Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
“Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói”, ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
“Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ”, ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
“Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng”, ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,…
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho “lý thuyết vạn vật” có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
“Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm”, Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
“Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học”, ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Tại Hội nghị công tác tổ chức thi tốt nghiệp THPT 2026 do Bộ GD&ĐT tổ chức sáng nay (10/4), GS.TS Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, Bộ GD&ĐT cho biết, kỳ thi tốt nghiệp 2026 có nhiều điểm mới so với những năm trước.
Theo đó, thay đổi quan trọng nhất ở mẫu đăng ký dự thi, mã tỉnh thành để phù hợp với sự vận hành của chính quyền hai cấp.
“Các địa phương phải chú ý điều này bởi nếu sai sót sẽ khiến các em ảnh hưởng cả kỳ thi”, ông Chương nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, điểm thay đổi đáng chú ý là việc tích hợp giấy báo dự thi và thẻ dự thi thành một loại duy nhất là giấy báo dự thi. Giấy do trường phổ thông nơi thí sinh nộp hồ sơ đăng kí dự thi cấp. Đồng thời, giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời tích hợp vào giấy chứng nhận kết quả thi.
Quy chế mới cũng giảm thời gian thu nhận đơn phúc khảo để thông báo kết quả phúc khảo sớm hơn, đồng thời thuận tiện cho công tác tuyển sinh của các trường đại học. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết hạn nhận đơn phúc khảo, Hội đồng thi phải công bố và thông báo kết quả phúc khảo cho thí sinh.
Quy trình chấm phúc khảo được điều chỉnh nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng. Theo đó, tất cả các bài thi có thay đổi điểm tăng hoặc giảm trong quá trình phúc khảo đều phải được đối thoại giữa các giám khảo chấm cũ và chấm mới.
"Đặc biệt, điểm mới năm nay, Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức các đoàn kiểm tra công tác thi tại các địa phương, trong đó huy động lực lượng cán bộ trường đại học địa phương cùng tham gia. Đây là điểm rất mới nhằm tiết kiệm thời gian và lực lượng cán bộ của Bộ GD&ĐT", theo ông Chương.
"Theo lộ trình, Bộ GD&ĐT đang chuẩn bị cho việc thi trên máy tính, thực hiện từ năm 2027. Trước mắt, Bộ sẽ thực hiện thử nghiệm tại một số địa phương, đồng thời xây dựng đề án cụ thể để báo cáo Chính phủ. Đây là công việc trọng yếu và vai trò của địa phương rất quan trọng, cần phối hợp".
GS Huỳnh Văn Chương
Các nội dung còn lại tiếp tục giữ ổn định như năm 2025, trong đó định dạng, cấu trúc đề thi và đề thi minh họa đã được công bố từ năm 2024 được giữ nguyên cho năm 2026.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí về đề thi, GS.TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, Trưởng ban đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025, cho biết cấu trúc, tỷ lệ, mức độ phân hóa của đề thi tốt nghiệp THPT năm nay sẽ không khác so với mọi năm.
Tất cả các yếu tố kỹ thuật của đề thi được giữ nguyên như năm 2025 nên Bộ GD&ĐT sẽ không công bố đề thi minh họa như những năm trước đó.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 được tổ chức trong 3 buổi: Một buổi thi môn ngữ văn, một buổi thi môn toán và một buổi thi của bài thi tự chọn gồm 2 môn thi trong số các môn dưới đây:
Vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý, giáo dục kinh tế và pháp luật, tin học, công nghệ định hướng công nghiệp (gọi tắt là công nghệ công nghiệp), công nghệ định hướng nông nghiệp (gọi tắt là công nghệ nông nghiệp), ngoại ngữ (Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức, Nhật và Hàn).
Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.
Từ ngày 20.4 - 23.5, trong 5 tuần, với 3 khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy, chương trình "Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026" do Báo Thanh Niên phối hợp cùng Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn (SIU) và Hệ thống Trường quốc tế Á Châu (Asian School) thực hiện, sẽ phát sóng trực tiếp lần lượt 88 chuyên đề ôn tập của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.
Bằng kinh nghiệm đúc kết sau nhiều năm giảng dạy, các giáo viên (GV) tại TP.HCM từ các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (P.Chợ Quán), Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành), Lê Quý Đôn,
Marie Curie (P.Xuân Hòa), Nguyễn Hiền (P.Bình Thới) và hệ thống Trường quốc tế Á Châu... sẽ hướng dẫn cách ôn, làm bài thi sao cho đạt kết quả cao nhất.
Trung bình mỗi môn thi có 10 chuyên đề, mỗi chuyên đề khoảng 20 phút. GV phụ trách mỗi môn thi đã xây dựng những chuyên đề bài giảng một cách khoa học và thiết thực theo nguyên tắc ôn đến đâu chắc đến đó. Ngoài ra, GV còn đưa ra các định dạng bài tập phù hợp, bám sát định hướng của Bộ GD-ĐT giúp học sinh (HS) làm quen, tiếp cận tốt nhất với đề thi chính thức.
