Ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty Thiên Bút kinh doanh thực phẩm, cho biết từ đầu năm đến nay, lãi suất vay ngân hàng (NH) tăng liên tục. Có những khoản vay đầu năm chỉ ở mức 5,5%/năm nhưng sau đó điều chỉnh lên 7,5%/năm và nay có những khoản lên đến 9,1 – 10%/năm. “Từ trước nay chúng tôi chủ yếu vay ngắn hạn 6 tháng, có tài sản thế chấp là bất động sản. Nhưng không những lãi vay tăng lên mà hạn mức tín dụng cũng được điều chỉnh giảm xuống. Chẳng hạn, trước đây NH cho vay 70 – 80% tài sản thế chấp nhưng nay chỉ vào khoảng 50%. Dòng tiền NH giải ngân không mạnh, có những thời điểm nhà băng báo bị hết room nên có khi phải chờ. Doanh nghiệp được cấp hạn mức tín dụng khoảng 80 tỉ đồng nhưng nay cũng không dám dùng hết số này”, ông Phong chia sẻ và cho hay chi phí tài chính hiện nay tăng gấp đôi so với đầu năm, chưa kể chi phí vận chuyển, lưu kho cũng gia tăng.
Ở chiều ngược lại, mãi lực tiêu thụ trên thị trường lại giảm khi hàng quán, bếp ăn đóng cửa nhiều. Trước đây kho hàng chứa khoảng 10 tấn phục vụ hơn 50 khách hàng đông đúc nhưng nay lại vắng vẻ. Các doanh nghiệp thực phẩm phải hạ giá bán để thu hồi vốn nhanh chứ càng chậm càng phải trả lãi NH tăng lên. “Mấy nay NH tuyên bố giảm lãi suất tiết kiệm nhưng các khoản vay hiện nay chưa nhận được sự điều chỉnh đi xuống. Trong khi trước đây chưa đến hạn điều chỉnh lãi vay nhưng NH cũng có thông báo tăng lên”, ông Phong nói.
Sản xuất kinh doanh lâu năm trong lĩnh vực gỗ dăm, bà N.C (giám đốc một công ty có trụ sở tại TP.HCM) kể doanh nghiệp mới giải ngân một khoản trong hạn mức tín dụng vay được cấp với lãi suất lên 8,2%/năm vào đầu tháng 4. Chỉ trong vòng một tháng qua, lãi vay NH cứ liên tục tăng lên. Cụ thể, đầu tháng 3, lãi vay ở mức 7,2%/năm, cuối tháng lên 7,6%/năm và bước qua tháng 4 là 8,2%/năm. “Chỉ trong vòng 1 tháng, lãi suất vay NH tăng 1%/năm. Doanh nghiệp xuất khẩu nên mới có mức lãi suất vay như vậy vì khi có nguồn USD chúng tôi cũng thực hiện bán lại cho NH, cũng như sử dụng những dịch vụ từ NH cung cấp. So với các doanh nghiệp khác thì lãi vay của doanh nghiệp cho sản xuất kinh doanh thấp nhưng việc tăng nhanh như vậy ngoài sức tính toán của doanh nghiệp”, bà C. thở dài và nói thêm lãi vay lúc tăng thì nhanh nhưng xuống luôn chậm.
Thực tế, sau khi đồng thuận giảm lãi suất tiết kiệm, cuộc đua tăng lãi suất huy động vốn kéo dài từ cuối năm ngoái đến nay đã dần hạ nhiệt. Trong 4 ngày trở lại đây, các NH đồng loạt giảm lãi suất huy động xuống khoảng 0,5%/năm, có NH tuyên bố giảm lãi vay từ 1 – 3%/năm. Trước đó trong cuộc họp chiều 14.4, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đã có 26 NH điều chỉnh giảm lãi suất huy động, phổ biến từ 0,1 – 0,5%/năm ở các kỳ hạn 6 tháng trở lên. Mặt bằng lãi suất huy động hạ nhiệt, góp phần giảm chi phí vốn đầu vào của NH, mở ra dư địa để các NH điều chỉnh giảm lãi suất cho vay nhưng người vay vẫn đang chờ các nhà băng thực hiện việc này.
