Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra “điểm gãy” khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là “điểm bao nhiêu” mà là “bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ”. Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực”. Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị “lệch” do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ “đối sánh điểm thi” sang “đối sánh năng lực thực”, từ “xếp hạng” sang “cải thiện chất lượng”.
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là “mũi nhọn”. Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép “đánh đổi” giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.
Để được miễn thi tất cả các môn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, bên cạnh các điều kiện chung, thí sinh còn phải đáp ứng các điều kiện về điểm học tập, hạnh kiểm...
Theo quy chế thi tốt nghiệp THPT vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 17-4, có bốn trường hợp thí sinh sẽ được miễn thi tất cả các môn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Thứ nhất, thí sinh được triệu tập tham gia kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế hoặc Olympic khu vực các môn văn hóa.
Tuy nhiên thí sinh phải đáp ứng các điều kiện: được triệu tập vào học kỳ 2 lớp 12, kết quả rèn luyện cả năm lớp 12 đạt mức tốt, học lực lớp 12 từ khá trở lên, có tên trong danh sách miễn thi của bộ.
Thứ hai, là thí sinh trong đội tuyển tham gia các cuộc thi Olympic quốc tế hoặc Olympic khu vực về khoa học kỹ thuật, văn hóa - văn nghệ.
Thí sinh cần đáp ứng các điều kiện gồm: được triệu tập vào học kỳ 2 lớp 12, kết quả rèn luyện và học tập cả năm lớp 12 đạt mức từ đạt trở lên; có tên trong công văn đề nghị miễn thi và xác nhận tham dự tập huấn, dự thi đúng quy định của cơ quan tuyển chọn gửi đến Sở giáo dục và đào tạo trước ngày thi tốt nghiệp THPT.
Thứ ba, thí sinh là người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng theo quy định; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, bản thân bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. Thí sinh cần có giấy xác nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Theo quy chế, để được miễn thi môn ngoại ngữ trong xét công nhận tốt nghiệp THPT, bộ quy định theo ba nhóm.
Thứ nhất, thí sinh là thành viên đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế môn ngoại ngữ theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thứ hai, thí sinh có một trong các chứng chỉ ngoại ngữ được quy định của quy chế hoặc các chứng chỉ ngoại ngữ được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận tương đương với Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (đạt từ bậc 3 trở lên và có giá trị sử dụng đến ngày làm thủ tục dự thi).
Thứ ba, thí sinh có đủ điều kiện miễn thi môn ngoại ngữ nhưng vẫn muốn tham gia thi môn ngoại ngữ trong kỳ thi tốt nghiệp thì phải sử dụng kết quả thi môn ngoại ngữ để tính điểm xét tốt nghiệp THPT.
Danh mục chứng chỉ ngoại ngữ quy định của bộ như sau:
Thí sinh xem chi tiết quy chế thi tốt nghiệp THPT tại đây.
Lời khuyên hữu ích được chia sẻ trong chương trình tư vấn truyền hình trực tuyến "xét tuyển ĐH: Những điều cần lưu ý khi chọn ngành" do Báo Thanh Niên tổ chức chiều 14.4. Chương trình diễn ra đồng thời ở các kênh: thanhnien.vn, fanpage Facebook, YouTube, TikTok Báo Thanh Niên.
Chia sẻ trong chương trình, tiến sĩ Võ Thanh Hải, Phó giám đốc thường trực ĐH Duy Tân, nhìn nhận kỳ thi tốt nghiệp THPT được biết đến là kỳ thi "2 trong 1", vừa xét tốt nghiệp vừa phục vụ tuyển sinh. Do đó, có thể thấy mối liên hệ mật thiết giữa việc chọn môn đăng ký dự thi với việc chọn ngành xét tuyển vào ĐH.
Theo tiến sĩ Hải, năm nay thí sinh (TS) dự thi tốt nghiệp THPT đăng ký 4 môn, trong đó có 2 môn bắt buộc (gồm toán, văn) và 2 môn tự chọn. Trong khi quy chế tuyển sinh quy định, trong tổ hợp môn xét tuyển gồm 3 môn, thì có 1 môn bắt buộc toán hoặc văn. Như vậy, văn và toán là các môn quan trọng của cả kỳ thi tốt nghiệp và xét tuyển ĐH.
