nên bắt đầu tiến trình ngoại giao từ những điểm chung, tuy ít ỏi, nhưng thiết yếu: một mối quan hệ ổn định, không đối đầu và cuối cùng là bình thường hóa. Mỗi bên cần từ bỏ giả định họ đang nắm lợi thế.
Dù các nhà lãnh đạo ở cả Washington và Tehran đều đưa ra những tuyên bố chiến thắng rầm rộ hai tuần qua, sự thật là cả hai đều có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho nhau nếu muốn.
Iran là một nước lớn, một nền văn minh lâu đời, và đã tỏ ra có thể chịu đựng được ngay cả khi Mỹ đã nỗ lực quyết liệt và lâu dài nhằm thay đổi chế độ ở Iran.
Hai nước chia sẻ những lợi ích quan trọng: ổn định khu vực, an ninh hàng hải, chống khủng bố và không phổ biến vũ khí hạt nhân. Chỉ có điều họ hiếm khi, nếu có bao giờ, tìm hiểu các điểm chung này.
Nếu bây giờ họ vẫn không thể làm như thế, tình trạng đối đầu sẽ gây ra thiệt hại cho gần như cả thế giới, nhưng trước hết là cho chính giới lãnh đạo hai nước, với những hậu quả có thể vượt ngoài tầm kiểm soát và dự báo của bất kỳ ai.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi ngày 17/4 đăng trên mạng xã hội X rằng eo biển Hormuz đã "mở cửa hoàn toàn" cho tàu thương mại, khiến giá dầu Brent giảm khoảng 10 USD, xuống mức 89 USD mỗi thùng chỉ sau vài phút và chứng khoán Mỹ lập đỉnh kỷ lục mới.
Tổng thống Donald Trump cho biết eo biển đã "hoàn toàn mở cửa và sẵn sàng cho giao thương", song ông khẳng định lệnh phong tỏa các cảng biển Iran sẽ không thay đổi cho đến khi một thỏa thuận giữa Washington với Tehran được "hoàn tất 100%". Tổng thống nói thêm quá trình đàm phán "sẽ diễn ra rất nhanh chóng" vì hầu hết các điều khoản đã được thống nhất.
Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf, người từng dẫn đầu phái đoàn đàm phán của Iran tại Pakistan, sau đó lại tuyên bố rằng eo biển Hormuz "sẽ không được mở nếu chiến dịch phong tỏa các cảng vẫn diễn ra".
Ông Ghalibaf còn nói rằng eo biển Hormuz mở hay đóng, cũng như các quy định liên quan, sẽ "được quyết định trên thực địa chứ không phải mạng xã hội", dường như ám chỉ bài đăng trên X của Ngoại trưởng Araghchi.
Tasnim, hãng thông tấn bán chính thức có liên hệ với Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) cũng đăng bài viết cho rằng thông báo trên X của Ngoại trưởng Araghchi là "tệ và không đầy đủ", thêm rằng hoạt động qua lại Hormuz của tàu thuyền sẽ bị xem là "không phù hợp" nếu Mỹ vẫn phong tỏa cảng biển Iran.
Một số tờ báo Iran còn kêu gọi giới chức làm rõ về vấn đề này. Hiện chưa rõ lý do có sự khác biệt về quan điểm giữa Ngoại trưởng Araghchi và Chủ tịch Quốc hội Ghalibaf.
Do sự thiếu rõ ràng này, nhiều hãng tàu thương mại vẫn chưa có đủ tự tin để khôi phục hoạt động bình thường qua Hormuz, dù eo biển được cho là "đã mở cửa". Theo Wall Street Journal, một số hãng tàu cho biết họ đang chờ đợi thêm những bảo đảm an ninh rõ ràng hơn trước khi nối lại lưu thông qua Hormuz.
Dữ liệu mà hãng tư vấn an ninh hàng hải Control Risks thu thập được cho thấy tình hình ở eo biển Hormuz "gần như không có gì thay đổi" sau thông báo của Ngoại trưởng Iran.
Các lãnh đạo ngành vận tải muốn đảm bảo chắc chắn rằng tàu của họ không gặp nguy hiểm, đồng thời họ có thể không muốn tuân thủ yêu cầu từ phía Iran về việc đi theo lộ trình sát bờ biển nước này, thay vì hai làn chính vốn được sử dụng trước chiến sự. Giới chức Iran cảnh báo các tàu vẫn cần được cho phép nếu muốn đi qua eo biển.
Yêu cầu trên của Iran đồng nghĩa với việc tuyến đường vẫn chưa thực sự mở cửa. "Điều đó không phải tự do hàng hải", Martin Navias, tác giả cuốn Chiến tranh tàu dầu: Cuộc tấn công vào tàu thương mại trong cuộc khủng hoảng Iran - Iraq, nhận định.
Trước xung đột, mỗi ngày có khoảng 130 tàu đi qua eo biển Hormuz, sử dụng hai làn đường chính khác biệt với lộ trình mà Iran quy định. Nếu muốn tối ưu hóa lượng lưu thông, tàu thuyền sẽ phải quay lại hai tuyến đường chính đó. Tuy nhiên, để các chủ tàu yên tâm, họ cần phải chắc chắn rằng chúng đã sạch bóng thủy lôi.
Theo giới chức Mỹ, Iran hiện không thể xác định được vị trí tất cả các bãi thủy lôi mà họ đã rải bên trong eo biển và thiếu khả năng gỡ bỏ chúng.
