Báo cáo của Cục Hàng không cho hay, các doanh nghiệp gồm Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM), Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam (ACV), Cảng Hàng không quốc tế Phú Quốc, Vân Đồn đang được hưởng chính sách giảm 50% phí nhượng quyền khai thác cảng hàng không, sân bay với thời hạn áp dụng từ ngày 1.7.2025 đến hết ngày 31.12.2026.
Cục Hàng không tính toán dự kiến trong năm 2026, số phí nhượng quyền khai thác cảng hàng không, sân bay VATM được giảm khoảng 69 tỉ đồng. Nhóm các doanh nghiệp cảng gồm: ACV được giảm khoảng 132 tỉ đồng; Vân Đồn và Phú Quốc được giảm khoảng 8 tỉ đồng.
Nhằm kịp thời ứng phó với biến động bất thường từ giá nhiên liệu, Cục Hàng không đề xuất chính sách giảm 15% giá dịch vụ điều hành bay đi, đến đối với các chuyến bay nội địa; giảm 20% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa với thời gian áp dụng trong 3 tháng (đến ngày 30.6).
Trước đó, VATM đề nghị chưa giảm giá dịch vụ điều hành bay với các chuyên bay nội địa. Lý do giai đoạn tháng 4 – 5 hàng năm là giai đoạn thấp điểm nên các hãng đều cắt giảm sản lượng, không hoàn toàn do ảnh hưởng giá nhiên liệu tăng cao.
VATM cho biết, thời gian tới khi giá nhiên liệu Jet A-1 tiếp tục biến động theo chiều hướng tăng mạnh, doanh nghiệp điều hành bay sẽ chủ động theo dõi, thực hiện hỗ trợ giảm giá dịch vụ điều hành bay theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Cảng Hàng không quốc tế Phú Quốc cũng cho biết đang chịu áp lực từ việc gia tăng chi phí đầu vào do chi phí nhiên liệu tăng cao. Do đó, doanh nghiệp này đề xuất giảm 10% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa; thời gian áp dụng 3 tháng (từ ngày 15.4 – 15.7).
ACV đang xây dựng phương án điều chỉnh giảm giá đối với các dịch vụ do Nhà nước định khung giá và sẽ tổng hợp, đề xuất phương án phù hợp, báo cáo Cục Hàng không ngay sau khi hoàn thiện.
Về phía các hãng bay, Vietnam Airlines và Vietravel Airlines đề xuất giảm 50% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay và dịch vụ điều hành bay đi, đến đối với chuyến bay quốc nội. Vietravel Airlines đề xuất giảm thêm 30% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay và dịch vụ điều hành bay đi, đến đối với chuyến bay quốc tế.
Với đề xuất giảm 15% giá dịch vụ điều hành bay và giảm 20% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa, Cục Hàng không dự kiến tác động đến doanh thu của VATM giảm khoảng 30 tỉ đồng, bằng khoảng 44% số phí nhượng quyền khai thác được giảm trong năm 2026.
Doanh thu của ACV (doanh thu hoạt động khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không do Nhà nước đầu tư, quản lý) giảm khoảng 45,6 tỉ đồng, bằng khoảng 34% số phí nhượng quyền khai thác được giảm trong năm 2026. Doanh thu của Cảng Hàng không quốc tế Phú Quốc, Vân Đồn giảm khoảng 2,7 tỉ đồng, bằng khoảng 34% số phí nhượng quyền khai thác được giảm trong năm 2026.
Theo đánh giá, chính sách giảm giá như trên cơ bản tác động không đáng kể đến cân đối thu chi của hoạt động khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không do Nhà nước đầu tư, quản lý.
Do đó, Cục Hàng không đề xuất Bộ Xây dựng ban hành chính sách giảm 15% giá dịch vụ điều hành bay đi, đến và 20% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa đến hết ngày 30.6.
Chiều 22.4, Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng cho biết Phó chủ tịch UBND thành phố, ông Lê Quang Nam đã ký văn bản chấp thuận chủ trương cho Công ty CP Địa ốc Đại Quang Minh (thuộc hệ sinh thái Công ty CP Tập đoàn Trường Hải - THACO) lập hồ sơ đề xuất dự án tuyến đường sắt đô thị theo phương thức đối tác công tư (PPP).
Theo đó, UBND thành phố cho phép doanh nghiệp tiến hành khảo sát, nghiên cứu và lập các báo cáo gồm báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, đề xuất chủ trương đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi theo đúng quy định. Doanh nghiệp sẽ tự chịu toàn bộ chi phí và rủi ro nếu hồ sơ không được phê duyệt; thời hạn nộp hồ sơ trước tháng 10.2026.
Sở Xây dựng Đà Nẵng được giao làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ dự án. Thành phố cũng yêu cầu doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành để xây dựng phương án đầu tư đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, đặc biệt là phương án vận hành, khai thác và bảo trì sau khi đưa vào sử dụng.
