Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
“Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa”, ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói “mười năm chín hạn” (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất “sống ngâm da, chết ngâm xương”.
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: “Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm”.
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là “Đại thủy nông Bắc – Hưng – Hải”. Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
“Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh”, ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. “Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá”, ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
“Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới”, ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
“Mong ước đó không biết có viển vông quá không?”, ông Sử tự hỏi.
Chiều 21-4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030.
Đại biểu Nguyễn Văn Cảnh cho hay dự thảo nêu rõ tăng cường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, phấn đấu giảm hệ số sử dụng vốn (ICOR). Để giảm hệ số ICOR, theo ông yếu tố quan trọng là các dự án đầu tư công khi đưa vào sử dụng cần được khai thác hiệu quả.
Dự thảo cũng nêu hoàn thiện các tuyến cao tốc theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Từ đó đại biểu đặt vấn đề: "Cần xem lại các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện nay có ảnh hưởng đến các hạng mục chuẩn bị triển khai trong thực tế hay không".
Ông Cảnh dẫn chứng hiện nay nhiều đường cao tốc còn thiếu trạm dừng nghỉ, gây nguy cơ gia tăng tai nạn giao thông do tài xế mệt mỏi, buồn ngủ; gây mất an toàn khi xe dừng đỗ trái phép trên làn khẩn cấp để vệ sinh, ăn uống; và ảnh hưởng sức khỏe, tâm lý người đi đường do không được nghỉ ngơi.
"Tôi đã tham quan trạm dừng nghỉ lớn nhất thế giới ở Hoa Kỳ, trạm có đến 100 trụ bơm xăng, có nơi tắm rửa, có trung tâm mua sắm, nhà hàng ăn nhanh ở trong trung tâm và rất đông khách. Tôi cũng ghé vào điểm dừng chân khác của cao tốc, nơi chỉ có một hạng mục là nhà vệ sinh. Như vậy họ xây dựng trạm dừng nghỉ, điểm dừng chân phù hợp với số lượng phương tiện qua lại cao tốc", ông Cảnh nói.
Từ phân tích trên, đại biểu cho rằng điểm dừng chân để phục vụ nhu cầu cơ bản của người lái xe, trạm dừng nghỉ là một hạng mục kinh doanh, cần phải có lượng khách tương đối và ổn định để tồn tại.
Trong giai đoạn 2026-2030, chúng ta cần bổ sung đủ các trạm dừng nghỉ theo quy hoạch, nhưng cũng cho phép các nhà đầu tư làm ở quy mô phù hợp với nhu cầu thực tế.
Vì vậy ông Cảnh đề nghị bổ sung dự thảo nghị quyết nội dung "hoàn thiện các tuyến cao tốc theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, ưu tiên hoàn thiện các hạng mục phụ trợ để đáp ứng được nhu cầu thực tế trong giai đoạn 2026-2030".
Cũng nội dung này, theo đại biểu Nguyễn Văn Cảnh, việc tăng số điểm ra - vào cao tốc không chỉ giúp giảm ùn tắc cục bộ ở những điểm kết nối chính, đặc biệt là ở các lối vào, ra ở đầu và cuối cao tốc, mà còn là đòn bẩy phát triển kinh tế ở các điểm kết nối vào cao tốc của các đô thị và khu công nghiệp dọc hai bên cao tốc.
Theo ông, việc lên xuống cao tốc thuận tiện sẽ giúp tiết kiệm thời gian và năng lượng, cũng giúp nâng cao số xe đi lại trên cao tốc, nâng cao hiệu quả sử dụng cao tốc. Bên cạnh đó cũng giúp tạo lối thoát khi cao tốc bị quá tải cục bộ hay khi có tai nạn xảy ra trên cao tốc, giúp thời gian đi lại trên cao tốc được chủ động hơn.
Vì vậy ông Cảnh đề nghị bổ sung vào dự thảo thêm nội dung "tạo các điểm kết nối thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trật tự an toàn giao thông". Bên cạnh đó, quan tâm thiết kế điểm ra - vào cao tốc không ảnh hưởng đến các phương tiện đang lưu thông trên cao tốc.
