Mục Lục
ToggleNgày 22.4, Đội CSGT đường bộ cao tốc số 4 (thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an) cho biết, vừa có kế hoạch tổ chức giao thông trên tuyến cao tốc Vũng Áng – Bùng – Vạn Ninh – Cam Lộ.
Theo đó, từ ngày 22 – 26.4.2026, các đơn vị thi công sẽ lắp đặt giá long môn, thuộc hệ thống giám sát và thu phí trên tuyến cao tốc này.
Cụ thể, việc tạm đóng đường cả hai chiều được thực hiện theo từng đoạn gồm: ngày 22.4 đóng đoạn từ nút giao Việt Trung (km643+400) đến nút giao Nhật Lệ (km653+850), ngày 23.4 đóng đoạn từ nút giao Cự Nẫm (km626+690) đến nút giao Việt Trung (km643+430), ngày 24.4 đóng đoạn từ nút giao Nhật Lệ (km653+850) đến nút giao quốc lộ 9B (km673+836), ngày 25.4 đóng đoạn từ nút giao quốc lộ 9B (km673+836) đến nút giao Trường Phú (km690+765), ngày 26.4 đóng đoạn từ nút giao quốc lộ 12A (km605+780) đến nút giao Cự Nẫm (km626+690).
Thời gian tạm đóng đường để phục vụ thi công từ 7 giờ đến 11 giờ 30 phút hằng ngày trong khoảng thời gian trên.
Lực lượng chức năng khuyến cáo người điều khiển phương tiện chủ động theo dõi thông tin, lựa chọn lộ trình phù hợp khi lưu thông trên tuyến cao tốc này. Đồng thời, các lái xe cần giữ khoảng cách an toàn, giảm tốc độ, chú ý quan sát, không vượt xe trái quy định, đi đúng làn đường, không đi vào làn dừng khẩn cấp.
Trường hợp phương tiện gặp sự cố, cần nhanh chóng đưa xe vào làn dừng khẩn cấp hoặc điểm dừng xe, bật tín hiệu cảnh báo và đặt vật cảnh báo phía sau xe cách tối thiểu 150 m.
Khi cần hỗ trợ, người dân có thể liên hệ đường dây nóng 19008099.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Trăn trở của ông Nguyễn Duy Ngọc khi rời cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội

Chiều 8/4, tại trụ sở Thành ủy Hà Nội, Bộ Chính trị công bố quyết định điều động, phân công ông Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2025-2030. Ông Thắng kế nhiệm ông Nguyễn Duy Ngọc, người đã được Bộ Chính trị điều động, phân công giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
Phát biểu tại hội nghị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc chia sẻ quãng thời gian công tác tại Hà Nội tuy không dài, nhưng với ông là "chặng đường rất đặc biệt". "Trở về Hà Nội với tâm thế của người con trở lại nơi mình đã trưởng thành, tôi đã mang hết tâm sức của mình cống hiến cho sự phát triển của Thủ đô", ông nói.
Ông cho biết dưới sự chỉ đạo của Trung ương, trên cơ sở kế thừa thành quả những thế hệ lãnh đạo tiền nhiệm, lãnh đạo Đảng và chính quyền Hà Nội đã cùng nhau định hình ba trụ cột phát triển Thủ đô (thể chế, quy hoạch và mô hình phát triển) với tầm nhìn mới, xác định 4 trục trách nhiệm (Đảng, HĐND, UBND, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội) công việc xuyên suốt và bước đầu tạo được một số chuyển biến tích cực.
Nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội cho rằng kết quả đó không phải của riêng cá nhân nào mà là công sức, trí tuệ và sự nỗ lực của cả tập thể, từ Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy, đến từng cấp ủy, chính quyền cơ sở; từ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, đến cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân Thủ đô. Mỗi người một phần việc, mỗi cấp một trách nhiệm, nhưng khi cùng chung một mục tiêu, cùng hành động thì sẽ tạo nên những chuyển động tích cực.
Điều ông trân trọng nhất không chỉ là kết quả cụ thể mà là tinh thần làm việc, tinh thần trách nhiệm, khí thế chuyển động, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm đã được khơi dậy và lan tỏa. "Và khi những chuyển biến đó được nhân dân ghi nhận thì đó chính là phần thưởng lớn nhất cho tất cả chúng ta", ông nói.
Nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội nói trong quá trình công tác, có những lúc ông rất quyết liệt, có khi gay gắt, tạo áp lực lớn đối với một số cán bộ. Có những cuộc họp căng thẳng, có những việc yêu cầu tiến độ rất cao, có lúc cách làm của ông có thể khiến cán bộ cảm thấy chưa thật thoải mái.
"Tôi mong các đồng chí hết sức thông cảm và chia sẻ", ông nói và cho biết tất cả điều đó không phải vì cá nhân mà xuất phát từ mong muốn chung là công việc phải tốt hơn, Hà Nội phải phát triển nhanh hơn, tốt hơn, xứng đáng với vị thế của Thủ đô và niềm tin của nhân dân.
Rời cương vị Bí thư Thành ủy vào thời điểm nhiều công việc đang triển khai, ông Ngọc nói có những điều còn trăn trở. Vì nhiều công việc mới chỉ kịp đặt nền móng; nhiều chủ trương đã hình thành, đã khởi động, nhưng cần thêm thời gian, thêm sự kiên trì để thực sự đi vào cuộc sống.
Trăn trở vì phía trước Hà Nội còn rất nhiều việc lớn phải làm, nhiều vấn đề khó, chưa có tiền lệ, nhiều vấn đề không thể giải quyết một sớm một chiều, nhưng lại liên quan trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày của người dân..., ông giải thích.
Nhưng ông bày tỏ tin tưởng với sự lãnh đạo của Bí thư Thành ủy mới, cùng tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đoàn kết, bản lĩnh, sáng tạo, đổi mới, Thủ đô sẽ tiếp tục duy trì khí thế, phát triển mạnh mẽ hơn nữa. "Tôi mong rằng những việc chúng ta đã cùng nhau khởi động sẽ được tiếp tục làm tốt hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn - vì người dân, vì tương lai của Thủ đô", ông nói.
Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc cho hay ở cương vị công tác mới, ông vẫn trực tiếp tham gia cùng Trung ương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo chung, trong đó có các chủ trương, định hướng lớn đối với Hà Nội.
"Tôi luôn xác định trách nhiệm với Hà Nội không giảm đi mà còn ở một phạm vi rộng hơn. Tôi sẽ luôn dõi theo, đồng hành và sẵn sàng cùng các đồng chí trong mọi nhiệm vụ vì sự phát triển của Thủ đô", ông Ngọc nói.
5 tháng trước, ông Nguyễn Duy Ngọc, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương được Bộ Chính trị điều động, phân công, chỉ định giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2025-2030. Với phong cách làm việc khoa học, quyết liệt, ông Ngọc đã cùng Đảng bộ thành phố tạo ra một số thay đổi cho Thủ đô cũng như tạo ra những định hướng, chiến lược để Hà Nội phát triển trong những năm tiếp theo.
Cụ thể, thời gian qua thành phố đã đẩy nhanh tiến độ các đường vành đai, cầu vượt sông Hồng, tuyến metro, phát triển hệ thống giao thông công cộng đa phương thức. Hà Nội cũng triển khai nhiều giải pháp để giải quyết 5 điểm nghẽn, nhất là kiểm soát ô nhiễm không khí, xử lý rác thải, cải tạo sông hồ, tăng diện tích không gian xanh; quan tâm phát triển nhà ở xã hội, trường học, bệnh viện.
Võ Hải

