Sáng 20.4, Quốc hội thảo luận tại tổ về nhiều nghị quyết quan trọng, trong đó nghị quyết về cơ chế đặc thù phát triển văn hóa.
Thảo luận tại tổ TP.HCM, đại biểu Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cho rằng “rất đáng tiếc” khi đến thời điểm này nhà nước mới đặt vấn đề về công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, theo ông, dự thảo còn khá dàn trải, chưa có nhiều nhấn nhá.
Góp ý cụ thể, ông Thân đề xuất có chiến lược thu hút đầu tư cả nhà nước và tư nhân để phát triển công nghiệp văn hóa, nhất là vấn đề hạ tầng. “Gần đây, chúng ta đang làm hạ tầng, về công viên, nhà hát, sân vận động. Nhiều người có ý kiến là chúng ta đang nghèo, chưa nên làm. Nhưng tôi phản đối tư tưởng nhu nhược này”, ông Thân nói và cho rằng đầu tư các công trình hiện đại như vậy mới thu hút được khách du lịch giàu có đến Việt Nam.
Bên cạnh đó, theo ông, đây là thời điểm chín muồi để các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các sân vận động, nhà hát theo hình thức BOT, BT.
Đại biểu đoàn TP.HCM dẫn thực tế khi xây nhà hát Hồ Gươm nhiều người phản đối, nhưng tới nay lại thành nhỏ. Sắp tới đây, Hà Nội sẽ xây thêm 2 nhà hát quy mô lớn, không chỉ phục vụ mỗi người dân nghe, mà quảng bá cho công nghiệp văn hóa đất nước.
Ông cũng đề nghị xây dựng các app về văn hóa như app về nhạc cổ điển, app du lịch cho khách du lịch đến Việt Nam. Đặc biệt, cần có chính sách thuế hỗ trợ, ưu đãi cho phát triển công nghiệp văn hóa. “Giảm thuế là doanh nghiệp đổ vào thôi. Thay vì phải bỏ 100 đồng thì nhà nước share với doanh nghiệp vài đồng. Điều này rất hay, chứ nếu lấy lợi nhuận ra khó lắm”, đại biểu Thân nêu.
Đại biểu Trương Minh Huy Vũ (đoàn TP.HCM) thì cho rằng cộng đồng làm công nghiệp văn hóa của TP.HCM rất lớn. “Văn hóa ở TP.HCM không phải ngành trả tiền mà là ngành kiếm ra rất nhiều tiền với khái niệm công nghiệp văn hóa. Cần bổ sung khái niệm nhà đầu tư chiến lược cho công nghiệp văn hóa hay giải trí sáng tạo…”, ông đề xuất.
Nhìn nhận, quỹ văn hóa như quỹ đầu tư mạo hiểm như dự thảo nêu là hướng tiếp cận tiến bộ, nhưng theo đại biểu, phải lồng ghép yếu tố quốc tế, thì có được tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài không.
Cũng tán thành với chủ trương thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực văn hóa, theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng), đây là một bước đi cần thiết trong bối cảnh chúng ta đang chuyển từ tư duy “bảo tồn – hỗ trợ” sang phát triển công nghiệp văn hóa, nơi sáng tạo phải được đặt trong môi trường có khả năng chấp nhận rủi ro.
Thực tiễn cho thấy, nhiều sản phẩm văn hóa, từ điện ảnh, âm nhạc đến nội dung số đều mang tính thử nghiệm rất cao. Nếu chỉ dựa vào cơ chế cấp phát hoặc đầu tư an toàn, thì những ý tưởng đột phá sẽ khó có cơ hội hình thành. Vì vậy, việc thiết kế một quỹ có khả năng “chấp nhận rủi ro có kiểm soát” là hoàn toàn đúng hướng.