Ngoài thời gian ôn thi trực tuyến, HS có thể xem lại các chuyên đề ôn tập mọi lúc, mọi nơi với điện thoại thông minh, máy tính trên các nền tảng của Báo Thanh Niên.
Thạc sĩ Trần Văn Toàn, nguyên GV Trường THPT Marie Curie phụ trách chuyên đề ôn thi môn toán, chia sẻ: Để đạt điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, quá trình ôn tập cần khoa học và đúng hướng. Sự thay đổi của chương trình GDPT 2018 khiến nội dung ôn tập chủ yếu xoay quanh các bài toán thực tế, ứng dụng nên yêu cầu HS có khả năng tổng hợp, tư duy logic và phản biện cao.
Chính vì vậy, thầy Toàn đã xây dựng 10 chuyên đề ôn thi môn toán bám sát cấu trúc và định dạng, yêu cầu của đề thi tốt nghiệp THPT do Bộ GD-ĐT công bố.
Theo thầy Toàn, trước đây việc học chủ yếu tập trung vào truyền tải công thức và cách giải nhanh. Từ kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, sự xuất hiện của nhiều bài toán thực tiễn đòi hỏi HS phải chuyển từ phương pháp học thuộc lòng sang phương pháp hiểu rõ bản chất của từng khái niệm và áp dụng chúng trong các tình huống thực tế.
Do đó, thầy Toàn cho rằng HS phải thay đổi phương pháp ôn tập. Thay vì chỉ ra kết quả, HS cần học cách tự đặt câu hỏi phản biện khi làm bài.
Thạc sĩ Phạm Lê Thanh, GV Trường THPT Nguyễn Hiền, cho hay thông qua chuyên đề ôn thi môn hóa, HS sẽ nắm được các thủ thuật ôn nhanh, nắm chắc kiến thức nền tảng lý thuyết, trang bị đầy đủ công cụ giải toán nhanh, khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm, vận dụng vào các tình huống hóa học thực tế.
Qua các bài giảng, thầy Thanh hướng dẫn HS cách nhớ nhanh lý thuyết và sơ đồ tư duy hệ thống các mạch kiến thức, giúp HS tăng hiệu quả ôn luyện.
GV Hoàng Đạt, Trường quốc tế Á Châu, sẽ tổ chức 10 chuyên đề ôn thi môn địa lý bằng việc hệ thống hóa kiến thức về địa lý tự nhiên, địa lý các vùng dân cư, vùng kinh tế...
Trong từng chuyên đề, thầy Đạt hướng dẫn HS theo dõi kiểm tra kiến thức cơ bản và tổng hợp thông qua các câu hỏi ngắn gọn với 4 lựa chọn trả lời. Bên cạnh đó, thầy cùng HS phân tích các ý kiến hoặc dữ kiện cụ thể để xác định đúng hoặc sai. Ngoài ra, GV hướng dẫn HS phát triển khả năng đọc hiểu, phân tích, tư duy phản biện và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, cũng như lưu ý các em tự viết câu trả lời ngắn, chính xác và trực tiếp cho các câu hỏi...
Với môn vật lý, GV Huỳnh Kim Tài, Trường quốc tế Á Châu, cho hay 10 chuyên đề ôn thi được xây dựng nhằm giúp HS hệ thống lại chính xác bản chất vật lý có tính ứng dụng, liên hệ với thực tiễn, đời sống hằng ngày.
Tương tự các môn tự nhiên khác, thầy Tài khuyến khích HS luyện tập nhiều dạng bài tập khác nhau để tăng kỹ năng đọc đề, tóm tắt đề, đưa ra hướng giải quyết, xử lý số liệu. Trong lúc ôn tập cũng như giải đề, thầy Tài lưu ý HS cần sử dụng hiệu quả các chức năng của máy tính cầm tay.
Cấu trúc và yêu cầu của đề thi minh họa tốt nghiệp THPT do Bộ GD-ĐT công bố cho thấy đề thi môn ngữ văn kiểu mới sẽ hạn chế tối đa học tủ, triệt tiêu việc học theo văn mẫu hay đoán đề. Để giúp HS không lo sợ môn ngữ văn, dù học theo bộ sách nào, thầy Đỗ Đức Anh, Trường THPT Bùi Thị Xuân, sẽ nêu ra những bí kíp "học văn không gian nan" thông qua các chuyên đề.
Thầy Đức Anh xây dựng 10 chuyên đề ôn thi tập trung vào kỹ năng đạt điểm tối đa ở phần đọc hiểu, bí kíp tạo lập văn bản, hệ thống kiến thức tri thức ngữ văn về thể loại ở đọc hiểu, yêu cầu nội dung và đặc trưng thể loại trong tác phẩm cụ thể...
Đặc biệt, trong quá trình cùng HS ôn tập, thầy Đức Anh đưa ra những dạng câu hỏi thường gặp trong bộ câu hỏi và hướng dẫn HS cách trả lời. Cùng với đó là những nhận định văn học, nghệ thuật của các thể loại sẽ giúp bài thi có sắc màu hơn, gây ấn tượng với người chấm và giành điểm bài viết sáng tạo.