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Phân tích Khối Khách hàng cá nhân của Công ty Chứng Khoán Yuanta Việt Nam, cho rằng lãi vay hiện chưa thể giảm ngay vì chi phí vốn các NH vừa qua huy động cao. Dù các NH bắt đầu giảm nhẹ lãi suất huy động gần đây thì cũng sẽ mất thời gian để cân đối lại chi phí vốn đi xuống. “Trước khi các NH đồng thuận giảm lãi suất, trên thị trường xuất hiện lãi tiết kiệm từ 8 – 9%/năm, nên muốn kéo mặt bằng lãi vay xuống thấp hơn thì lãi huy động tầm 7% cũng sẽ mất khoảng 2 tháng. Một vấn đề khác đặt ra là tốc độ cho vay hiện nay tăng nhanh hơn huy động. Lãi suất tiết kiệm thấp sẽ không hút được vốn vào NH mà chuyển qua các kênh đầu tư khác, chẳng hạn như vàng. Do vậy khi lãi suất tiết kiệm đi xuống, các NH cần tính đến huy động nguồn vốn khác qua các kênh giấy tờ có giá như trái phiếu để ổn định nguồn vốn nhằm giảm lãi vay”, ông Minh nói.
Bước qua quý 2, hạn mức tăng trưởng tín dụng được nới ra, đồng nghĩa nhu cầu vốn tăng lên. Trong quý 1, NHNN yêu cầu hạn mức tăng trưởng tín dụng NH không quá 25% tổng hạn mức tín dụng. Một số NH cho vay nhanh thì đến tháng 2 đã chạm trần được cấp, trong khi đó vốn huy động thì tăng chậm. Đây cũng là nguyên nhân khiến lãi vay tăng nhanh trong quý 1. Báo cáo quý 1 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phản ánh bức tranh thanh khoản hệ thống NH chuyển từ trạng thái dư thừa dịp đầu năm sang căng thẳng cục bộ vào cuối quý 1.
Trên thị trường liên NH, sau khi giảm về mức 3,7%/năm giữa tháng 3, lãi suất qua đêm đã tăng mạnh trở lại, chạm mức 9,3% vào ngày 30.3 dưới áp lực hút ròng của NHNN và nhu cầu tín dụng tăng tốc cuối quý. Các NH tăng lãi suất huy động từ 0,1 – 1,4%/năm ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Lãi suất huy động 12 tháng trung bình toàn hệ thống hiện đạt mức 8,07%/năm. Trên thực tế, một số NH đang huy động với mức lãi suất thỏa thuận lên tới 9%/năm cho các khoản tiền gửi lớn. Nguyên nhân chính là do tín dụng bắt đầu phục hồi nhanh hơn tốc độ huy động vốn, buộc các NH phải tăng cường huy động để đảm bảo các tỷ lệ an toàn thanh khoản và chuẩn bị vốn cho mùa kinh doanh sôi động quý 2. Lãi cho vay bình quân của NH thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,1% – 9,4%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN 4%/năm.
Trong cuộc họp chiều 14.4, ông Phạm Thanh Hà, Phó thống đốc NHNN, thông tin tính đến ngày 31.3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỉ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025. NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các NH. NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Chính thức phát đi thông cáo báo chí chiều tối nay 6.4, ngay sau khi cơ quan công an công bố thông tin về việc Tổng giám đốc Vũ Minh Châu cùng 3 người khác bị khởi tốvề tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, Công ty Bảo Tín Minh Châu cho biết, đã và đang phối hợp nghiêm túc, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động kinh doanh của Bảo Tín Minh Châu vẫn diễn ra bình thường và thông suốt.
Những năm gần đây, Bảo Tín Minh Châu đã kiện toàn bộ máy quản trị theo hướng độc lập, minh bạch, chuyên nghiệp.
Từ tháng 10.2024, bà Phạm Lan Anh là giám đốc và người đại diện theo pháp luật của công ty. Mọi nghĩa vụ tài chính, quyền lợi của khách hàng và đối tác vẫn luôn được đảm bảo thực hiện đầy đủ theo đúng quy định.