Tuy nhiên, nữ đại biểu lưu ý một số vấn đề có tính “cảnh báo chính sách” khi giao Chính phủ quy định chi tiết. Theo đó, cần làm rõ thế nào là “mạo hiểm” trong lĩnh vực văn hóa. Nếu không có tiêu chí cụ thể, rất dễ dẫn đến tình trạng hoặc là quỹ không dám mạo hiểm, lựa chọn các dự án an toàn; hoặc ngược lại, mạo hiểm một cách cảm tính, thiếu cơ sở đánh giá.
Đặc biệt, cần tránh biến quỹ này thành một hình thức cấp phát ngân sách trá hình. Quỹ cần vận hành khác với quỹ hỗ trợ truyền thống, có cơ chế lựa chọn dự án cạnh tranh, minh bạch, trách nhiệm giải trình rõ ràng và đặc biệt là kỷ luật đầu tư, không dàn trải, không bình quân.
“Nếu được thiết kế đúng, quỹ này không chỉ là công cụ tài chính, mà còn có thể trở thành “bệ đỡ” cho những ý tưởng văn hóa đột phá, góp phần nâng tầm sức mạnh mềm của quốc gia”, bà Nga nêu.
Tôi nhớ một buổi sáng cách đây không lâu ở một thành phố, có quán cà phê với tấm biển lớn treo phía trên: "Cà phê siêu sạch - nguyên chất 100%". Đi thêm vài trăm mét, hiện tượng tương tự lặp lại: quán nào cũng dán dòng chữ ấy, có nơi còn để to hơn cả tên thương hiệu.
Buổi chiều đi ngang qua nhiều cơ sở đào tạo tên gắn liền với chữ "quốc tế".
Hai hiện tượng không liên quan, nhưng phản ánh cùng một logic quen thuộc: nếu niềm tin chất lượng thực tế vẫn còn bị nhiều người ngoài nghi, thì ngôn từ dường như được huy động để lấp đầy khoảng trống.
Trong đời sống thường nhật, người tiêu dùng vẫn thường mang nỗi nghi ngại: ly cà phê mình uống có thật sự nguyên chất? Có bị pha tạp chất, hóa chất bảo quản hay không? Những vụ việc cà phê giả, cà phê "bẩn" bị phát hiện thời gian qua càng làm tăng thêm sự bất an ấy.
Chính vì vậy, "siêu sạch" không còn là một tính từ mô tả mà trở thành lời cam kết hay hứa hẹn. Ngay cả quán cà phê vỉa hè giá chỉ 15.000 đồng cũng treo biển "siêu sạch".
Vì nếu không nói ra điều này, khách hàng khó mà tin tưởng. Khách hàng không chỉ mua một ly cà phê; họ mua cảm giác yên tâm.
Câu chuyện nhiều "đại học quốc tế" cũng vận hành theo cùng một cơ chế. Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình, hai chữ "quốc tế" trở thành tín hiệu mạnh mẽ, gợi lên hình ảnh chương trình tiên tiến, giảng viên chất lượng cao và bằng cấp có giá trị toàn cầu. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng khớp với tên gọi. Nhiều chương trình vẫn còn hạn chế về đội ngũ giảng viên quốc tế, môi trường học thuật và sự công nhận quốc tế thực sự.
Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã siết chặt quy định về đặt tên cơ sở giáo dục đại học, không cho phép tùy tiện sử dụng các từ mang tính "vị thế đặc biệt" như "quốc tế", "quốc gia", "Việt Nam"… trừ khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định này cho thấy hiện tượng lạm dụng tên gọi không còn là chuyện cá biệt, mà đã trở thành vấn đề cần quản lý để tránh gây nhầm lẫn và bảo vệ người học.
Vậy điều gì khiến nhiều người đặc biệt "ưa chuộng" những từ mang tính nâng cấp như "siêu" hay "quốc tế"?