Đồng thời, các sở, ban ngành và địa phương có tuyến đường sắt đi qua có trách nhiệm cung cấp thông tin, số liệu, hỗ trợ nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ đề xuất.
Theo định hướng, tuyến đường sắt đô thị Đà Nẵng có chiều dài hơn 103 km, hướng tuyến điểm đầu tại Nhà ga T1 (sân bay Đà Nẵng) và điểm cuối tại sân bay Chu Lai. Tuyến đường sắt đô thị kết nối từ sân bay quốc tế Đà Nẵng - Hội An - Tam Kỳ - Chu Lai.
Giai đoạn 1 dự án dự kiến triển khai dài 30,2 km gồm 14 nhà ga nối sân bay Đà Nẵng với Hội An; giai đoạn 2 dự án dài 73,6 km gồm 10 nhà ga nối Hội An tới sân bay Chu Lai.
Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 265.972 tỉ đồng.
Tại buổi làm việc giữa lãnh đạo thành phố Đà Nẵng và THACO do Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì, nhiều thông tin quan trọng liên quan đến dự án đã được công bố.
Tỉ phú Trần Bá Dương, Chủ tịch HĐQT THACO, cho biết sau khi dự án được phê duyệt và hoàn tất lựa chọn nhà đầu tư, nếu tiến độ thuận lợi, doanh nghiệp dự kiến khởi công vào tháng 2.2027 và đưa vào vận hành tuyến metro đầu tiên của Đà Nẵng vào năm 2032.
Ông Trần Bá Dương khẳng định, THACO đã có kinh nghiệm triển khai dự án đường sắt đô thị tại TP.HCM nên có thể nhanh chóng bắt tay thực hiện ngay khi được lựa chọn chính thức.
Về phía chính quyền, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng đề nghị THACO chủ động chuẩn bị đầy đủ điều kiện triển khai, đồng thời xây dựng định hướng phát triển và thương hiệu cho dự án. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền, doanh nghiệp cần kịp thời báo cáo để thành phố xem xét, tháo gỡ.
Lãnh đạo thành phố cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thiện các thủ tục cần thiết nhằm hiện thực hóa dự án hạ tầng chiến lược này trong thời gian sớm nhất.
Ngày 17.4, Tập đoàn Gemadept cùng hãng tàu CMA CGM (Pháp) chính thức tổ chức lễ động thổ dự án cảng nước sâu Gemalink giai đoạn 2 tại cụm cảng Cái Mép - Thị Vải (phường Tân Phước, TP.HCM).
Theo Tập đoàn Gemadept, dự án cảng nước sâu Gemalink giai đoạn 2 sau khi hoàn thành sẽ đưa công suất của cảng đạt hơn 3 triệu TEU/năm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng hàng hóa và tiếp nhận tàu lớn thông qua cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải.
Việc mở rộng Gemalink giai đoạn 2 cùng đối tác CMA CGM nằm trong lộ trình chiến lược 2026 - 2030 của Tập đoàn Gemadept, xoay quanh các trụ cột cốt lõi: khai thác cảng, port-logistics và vận tải thủy - biển.
Cảng Gemalink đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái cảng - logistics của Tập đoàn Gemadept và đối tác CMA-CGM, là một trong 19 cảng trên thế giới có thể tiếp nhận tàu container tải trọng lớn nhất hiện nay lên đến 250.000 tấn (tương đương 24.000 TEU).
Sau 5 năm đưa vào khai thác (2021 - 2025), tổng số chuyến tàu qua cảng Gemalink là hơn 2.000 chuyến, trong đó có gần 70% số chuyến tàu có tải trọng lớn từ 160.000 - 232.606 tấn. Cảng đã đạt sản lượng thông qua là 6,5 triệu TEU với mức tăng trưởng mỗi năm đều đạt 2 con số.
Với lợi thế là cảng nước sâu duy nhất tại khu vực Cái Mép đón được các tàu có tải trọng lớn nhất hiện nay, cảng Gemalink sẽ đóng vai trò quan trọng cửa ngõ của khu vực phía Nam trên tuyến hàng hải thế giới.
Trước đó, năm 2019, giai đoạn 1 cảng nước sâu Gemalink đã được khởi công. Giai đoạn 1, cảng này có cầu bến chính dài 800m. Cầu tàu được nối với bờ bằng 3 cầu dẫn. Năng lực xếp dỡ của giai đoạn 1 là 1,5 triệu TEU/năm.
Ở giai đoạn 2, cầu cảng chính dài 285m, tiếp nhận cỡ tàu 250.000DWT, cầu cảng thượng lưu dài 359m tiếp nhận cỡ tàu 150.000DWT, cầu cảng sà lan dài 390m tiếp nhận tàu/sà lan 5.661DWT.