Mặt khác, nam đại biểu cho hay việc sử dụng hiệu quả hạ tầng giao thông còn liên quan đến thời gian khắc phục, sửa chữa các hư hỏng đường bộ. Khi đường bộ hư hỏng, nguy cơ xảy ra tai nạn tăng cao và gây ùn tắc thường xuyên hơn.
Hiện nay có nhiều thiết bị, công nghệ giúp khắc phục hư hỏng rất nhanh, sửa rạn, nứt đường chỉ sửa sau 15 phút, ổ gà sửa sau 30 phút, tránh hư hỏng lan rộng. Không phải tổ chức phân luồng, giúp giao thông luôn thông suốt.
"Các nước còn ứng dụng dải phân cách di động để phân chia lại làn đường mỗi buổi sáng chiều để phù hợp với lưu lượng xe thay đổi các khung giờ trong ngày. Vì vậy cần bổ sung nội dung: ứng dụng phương tiện, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ mới tổ chức, sửa chữa, bảo dưỡng hạ tầng đường bộ".
Tối 15/4, ông Lê Đăng Phúc, Tổ trưởng tổ bảo vệ an ninh trật tự cơ sở khối Mỹ Hạ, cho biết lực lượng chức năng đã rà soát, trích xuất camera để tìm con chó nhưng chưa có kết quả, chưa xác định được chủ nuôi và tình trạng bệnh dại.
Theo ông Phúc, khoảng 5h ngày 14/4, trên đường Trần Trùng Quang, khối Mỹ Hạ, phường Vinh Lộc, bà Nguyễn Thị Nhụy đang đi tập thể dục thì bị một con chó nặng khoảng 10 kg lao vào cắn, xô ngã, đầu va xuống đường.
Ít phút sau, con chó tiếp tục tấn công thêm hai người khác là bà Lý và bà Mai, cũng đang đi bộ. Bà Lý bị cắn vào chân, bà Mai bị thương vùng mông và ngực. Con vật bỏ đi khi một người đàn ông đi xe đạp dùng gậy xua đuổi.
Bà Nhụy và bà Lý bị nhiều vết thương, phải nhập viện để khâu, sức khỏe đã ổn định nhưng tinh thần còn hoảng loạn. Sự việc khiến người dân khu vực lo ngại, nhiều người tạm ngừng tập thể dục buổi sáng hoặc mang theo gậy để phòng thân.
Lãnh đạo phường Vinh Lộc cho biết sẽ kiểm tra, phối hợp các lực lượng xử lý, bảo đảm an toàn cho người dân.
Gần đây liên tiếp xảy ra các vụ chó tấn công người. Ngày 3/4, ông Đặng Hữu Quyết, 83 tuổi, trú Hà Tĩnh, bị chó tấn công khi đang cho ăn và đã tử vong.
Theo Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 70-90 ca tử vong do bệnh dại, chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi. Bệnh có tỷ lệ tử vong gần 100% khi phát bệnh nhưng có thể phòng ngừa bằng tiêm vaccine kịp thời.
Rời cảng cá Cửa Nhượng khi ráng chiều vừa tắt, chúng tôi xuống chiếc thuyền thúng của ngư dân Nguyễn Đình Thành (44 tuổi, ở thôn Chùa, xã Thiên Cầm). Chiếc thúng tròng trành vượt sóng, đưa cả nhóm ra khơi. Anh Thành vừa lái máy, vừa hào hứng khoe: "Mùa mực nhảy bắt đầu từ tháng 2 đến hết tháng 6 âm lịch. Tầm này biển "ngoan", mực vào gần bờ nhiều nên "giật" sướng tay lắm!".