Cùng quan điểm, thạc sĩ Cao Quảng Tư, Giám đốc Tuyển sinh Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn, cho rằng kỳ thi tốt nghiệp THPT có vai trò quan trọng không chỉ trong xét tốt nghiệp mà còn với xét tuyển ĐH bằng các phương thức. Vì thế, việc lựa chọn môn thi tốt nghiệp THPT cũng cần có sự tương ứng với các môn trong tổ hợp xét tuyển trường ĐH. "Ngoài 2 môn bắt buộc, TS chọn 2 môn thi có thế mạnh nhất để tăng cơ hội trúng tuyển vào ngành mà mình đã có định hướng từ trước", thạc sĩ Cao Quảng Tư nhấn mạnh.
Nêu ví dụ tầm quan trọng của kỳ thi tốt nghiệp, tiến sĩ Lê Sĩ Hải, Giám đốc điều hành Trường ĐH Văn Hiến, cho biết dù xét bằng phương thức nào, trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, TS cũng cần đạt tối thiểu 15 điểm 3 môn của tổ hợp môn xét tuyển vào ĐH theo quy định chung của Bộ GD-ĐT.
Thạc sĩ Nguyễn Vũ Hoàng, Phó giám đốc Trung tâm Tư vấn tuyển sinh Trường ĐH Công nghệ TP.HCM (HUTECH), lưu ý với 2 môn tự chọn, TS cần tham khảo đề án tuyển sinh các trường để xem có các tổ hợp môn nào nhằm đăng ký phù hợp.
Chia sẻ vai trò của điểm thi tốt nghiệp THPT với chương trình đào tạo có yếu tố quốc tế, thạc sĩ Nguyễn Bá Anh, Phó giám đốc Gloucestershire Việt Nam, cho biết dù bằng cấp do trường đối tác cấp nhưng cách thức xét tuyển của chương trình liên kết này cũng linh hoạt cho TS từ điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm học tập THPT, điểm kỳ thi V-SAT… "Tuy nhiên, dù xét theo phương thức nào thì điều kiện cần có là phải tốt nghiệp THPT", thạc sĩ Bá Anh khẳng định.
"Căn cứ đầu tiên trong chọn môn thi tốt nghiệp THPT là TS nên bám sát những môn học có sự đầu tư trong 3 năm THPT. Trong số này, cần lựa chọn môn mình giỏi nhất, để có cơ hội được điểm cao nhất và cơ hội trúng tuyển lớn nhất", tiến sĩ Võ Thanh Hải phân tích.
Song song đó, ông Hải cho rằng môn tự chọn còn phải là môn xuất hiện trong nhiều tổ hợp xét tuyển. Ví dụ, một ngành sử dụng 4 tổ hợp xét tuyển, ngoài môn toán/văn là bắt buộc, TS cần lựa môn có sự xuất hiện nhiều trong số các tổ hợp xét tuyển để gia tăng cơ hội trúng tuyển.
"TS cần đăng ký môn thi tốt nghiệp gắn với các môn xét tuyển ĐH. Nếu đăng ký môn thi không khớp với môn xét tuyển của ngành học mong muốn vào ĐH, TS có thể đã đứng trước nguy cơ rớt ĐH. Điều này sẽ đặc biệt đúng với những ngành đặc thù như khối ngành đào tạo bác sĩ, thường chỉ xét tổ hợp toán - hóa - sinh", tiến sĩ Võ Thanh Hải nhấn mạnh.
Thạc sĩ Vương Văn Khởi, Phó giám đốc Trung tâm Tư vấn - Tuyển sinh Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM (UEF), lưu ý TS lựa chọn môn thi không chỉ để xét tốt nghiệp mà còn phải thỏa mãn điều kiện đăng ký xét tuyển ĐH, có cơ hội trúng tuyển cao nhất. Giai đoạn này, TS cần rà soát ngành/nhóm ngành mong muốn xét tuyển.
"TS hãy tự tin vào môn học mình đầu tư và có thế mạnh. TS cũng cần nghiên cứu kỹ thông tin tuyển sinh từng trường, đặc biệt là tổ hợp môn xét tuyển. Từ đó, lựa chọn môn thi sát với tổ hợp môn đúng ngành mình mong muốn xét tuyển nhất", thạc sĩ Khởi nói.