Câu trả lời có lẽ nằm ở một tâm lý dễ hiểu: chất lượng thực tế còn khiêm tốn, nhưng khát vọng vươn tầm lại rất lớn. Trong thời gian dài, một số loại hàng hóa kém ổn định về chất lượng. Giáo dục trong nước cũng thường bị so sánh bất lợi với các nền giáo dục tiên tiến.
Những so sánh ấy có thể không công bằng, nhưng để lại dấu ấn: cảm giác chưa đủ, kèm theo mong muốn được công nhận mạnh mẽ.
Phải chăng khoảng cách giữa thực tế và kỳ vọng còn lớn, nên ngôn từ trở thành giải pháp nhanh nhất để "nâng cấp" hình ảnh?
"Siêu sạch" không chỉ là sạch mà còn vượt trội so với "chưa sạch". "Quốc tế" không chỉ là mở rộng mà còn là cách khẳng định mình đã bước ra khỏi khuôn khổ "bình thường nội địa".
Đó là một dạng tự vệ tâm lý: khẳng định giá trị ngay cả khi điều đó chưa hoàn toàn trở thành hiện thực.
Ở chiều tích cực, khát vọng ấy có thể là động lực quan trọng. Khi người tiêu dùng đòi hỏi cà phê sạch hơn, nhiều doanh nghiệp, từ các thương hiệu lớn đến các cơ sở nhỏ, đã đầu tư nghiêm túc hơn vào nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Tương tự, áp lực từ phụ huynh tìm kiếm giáo dục chất lượng cao đã thúc đẩy nhiều trường cải thiện chương trình, hợp tác quốc tế và hướng tới các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế. Khát vọng, vì thế không chỉ nằm trên tấm biển quảng cáo, mà có thể kéo thực tế đi lên.
Tuy nhiên nếu khát vọng chỉ dừng lại ở ngôn từ, chính những từ ngữ ấy sẽ dần mất giá trị. Khi quán nào cũng "siêu sạch", người tiêu dùng bắt đầu nghi ngờ tất cả.
Khi trường nào cũng mang tên "quốc tế", sinh viên và phụ huynh sẽ tự hỏi: đâu mới là quốc tế thực sự? Khi niềm tin bị bào mòn, thiệt hại không chỉ thuộc về một thương hiệu hay một trường học, mà còn thuộc về cả hệ sinh thái kinh tế - giáo dục.
Ly cà phê vỉa hè đến tấm biển trường đại học cho thấy tràn đầy khát vọng, nhưng ngôn từ đôi khi lại đi nhanh hơn thực lực hiện có.
Có lẽ, điều cốt lõi là nâng chất lượng thực chất đến mức những cụm từ như "siêu sạch" hay "quốc tế" trở nên không còn cần thiết.
Khi cà phê thật sự sạch, người ta nhận ra qua vị đắng thanh và hậu ngọt tự nhiên, chứ không phải qua tấm biển trước quán. Khi một trường đại học đạt chuẩn, sinh viên sẽ cảm nhận qua chương trình học, đội ngũ giảng viên và con đường nghề nghiệp mở ra trên khu vực hoặc toàn cầu, chứ không cần phải đọc tên trường mới biết.
Đến lúc đó, niềm tin không còn treo trên bảng hiệu mà nằm trong trải nghiệm. Và khát vọng cũng không cần phải nói to lên nữa, bởi nó đã hiện diện trong chính chất lượng.
Theo cáo trạng, tháng 8.2018, thời điểm này Trần Thị Mười Bảy đang là Phó chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Bình Dương đã vay tiền của bà Nguyễn Thị Tâm (59 tuổi, ở phường Phú Lợi, TP.HCM).
Cùng thời điểm 2018, ông T.V.Q (69 tuổi, ở TP.HCM) có nhu cầu bán 2 thửa đất ở thành phố Bến Cát (Bình Dương cũ, nay là TP.HCM) nên đã nhờ Trần Thị Mười Bảy môi giới để bán.