Toàn bộ các sản phẩm vàng, bạc, đá quý công ty cung cấp ra thị trường luôn đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về tuổi vàng, khối lượng và chất lượng.
"Sau khi có kết luận chính thức của cơ quan chức năng, chúng tôi cam kết sẽ khắc phục triệt để những tồn tại trước đây, tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị, tăng cường kiểm soát nội bộ và tuân thủ nghiêm ngặt hơn nữa những quy định của pháp luật với mục tiêu cao nhất là ổn định hoạt động, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiếp tục đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, an sinh xã hội và đảm bảo việc làm cho người lao động", Bảo Tín Minh Châu khẳng định.
Ở thời điểm hiện tại, cũng có những ý kiến quan tâm tới khía cạnh, nếu đem vàng Bảo Tín Minh Châu bán lại cho các doanh nghiệp khác, người bán có bị thiệt thòi gì về giá hay gặp phức tạp trong kiểm tra chất lượng vàng hay không?
Thông thường, các doanh nghiệp kinh doanh vàng luôn mua lại vàng chính mình bán ra, vàng miếng SJC, đồng thời có thể cũng mua lại vàng của các thương hiệu khác.
Ví dụ, hôm nay, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý đang niêm yết giá mua bán của vàng miếng SJC, các sản phẩm của Phú Quý, đồng thời có một dòng niêm yết riêng giá mua vào của vàng 4 số 9 phi SJC nói chung.
Với Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải, ngoài vàng miếng SJC và các sản phẩm của Bảo Tín Mạnh Hải, doanh nghiệp này còn niêm yết giá mua vào vàng nguyên liệu 4 số 9 và vàng nguyên liệu 3 số 9.
Điểm chung là giá các doanh nghiệp thu mua vào vàng các thương hiệu khác (trừ vàng miếng SJC) và vàng nguyên liệu thấp hơn đáng kể vàng của thương hiệu mình bán ra.
Theo đại diện một doanh nghiệp chuyên kinh doanh vàng, bạc, khi mua lại vàng từ thương hiệu khác, cửa hàng sẽ kiểm tra sơ bộ xem sản phẩm có nguyên vỉ của thương hiệu hay không. Cửa hàng sẽ thông báo cho khách hàng về việc phải bóc vỉ để nấu kiểm tra tuổi vàng và giá mua vào sẽ theo tuổi của vàng.
Thực tế cho thấy, đã là vàng thật, đạt chuẩn thì luôn có giá trị. Trường hợp xấu nhất, khách sẽ phải bán vàng với mức giá của vàng nguyên liệu. Hiện tại, hầu hết đơn vị kinh doanh vàng đều có nhu cầu mua vào vàng nguyên liệu có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Trong kiến nghị vừa gửi đến Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng về một số chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN cho rằng đến nay chưa có văn bản, quy định nào của Chính phủ cũng như ngành chức năng hướng dẫn việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu cho sản xuất, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ, gây lãng phí nguồn lực trong nước. Do đó, Hiệp hội này đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép các doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự. Kiến nghị này không nhận được sự ủng hộ của hầu hết chuyên gia kinh tế.
TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, nói thẳng: không ai muốn quay trở lại chính sách vay mượn bằng vàng. Đây là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện, liên quan trực tiếp đến ngoại hối và dự trữ quốc gia. Vì vậy, nhóm hàng này cần tiếp tục được quản lý chặt chẽ, đảm bảo phù hợp với mục tiêu kiểm soát rủi ro của nền kinh tế, kiên quyết chấm dứt hoàn toàn tình trạng vay mượn bằng vàng. Đây là kinh nghiệm quan trọng rút ra từ nhiều năm trước nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống và bảo vệ sự ổn định của thị trường tài chính. Ông Lực nhấn mạnh: chính sách cho phép vay mượn bằng vàng trước đây khiến nền kinh tế bị "vàng hóa", đã từng gây ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Khi Nghị định 24 được áp dụng, Chính phủ đã quyết tâm bỏ chính sách đó và đã đạt được hiệu quả.