Cái tên mực nhảy (hay mực nháy) không chỉ là tên gọi mà xuất phát từ chính trạng thái của chúng. Khi vừa rời mặt nước, những đốm lân tinh trên thân mực liên tục nhấp nháy, đổi màu lấp lánh như những ngôi sao nhỏ. Anh Thành tiết lộ, cái ngon của mực Thiên Cầm là nhờ quy trình bảo quản kỳ công: "Mực câu lên là phải thả ngay vào lồng nuôi ngâm dưới nước biển để giữ cho chúng luôn sung sức, bật tanh tách".
Sau 30 phút rời bờ, anh Thành tắt máy, găm chiếc đèn vào bình ắc quy. Ánh sáng vàng rực tỏa ra, soi rõ một vùng nước xanh ngắt. Đây là "mê hồn trận" để dụ mực. Với chiếc cần câu gắn mồi tôm giả, anh Thành bắt đầu phô diễn kỹ nghệ săn mực với một tay giữ cần, một tay giật liên hồi để tạo sự chuyển động đánh lừa con mồi.
Chưa đầy một phút, một con mực cơm to bằng hai ngón tay đã dính câu, bắn nước tung tóe trước sự ngỡ ngàng của chúng tôi. "Kỹ thuật chỉ có bấy nhiêu thôi. Chỉ cần nhấp liên tục, khi thấy nặng tay là giật. Hôm nào trúng luồng, một người có thể kiếm được 10 - 20 kg như chơi", anh Thành cười sảng khoái.
Càng về khuya, mặt biển Thiên Cầm càng trở nên náo nhiệt lạ thường. Giữa màn đêm mênh mông, hàng chục chiếc nan, thuyền thúng đồng loạt lên đèn dụ mực, kết thành một thành phố nổi rực rỡ, lung linh soi rõ mặt sóng. Tiếng máy nổ giòn, tiếng gọi nhau í ới của ngư dân phá tan cái tĩnh mịch của đại dương.
Gần đó, chiếc thuyền nan của lão ngư Nguyễn Quang Thanh (62 tuổi) cũng dập dềnh theo con nước. Ông Thanh vừa gỡ con mực lá ra khỏi móc, vừa nói vọng sang: "Mới ra được nửa tiếng mà đã có hơn ký rồi. Đêm thanh gió mát, vừa đi làm vừa hưởng gió biển, sướng vô cùng".
Với những ngư dân nơi đây, mực nhảy không chỉ là đặc sản mà còn là nguồn thu nhập chủ lực giúp gia đình khấm khá. Trung bình mỗi đêm, một ngư dân lành nghề có thể câu được từ 5 - 10 kg mực. Ngay khi vào bờ, các chủ nhà hàng tại Khu du lịch Thiên Cầm đã chờ sẵn để thu mua. "Trừ hết chi phí dầu đèn, mỗi đêm cũng bỏ túi vài ba triệu đồng mang về cho vợ. Nghề này vất vả vì thức đêm, nhưng biển chẳng phụ công người bao giờ", ông Thanh tâm sự.
Eo Bạch (P.Vũng Áng, Hà Tĩnh) những ngày này nườm nượp khách xuôi ngược. Dọc theo các dãy nhà bè san sát, đặc sản mực nhảy được nuôi thả trực tiếp dưới lồng lưới, sẵn sàng phục vụ những thực khách sành ăn.
Cơn sốt mực nhảy Vũng Áng lớn đến mức người ta chấp nhận chạy xe hàng trăm cây số chỉ để chờ đợi một mẻ mực tươi rói vừa rời biển. Với họ, đây không chỉ là bữa tiệc ẩm thực mà là trải nghiệm một cuộc trình diễn sống động của đặc sản miền Trung, nơi vị giác bị chinh phục bởi độ giòn ngọt, còn thị giác bị mê hoặc bởi những đốm lân tinh kỳ ảo của con mực.