Lợi dụng danh nghĩa Phó chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Trần Thị Mười Bảy đã mượn 2 cuốn sổ đỏ bản chính của ông Q. với lý do để giới thiệu cho người mua, nhưng sau đó Bảy đã đi photocopy in phun màu rồi dùng 2 bản sổ giả này cầm cố cho bà Nguyễn Thị Tâm nhiều lần lấy tổng gần 1,5 tỉ đồng.
Năm 2019, do Bảy mất khả năng trả nợ, bà Tâm khởi kiện Bảy ra tòa, sau đó TAND thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương cũ, nay là TAND Khu vực 15, TP.HCM) đã buộc Bảy phải trả cho bà Tâm gần 1,5 tỉ đồng.
Đến năm 2020, Trần Thị Mười Bảy xin nghỉ việc tại Hội Chữ thập đỏ Bình Dương và bỏ trốn khỏi nơi cư trú trong khi vẫn chưa thực hiện thi hành án, trả nợ cho bà Tâm.
Đến tháng 9.2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương (cũ) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thị Mười Bảy về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức (Thanh Niên đã thông tin). Đến nay, Viện KSND TP.HCM đã hoàn tất cáo trạng, truy tố Trần Thị Mười Bảy ra tòa cùng về 2 hành vi kể trên.
Theo báo cáo tổng quan về hiện trạng môi trường giai đoạn 2021-2025 vừa được UBND TP.HCM phê duyệt, chất lượng môi trường không khí ở thành phố cơ bản duy trì ở mức trung bình và tốt, với chỉ số chất lượng không khí (AQI ngày) đạt trên 90%.
Tuy nhiên tại các khu vực có mật độ giao thông cao, khu vực cảng biển và khai thác khoáng sản, tình trạng ô nhiễm bụi vẫn tiếp diễn, trong đó hàm lượng bụi tổng lơ lửng (TSP) vượt quy chuẩn từ 1,1 đến 2,02 lần, bụi mịn PM2.5 vượt từ 1,1 đến 4,6 lần, một số điểm có benzen (chất bay hơi) vượt từ 1,6 đến 2,5 lần. Các thông số khác nằm trong giới hạn cho phép.
Tại các khu vực đô thị, đặc biệt khu vực trung tâm, mật độ giao thông cao và gia tăng nhanh dẫn đến ô nhiễm không khí có xu hướng tăng. TP.HCM đã triển khai nhiều giải pháp kiểm soát phát thải nhưng chưa phát huy hiệu quả tích cực.
Trong giai đoạn này, tình trạng ô nhiễm bụi tiếp tục xảy ra tại các trục giao thông và khu dân cư xung quanh khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Hàm lượng bụi tổng dao động 8%, vượt quy chuẩn từ 1,56 đến 2,02 lần.
Tại các nút giao thông có mật độ xe qua lại đông, kết quả quan trắc vào giờ cao điểm, các khu vực như Cát Lái, An Sương, Bình Phước, Suối Tiên, Huỳnh Tấn Phát - Nguyễn Văn Linh, quốc lộ 1, vòng xoay An Phú, ngã tư Cầu Ông Bố có hàm lượng bụi vượt quy chuẩn từ 1,1 đến 4,6 lần, tiếng ồn vượt từ 7 đến 12 decibel (là đơn vị dùng để đo mức độ âm thanh - PV).
Riêng khu vực Cát Lái có 84% số liệu quan trắc vượt quy chuẩn. Các khu vực An Sương, Bình Phước, Suối Tiên, Huỳnh Tấn Phát - Nguyễn Văn Linh có từ 30% đến 34% số liệu vượt quy chuẩn.
Hoạt động giao thông vận tải là nguồn phát thải chính, trong đó giao thông đường bộ chiếm hơn 95% tổng phát thải từ giao thông. Riêng nguồn phát thải bụi mịn PM2.5 từ giao thông đường bộ chiếm khoảng 92%.