Thạc sĩ Trương Quang Trị, Phó phòng Công tác sinh viên Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, lưu ý TS cần định hướng được ngành nghề càng sớm càng tốt bởi đây là tiêu chí quan trọng để lựa chọn môn thi phù hợp với tổ hợp môn xét tuyển ĐH. "Việc đăng ký môn học và môn thi cần được xem là chiến lược. Môn thi tốt nghiệp không chỉ phù hợp với năng lực, có thế mạnh nhất mà còn xem xét đến cơ hội xét tuyển vào nhiều ngành nghề", thạc sĩ Trị khuyên.
Thạc sĩ Trị nhấn mạnh chiến lược lựa chọn 2 môn tự chọn: "Các môn này cần phù hợp năng lực bản thân và phù hợp với ngành mong muốn xét tuyển. Đừng chọn môn dễ học, hãy chọn môn học theo định hướng nghề nghiệp tương lai của bản thân".
Chia sẻ về lời khuyên chọn ngành, thạc sĩ Ngô Thị Xuân, Phó trưởng phòng Tuyển sinh và Truyền thông Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, cho rằng với sự phát triển và thay đổi như hiện nay, việc chọn ngành ngoài yêu thích thì cần xem xét thêm nhiều yếu tố khác, như năng lực cạnh tranh của bản thân.
"Khi chọn trường yêu thích, TS cũng xem xét nhiều yếu tố: trường tốt, điều kiện kinh tế gia đình phù hợp và sự yêu thích của bản thân. Mỗi sự lựa chọn thời điểm này cần nghiên cứu kỹ lưỡng, tham khảo ý kiến của người có kinh nghiệm", thạc sĩ Xuân nói thêm.
Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng, Phó phòng phụ trách Tuyển sinh, Truyền thông và Quan hệ doanh nghiệp Trường ĐH Tài chính - Marketing, khuyên TS cần xác định ngành phù hợp với năng lực, kế đến là khả năng đáp ứng được vị trí công việc nào sau khi tốt nghiệp, cơ hội công việc.
Giải đáp băn khoăn của TS nên ưu tiên chọn ngành hay trường học, thạc sĩ Phụng khuyên: "Môi trường đào tạo nên được ưu tiên sau, quan trọng nhất là chọn ngành học phù hợp. Bởi nếu chọn được môi trường tốt nhưng học một ngành không phù hợp thì mỗi giờ lên lớp sẽ đầy áp lực, thậm chí có nguy cơ dừng học giữa chừng".
Bổ sung thông tin, thạc sĩ Nguyễn Vũ Hoàng chia sẻ: "Lựa chọn đúng ngành giúp các bạn đi đúng đường, chọn đúng trường sẽ giúp các bạn đi nhanh hơn. Nhưng nếu phải lựa chọn một ưu tiên thì đó nên là ngành học".
Lê Võ Thiên Kim, học sinh lớp 12 Trường THPT Trần Phú (TP.HCM), là một trong 137.376 thí sinh sẽ dự thi V-ACT vào sáng mai, 5.4. Trao đổi với Thanh Niên, Kim kể nội dung thi em thấy thử thách nhất là tư duy logic do có nhiều dạng bài nữ sinh chưa từng tiếp xúc bao giờ. Phần sử dụng ngôn ngữ, gồm tiếng Việt, tiếng Anh, cũng khiến nữ sinh lo lắng bởi đề yêu cầu thí sinh phải vững kiến thức căn bản suốt 3 năm THPT.
Phần tư duy khoa học cũng là một rào cản đáng kể với Kim khi em chỉ đăng ký học tổ hợp có các môn lý, hóa, địa và tin. Còn với những môn không học nhưng đề vẫn ra thi như sinh, điều nữ sinh sợ nhất là "có các dạng bài yêu cầu tính toán và cần dùng đến kiến thức chuyên môn".
"Hiện em và bạn bè rất lo vì thấy mình học chưa đủ để đi thi, nhất là khi đề còn yêu cầu thêm cả kiến thức xã hội", nữ sinh bộc bạch, cho biết thêm em nhắm tới mốc 800 đến 900 điểm sau thời gian học trực tuyến và tự luyện đề trong sách tham khảo.
Là thủ khoa khối D07 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, Trần Vĩnh Khang, sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội, đã từng lần lượt đạt 1.006 điểm và 1.024 điểm trong hai đợt thi V-ACT. Khang thẳng thắn cho biết việc làm được hết 120 câu trong 150 phút là "nhiệm vụ bất khả thi". Thế nên, cần lưu ý câu dễ làm trước, câu khó làm sau và bắt đầu làm từ phần thi mình giỏi nhất chứ không nên mặc định làm từ trên xuống.