Ngày 9.4, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai cho biết đã hoàn tất thủ tục, chuyển hồ sơ vụ án "phá hoại chính sách đoàn kết" sang cơ quan có thẩm quyền đề nghị truy tố 4 bị can. Đây là diễn biến mới trong vụ án phá hoại chính sách đoàn kết, được lực lượng chức năng phát hiện và xử lý kịp thời, góp phần giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.
Theo đó, 4 bị can gồm Rôh (63 tuổi, ở xã Ayun), Thông (34 tuổi, ở xã Bờ Ngoong), Di (85 tuổi, ở xã Lơ Pang) và Đinh Yum (63 tuổi, ở xã Bờ Ngoong) bị đề nghị truy tố về hành vi phá hoại chính sách đoàn kết. Trong số này, Di và Đinh Yum hiện ở nước ngoài nên bị đề nghị truy tố, xét xử vắng mặt theo quy định.
Kết quả điều tra xác định, từ năm 2019, các đối tượng Fulro lưu vong đã móc nối, chỉ đạo một số đối tượng trong nước nhằm phục hồi lực lượng, hướng tới mục tiêu ly khai, thành lập "nhà nước riêng" cho người Bahnar tại khu vực Tây nguyên. Đây được xác định là hành vi có tổ chức, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự.
Từ năm 2023 đến nay, các đối tượng tiếp tục gia tăng hoạt động, tuyên truyền, lôi kéo người dân tham gia tổ chức tự xưng "Bahnar Đêga Kon Kông". Nhóm này thu thập danh sách, gửi ra nước ngoài nhằm phục vụ mục đích kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài, qua đó làm phức tạp tình hình.
Dưới sự chỉ đạo từ bên ngoài, các đối tượng trong nước, trong đó có Rôh và Thông, đã tích cực phát triển lực lượng, hình thành 6 điểm nhóm tại hai xã Ayun và Bờ Ngoong với hơn 200 người tham gia. Các đối tượng còn thu thập danh sách hàng trăm người, đồng thời tiếp nhận tiền và nhiều vật dụng từ nước ngoài để phục vụ hoạt động, từng bước củng cố tổ chức.
Bị can Rôh và Thông bị đề nghị truy tố về hành vi phá hoại chính sách đoàn kết
ẢNH: TRỊ BÌNH
Cơ quan điều tra xác định Di và Đinh Yum giữ vai trò cầm đầu, thường xuyên liên lạc, cung cấp tài chính, phương tiện và định hướng hoạt động cho các đối tượng trong nước. Nhóm này lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người dân, phục hồi tổ chức Fulro và cái gọi là "Tin lành Đêga", từ đó gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Trước diễn biến phức tạp, Công an tỉnh Gia Lai đã triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn hoạt động ngay từ giai đoạn manh nha. Lực lượng an ninh phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân nhận diện rõ bản chất vụ việc, qua đó nhiều người đã từ bỏ, không tham gia.
Thượng tá Nguyễn Văn Đây, Trưởng phòng An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai, cho biết bản chất của "Bahnar Đêga Kon Kông" không phải tổ chức tôn giáo mà là thủ đoạn che giấu hoạt động của Fulro. Nếu không bị phát hiện, các đối tượng có thể mở rộng lực lượng, gây mất ổn định an ninh trật tự.
Việc điều tra, xử lý vụ án phá hoại chính sách đoàn kết thể hiện sự chủ động của lực lượng công an trong phòng ngừa, đấu tranh với các âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo. Đồng thời, vụ việc cũng là lời cảnh báo về những thủ đoạn tinh vi nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần được nhận diện và ngăn chặn kịp thời.

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