Trong điều kiện bình thường, hai tuyến đường này hoạt động như một "hệ thống phân luồng giao thông" mà Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, đã thông qua vào năm 1968 để tránh va chạm.
Tổng thư ký IMO Arsenio Dominguez ngày 17/4 cho hay họ đang xem xét liệu thông báo về việc mở lại eo biển có tuân thủ "quyền tự do hàng hải cho tất cả tàu thương mại và đảm bảo việc di chuyển an toàn bằng hệ thống phân luồng giao thông do IMO thiết lập hay không".
Các công ty vận tải biển lớn vốn đang do dự trong việc đưa tàu qua eo biển cho hay họ cũng đang tiến hành đánh giá liệu Hormuz đã trở nên an toàn hơn thực sự hay chưa.
"Chúng tôi vẫn còn một số câu hỏi chưa được giải đáp, nhưng chúng có thể được xử lý trong vòng 24 giờ tới", Nils Haupt, người phát ngôn công ty Hapag-Lloyd từ Đức, hãng vận tải container lớn thứ 5 thế giới, nói.
Ông cho biết thêm rằng Hapag-Lloyd muốn 6 con tàu đang bị kẹt của mình băng qua eo biển càng sớm càng tốt, nhưng họ vẫn cần câu trả lời về phạm vi bảo hiểm cũng như những chỉ thị rõ ràng từ phía chính phủ Iran về hành lang biển được phép sử dụng và trình tự các tàu rời đi.
"Trên lý thuyết, điều này có vẻ rất khả quan", Alexis Ellender, chuyên gia phân tích tại Kpler, công ty theo dõi dữ liệu hàng hải, bình luận, song ông dự đoán sẽ phải mất ít nhất một tuần trước khi lưu lượng tàu thuyền đi qua eo biển tăng lên đáng kể.
Một số công ty nhỏ hơn có thể sẵn sàng nối lại hoạt động nếu họ đảm bảo được các gói bảo hiểm với mức phí hợp lý. Theo phân tích dữ liệu của Kpler, có khoảng 900 con tàu đã bị kẹt lại tại vùng Vịnh trong suốt thời gian diễn ra xung đột giữa Mỹ - Israel với Iran.
Một nhà điều hành tàu tại Istanbul đang có tàu bị kẹt cho hay ông sẽ xem xét việc đưa tàu ra khỏi eo biển ngay lập tức nếu chắc chắn được về vấn đề bảo hiểm, nhưng ông dự kiến việc này sẽ mất vài ngày.
Tính đến chiều 17/4, theo dữ liệu vận tải của MarineTraffic, tàu thuyền vẫn chưa quay trở lại eo biển Hormuz với số lượng lớn. Chỉ khoảng 6 tàu hàng đi qua eo biển từ khi có thông báo của Iran, một số tàu khác di chuyển về phía Hormuz nhưng sau đó đã phải quay đầu chưa rõ lý do.
Nhìn bề ngoài, việc mở lại eo biển Hormuz là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy cuộc chiến kéo dài gần hai tháng qua giữa Mỹ và Iran đang đi đến hồi kết. Tuy nhiên, câu chuyện lớn hơn vẫn là mối lo về việc Iran có thể tận dụng eo biển như một đòn bẩy để gây áp lực lên kinh tế toàn cầu trong tương lai.
"Eo biển Hormuz giờ đây có chức năng gần giống như một công cụ răn đe không khác gì vũ khí hạt nhân", Jim Krane, chuyên gia năng lượng vùng Vịnh tại Viện Baker thuộc Đại học Rice, Mỹ, nhận định. "Đây là một quân bài khá mạnh của họ mà về cơ bản là bắt nền kinh tế toàn cầu làm con tin để ngăn chặn các cuộc tấn công nhắm vào mình".
Khoảng 20% lượng dầu mỏ và một phần lớn khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Khi Iran đóng cửa eo biển hồi tháng 3, nó đã tác động tức thì tới nền kinh tế thế giới. Nhiều quốc gia đối mặt tình trạng thiếu nhiên liệu trầm trọng và phải phân phối theo định mức, đồng thời nguồn cung phân bón bị thắt chặt, đe dọa năng suất cây trồng.
"Áp lực lên nền kinh tế toàn cầu thực sự đã vượt ngưỡng chịu đựng" khi chiến sự kéo dài sang tuần thứ 7, Krane cho hay.
Theo Ed Morse, cựu trưởng bộ phận nghiên cứu hàng hóa tại tập đoàn tài chính và đầu tư đa quốc gia Citigroup, ngay cả khi eo biển mở cửa trở lại hoàn toàn, cũng phải mất ít nhất 7 tuần để lượng dầu rời Trung Đông trước chiến sự có thể cập cảng các thị trường truyền thống.
Việc rà phá thủy lôi tại eo biển, điều mà ông Trump viết trên mạng xã hội Truth Social rằng đang diễn ra với sự hợp tác từ phía Iran, có thể mất gần một tháng tùy thuộc vào mức độ phối hợp.
Morse lưu ý trong quá trình này, các chủ tàu sẽ cực kỳ thận trọng khi đưa tàu quay trở lại Hormuz. Một tàu VLCC, loại tàu chở dầu thô lớn nhất, có giá khoảng 120 đến 130 triệu USD. "Bạn sẽ không mạo hiểm đối mặt nguy cơ mất đi cỗ máy in tiền của mình đâu", ông nói.
Tin Gốc: Vnexpress