"Còn mục đích huy động vốn vàng trong dân đưa vào nền kinh tế thì sẽ có những cách khác như quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin cho người dân và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Việc minh bạch hóa thị trường và tạo ra các kênh đầu tư hấp dẫn khác là cực kỳ quan trọng. Khi đó người dân chuyển hướng đưa tiền, vàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn thay vì đầu cơ vàng. Song song, Chính phủ cần tạo thuận lợi hơn cho việc luân chuyển, thanh khoản thị trường vàng thông qua việc nghiên cứu phát hành chứng chỉ vàng, lập sàn giao dịch vàng... để thị trường vàng phát triển an toàn, nhanh chóng và hiệu quả hơn. Những giải pháp này sẽ giúp giảm bớt xu hướng tích trữ vàng vật chất trong dân, giảm áp lực lên nguồn cung vàng vật chất", TS Lực phân tích.
Cũng tỏ ra bất ngờ với đề xuất từ Hiệp hội Kinh doanh vàng VN, chuyên gia kinh tế, PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng đề xuất này không phù hợp. Trong khi hệ thống ngân hàng (NH) có kiểm soát chặt thì không được phép huy động và cho vay bằng vàng, nếu cho phép các DN sản xuất kinh doanh vàng trang sức vay mượn vàng từ người dân thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. "Đặt trường hợp một hay nhiều DN mất khả năng thanh toán vàng cho khách hàng thì sẽ ra sao? Nếu không kiểm soát tốt thì hiện tượng đầu cơ, lừa đảo và nguy cơ "vàng hóa " trong nền kinh tế có thể quay trở lại và từ đó sẽ ảnh hưởng đến chính sách tài chính tiền tệ, kiểm soát lạm phát. Vấn đề quan trọng là làm sao để người dân không tập trung hết tiền vào vàng mà có thể sử dụng tiền, vốn cho các hoạt động đầu tư sinh lợi như phát triển các thị trường hàng hóa, kênh đầu tư khác…", ông Thịnh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Đinh Thế Hiển, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng, phân tích: trước đây khi NH vẫn được phép huy động và cho vay bằng vàng thì đã phát sinh một số bất ổn cho thị trường tiền tệ nên mới có quy định ngừng hoạt động này. Giả sử cho DN vay vàng từ người dân theo đề xuất nêu trên, khi DN phải trả lãi suất và trả lại số lượng vàng đã vay bình thường. Ví dụ DN vay 50 lượng vàng miếng để chế biến thành vàng trang sức và bán ra thị trường, sau một thời gian sẽ thu tiền về và mua lại vàng trả nợ cho khách hàng. Nhưng trong trường hợp giá vàng biến động rất cao như năm 2024 - 2025 vừa qua, tăng đến 30 - 40% và thậm chí cao hơn nhiều thì số tiền DN bán vàng trang sức ra chưa chắc đã mua lại nổi 50 lượng vàng miếng thì việc thua lỗ là tất yếu. Vậy DN có thanh toán được nợ vàng hay không? Câu chuyện này có khi diễn ra ở nhiều DN kinh doanh vàng trang sức cùng lúc thì sẽ xuất hiện đổ vỡ dây chuyền. Đó là chưa kể thậm chí có tình trạng vay xong và cố tình chây ì, không trả nợ. Trước đây thực tế đã xảy ra nhiều tiệm vàng vay nợ bằng vàng nhưng sau đó vì giá tăng cao, vì thua lỗ… đã không trả được nợ, gây ra sự náo loạn trên thị trường.
Do vậy TS Đinh Thế Hiển nhấn mạnh: chỉ cần một đốm lửa nhỏ là sẽ lan sang cả thị trường vàng, gây ra hệ lụy cho thị trường tài chính và cả nền kinh tế. Vì vậy không thể có chuyện cho phép DN vay vàng từ người dân. Để khuyến khích thu hút dòng vốn từ người dân chảy vào nền kinh tế thì cần tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, các kênh đầu tư khác phát triển thì dòng vốn sẽ tự động lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả hơn tích trữ vàng.
Phát biểu tại Hội thảo "Tín dụng bất động sản, kiểm soát thế nào để phát triển" do Báo Thanh Niên tổ chức sáng 17.4, ông Trần Sĩ Nam, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM cho biết, thị trường bất động sản TP.HCM đã cơ bản vượt qua giai đoạn khó khăn 2021-2023 và đang có dấu hiệu phục hồi.