Như vậy, toàn bộ dự án cảng nước sâu Gemalink có quy mô 1.150m cầu cảng bến chính, tổng diện tích 93ha.
Là cảng nước sâu duy nhất trong khu vực Cái Mép - Thị Vải có thể đầu tư mở rộng trong 5 năm tới cùng với sự đồng hành của CMA CGM, hãng tàu lớn thứ 3 thế giới, cảng Gemalink cả 2 giai đoạn sẽ đủ năng lực đáp ứng lượng hàng hóa tăng trưởng và đón nhận dòng hàng hóa trung chuyển từ các quốc gia trong khu vực, đưa cảng trở thành 1 trung tâm trung chuyển hàng đầu khu vực và duy trì vị thế là cảng nước sâu lớn nhất của cả nước.
Cụ thể, về nguyên tắc điều chỉnh giá bán xăng dầu, Bộ Công thương đề xuất giao quyền quyết định giá cho doanh nghiệp. Theo đó, giá bán buôn và giá bán lẻ xăng dầu trong và ngoài hệ thống do thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối tự quyết định, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật về giá và cơ chế thị trường. Giá bán buôn (đối với dầu mazut) và giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân đầu mối được xác định theo công thức quy định.
Giá bán lẻ xăng dầu của các cửa hàng thuộc hệ thống phân phối không được cao hơn mức giá do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối công bố - là đơn vị cung cấp nguồn hàng cho các cửa hàng này.
Giá bán lẻ xăng dầu tại các cửa hàng không thuộc hệ thống phân phối của thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối sẽ được thương nhân bán lẻ quyết định, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về giá và theo cơ chế thị trường.
Đối với địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất xăng dầu, nếu có chi phí thực tế phát sinh hợp lý, hợp lệ (đã được kiểm toán) tăng cao dẫn đến giá bán cao hơn giá bán tính toán theo công thức, thương nhân đầu được quyết định giá bán thực tế tại địa bàn đó để bù đắp chi phí phát sinh. Mức tăng này không được vượt quá 2% so với giá bán lẻ do thương nhân công bố tại cùng thời điểm.
Tại địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất, giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân phân phối, thương nhân bán lẻ quyết định. Song, không được vượt quá giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân đầu mối bán xăng dầu cho thương nhân đó công bố tại cùng địa bàn và cùng thời điểm.
Dự thảo cũng quy định, các thương nhân sau khi điều chỉnh giá sẽ thực hiện kê khai, gửi về Bộ Công thương hoặc UBND cấp tỉnh - nơi thương nhân có hệ thống phân phối; đồng thời, kết nối mạng với cơ quan quản lý nhà nước về dữ liệu kê khai giá theo quy định.
Về công thức giá bán xăng dầu, dự thảo nêu rõ giá bán xăng dầu bằng (=) giá mua xăng dầu cộng (+) chi phí tạo nguồn cộng (+) chi phí kinh doanh định mức cộng (+) lợi nhuận cộng (+) thuế.
Từ công thức trên, theo Bộ Công thương, giá mua xăng dầu do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chi phí tạo nguồn (từ nhập khẩu và mua trong nước) do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh.
Chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu trong nước (gồm chi phí bán buôn, chi phí bán lẻ) của thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu (đã bao gồm chi phí dành cho thương nhân phân phối xăng dầu, thương nhân bán lẻ xăng dầu).
Chi phí kinh doanh định mức hiện hành được sử dụng làm mức chi phí khởi điểm. Khi nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính công bố chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm mức khởi điểm.
Chi phí kinh doanh định mức hàng năm được điều chỉnh tăng, giảm theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thực tế bình quân của năm trước do cơ quan Thống kê công bố.
Định kỳ 3 năm/lần, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, công bố chi phí kinh doanh định mức cho thời kỳ tiếp theo để thương nhân thực hiện.
Trường hợp chi phí kinh doanh định mức biến động bất thường, tác động đến nguồn cung xăng dầu và có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng hoặc các chính sách liên quan tác động đến sự tăng giảm chi phí kinh doanh định mức, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan báo cáo, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép rà soát chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm gốc trước thời hạn định kỳ và công bố để thương nhân thực hiện.
Đáng chú ý, trong công thức tính giá, dự thảo đề xuất phần lợi nhuận sẽ do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tự xác định theo thực tế kinh doanh. Theo đó, các thương nhân đầu mối, phân phối, bán lẻ xăng dầu đều phải công bố giá bán buôn (dầu mazut), giá bán lẻ xăng trên trang thông tin điện tử của thương nhân, trên các phương tiện thông tin truyền thông khác (nếu có).
Song song đó, thông báo công khai giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân tại cửa hàng, điểm bán xăng dầu. Thời gian công bố giá bán xăng dầu thực hiện ngay sau khi điều chỉnh giá bán xăng dầu.