"Nếu làm các câu quá khó ngay khi mới bắt đầu, thí sinh sẽ thấy 'ngộp', ảnh hưởng tới phong độ", anh nói.
Thực tế, ở cả hai đợt thi V-ACT, Khang đều chọn làm tư duy khoa học trước, sau đó tới sử dụng ngôn ngữ và cuối cùng mới là toán học - phần thi được Khang cho là "tốn nhiều dung lượng não nhất". Riêng với tư duy khoa học, dù học tổ hợp khoa học tự nhiên nhưng Khang cũng không gặp nhiều khó khăn với các câu sử, địa, kinh tế và pháp luật. "Câu hỏi có những gợi ý nhất định và dữ kiện cũng được cung cấp sẵn", anh nói.
Khang cũng nhấn mạnh, bí quyết quan trọng để đạt điểm cao là thí sinh phải duy trì trạng thái ổn định, bắt đầu từ lúc bước vào phòng thi để làm thủ tục và chờ phát đề, kéo dài cho tới khi hết giờ làm bài. Đó là lý do Khang chia thời gian trong phòng thi ra làm hai, gồm 60 phút đầu chuẩn bị và 150 phút làm bài thực tế.
"Thông thường mọi người không quá tập trung vào 60 phút này và đa số sẽ dành thời gian ôn lại bài hay đi ngủ. Theo tôi cả hai đều không nên vì nó sẽ khiến thí sinh hoặc lo lắng hoặc mất tập trung, tất cả đều dẫn đến việc không phát huy phong độ tốt nhất", anh kể.
Trong một tiếng ngồi chờ, Khang khuyên thí sinh hãy làm những điều để giúp các bạn thư giãn và giảm lo âu, như trong trường hợp của anh là ngồi vẽ. Khang còn mang theo "bùa hộ mệnh" là chiếc đồng hồ may mắn được thầy giáo cũ tặng để cảm thấy tự tin nhất.
Chia sẻ thêm về việc điền đáp án, Khang nhận định thí sinh thường có hai cách phổ biến là làm hết đề rồi mới bắt đầu tô trắc nghiệm hay làm xong câu nào tô ngay câu đó. Tuy nhiên, anh cho rằng cả hai đều có những nhược điểm, như cách đầu dễ tô sót còn cách sau lại tốn công. Để trung hòa, Khang chọn làm xong phần thi nào tô hết phần đó, chỉ bỏ trống các câu chưa giải được để dành làm vào cuối giờ.
Đạt 1.022 điểm thi V-ACT ở đợt 1, Nguyễn Nhật Nam, sinh viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), thú nhận anh không có bí quyết cao siêu, chủ yếu là nỗ lực đều đặn. Nam kể trong giai đoạn nước rút, mỗi ngày anh đều làm một đề thi thử và khi làm xong đều dò kết quả và đúc kết lại những lỗi sai để khắc phục. Trong khi đó, ở những tháng trước, mỗi tuần anh cũng đều luyện một đề.
"Tôi dành đủ thời gian để ăn uống, nghỉ ngơi chứ không thức khuya ôn tập", Nam nói. Anh chia sẻ thêm rằng, khi vào phòng thi sẽ ưu tiên làm phần thế mạnh của mình là toán sau đó mới tới các phần khác.
"Riêng với những môn không học mà vẫn thi, tôi chỉ thuần túy dựa vào suy luận chứ không cần phải đọc thêm kiến thức bên ngoài. Bởi đề thi đã cho sẵn công thức hoặc nội dung cần áp dụng chứ không ra câu hỏi theo hướng không học là không biết làm", anh nhấn mạnh.
Nam sinh này cho biết trong quá trình luyện đề, anh thường dư cỡ 20 - 30 phút cuối giờ để kiểm tra lại những câu chưa làm. Tuy nhiên, khi thi thực tế thì chỉ còn 10 phút. Đây là điểm thí sinh cần lưu ý để phân bổ thời gian làm bài phù hợp. Cũng theo Nam, giải xong câu nào anh đều tô ngay đáp án câu đó vào phiếu trả lời trắc nghiệm không đợi tới cuối giờ mới bắt đầu làm.