Theo ông Nam, năm 2025, doanh thu bất động sản của TP.HCM đạt khoảng 270.000 tỉ đồng; riêng quý 1/2026 đạt gần 104.000 tỉ đồng, cho thấy xu hướng tăng trưởng trở lại của thị trường. Tuy nhiên, lãi suất tăng cao trong thời gian qua đã gây không ít khó khăn cho cả doanh nghiệp và người dân.
Ông nhấn mạnh, nhu cầu phát triển và giao dịch bất động sản tại TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung vẫn rất lớn. Lĩnh vực bất động sản đóng góp khoảng 10-11% GDP cả nước, trong khi tại TP.HCM, tỷ lệ này có thời điểm lên đến 30-34%, cho thấy vai trò quan trọng của thị trường đối với nền kinh tế.
Hiện TP.HCM có đầy đủ 4 phân khúc bất động sản theo phân loại của Bộ Xây dựng, gồm nhà ở, thương mại dịch vụ, công nghiệp và du lịch. Thành phố đang định hướng phát triển đồng bộ cả 4 phân khúc, trong đó chú trọng các lĩnh vực có tính lan tỏa cao. "Bất động sản là ngành có tính liên kết mạnh. Khi thị trường gặp khó khăn sẽ kéo theo nhiều ngành nghề khác bị ảnh hưởng, đặc biệt là xây dựng và các lĩnh vực dịch vụ liên quan. Vì vậy, việc điều hành chính sách cần thận trọng, hài hòa giữa kiểm soát và phát triển", ông Nam nói.
Đối với nhà ở xã hội, TP.HCM đã triển khai nhanh các chính sách của Chính phủ, đồng thời ban hành nhiều cơ chế riêng để mở rộng đối tượng tiếp cận. Theo đó, các điều kiện mua nhà ở xã hội đã được nới lỏng hơn so với trước đây, như điều chỉnh tiêu chí thu nhập và điều kiện nhà ở phù hợp với thực tế, giúp người dân có nhu cầu thực dễ dàng tiếp cận. "TP.HCM sẽ kiến nghị các cơ chế đặc thù, trong đó có việc rút gọn thủ tục đầu tư, tháo gỡ vướng mắc pháp lý nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án, qua đó tăng nguồn cung cho thị trường", ông Trần Sĩ Nam khẳng định.
Đại diện Sở Xây dựng TP.HCM cũng cho rằng, cần nhìn nhận đầy đủ các phân khúc bất động sản. Phân khúc cao cấp là một phần cấu thành diện mạo đô thị, góp phần tạo nên bộ mặt của thành phố và tỉ lệ của phân khúc này trong tổng nguồn cung thực chất không cao. Nhưng khi nói đến bất động sản, chúng ta hay lấy mức giá cao nhất để đánh giá đánh giá toàn thị trường dẫn đến hiểu lầm.
Về mục tiêu phát triển, TP.HCM đặt kế hoạch đến năm 2026 đạt khoảng 428.000-500.000 căn nhà ở. Tiến độ triển khai các dự án, đặc biệt là nhà ở xã hội đang có tín hiệu tích cực và khả năng hoàn thành mục tiêu là khả thi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, bên cạnh chính sách đầu tư, TP.HCM cần sự hỗ trợ từ chính sách tín dụng. "Chúng tôi mong muốn các ngân hàng có cơ chế linh hoạt hơn, tập trung nguồn vốn vào các phân khúc phục vụ nhu cầu thực", ông Nam đề xuất.
Cụ thể, cần ưu tiên tín dụng cho người trẻ dưới 35 tuổi chưa có nhà ở, với các chính sách hỗ trợ lãi suất phù hợp. Đây là nhóm có nhu cầu lớn, đặc biệt tại TP.HCM đang tập trung đông lực lượng lao động trẻ, sinh viên và người mới đi làm. Bên cạnh đó, cần có chính sách riêng cho công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhằm giúp họ tiếp cận nhà ở ổn định, phù hợp với thu nhập.