Anh Nguyễn Văn Tú (một du khách từ Hà Nội) chia sẻ: "Đã đi nhiều nơi nhưng chỉ ở Vũng Áng mới thấy được cái vị ngọt lịm, giòn sần sật của mực nhảy ăn sống cùng mù tạt hoặc gỏi. Mức giá dù có lúc lên đến gần 1 triệu đồng/kg, nhưng vẫn xứng đáng để trải nghiệm".
Theo các chủ nhà bè, bí quyết tạo nên thương hiệu mực nhảy Vũng Áng chính là độ mặn của vùng biển nước sâu này. Đặc biệt, mực vừa bắt lên được chế biến ngay tại chỗ bằng cách hấp bia, ăn gỏi hoặc nướng than hoa. "Thưởng thức mực ở đây phải nhanh. Bắt lên đừng bóp mạnh kẻo nó phụt mực đen, cứ để nguyên con lấp lánh như thế mà cho vào nồi hấp mới giữ được tinh túy", ông Chu Văn Nhàn, chủ nhà hàng Thanh Nhàn, bật mí.
Để có những con mực chất lượng phục vụ du khách, các chủ nhà bè luôn phải canh ngư dân đi câu suốt đêm ngoài khơi xa, tảng sáng cập bờ là thu mua ngay để thả vào các lồng nuôi dưới biển. Dù giá mực nhảy ở đây khá cao, từ 500.000 - 700.000 đồng/kg, thậm chí lên tới tiền triệu vào cao điểm, nhưng các khu nhà bè vẫn luôn trong tình trạng "cháy hàng" mỗi dịp cuối tuần.
Ông Nhàn bảo rằng ở vùng Eo Bạch này ngoài gia đình ông thì còn có 19 hộ dân khác xây nhà bè bằng bê tông kiên cố sát mép biển để kinh doanh ăn uống. Các món ăn trong thực đơn ở đây chủ yếu là hải sản, trong đó mực nhảy là món đinh của các nhà bè. "Mỗi ngày tôi thường thu mua từ 20 - 50 kg mực tươi sống do bà con đi câu về. Vào mùa du lịch, có ngày nhà bè của tôi đón cả vài trăm lượt khách, doanh thu đạt khoảng 100 triệu đồng. Có khi mực nhảy không có mà bán vì khách đến đây ai cũng gọi món ăn này", ông Nhàn tâm sự.
Sức lan tỏa của mực nhảy Vũng Áng mạnh mẽ hơn dạo gần đây, khi cộng đồng mạng bất ngờ trước sự xuất hiện của một "hướng dẫn viên du lịch" đặc biệt trên mạng xã hội Facebook. Đó chính là ông Phan Thiên Định, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh. Với dòng trạng thái ngắn gọn nhưng đầy sức nặng của ông: "Mực nhảy Vũng Áng - Ăn một lần, nhớ một đời", đã ngay lập tức thu hút hàng nghìn lượt tương tác.
Dưới bài đăng, ông còn cung cấp thêm thông tin về sự độc đáo của loài mực vốn là niềm tự hào của vùng biển Vũng Áng. Điều khiến dư luận thích thú không chỉ là lời giới thiệu, mà còn ở cách ông kiên nhẫn phản hồi từng bình luận. Hàng trăm thực khách từng có dịp nếm trải vị ngọt thanh, giòn sần sật của mực nhảy Vũng Áng đã đồng loạt "vào cuộc". Tài khoản Thanh Đinh hào hứng: "Mực nơi đây thì tươi ngon không thể chê vào đâu được luôn, tôi đã được thưởng thức rồi!".
Nhiều người dân Hà Tĩnh cũng không giấu được sự xúc động trước cách quảng cáo 0 đồng nhưng đầy hiệu quả của lãnh đạo tỉnh nhà. Chị An Nguyễn để lại dòng bình luận đầy cảm xúc: "Người Chủ tịch tuyệt vời, ngoài công việc vẫn luôn dành quỹ thời gian ít ỏi để review về những điểm du lịch, đặc sản của quê hương, giúp bà con nhân dân làm giàu. Thật đáng trân quý ạ!".
Câu chuyện vị chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp "quảng bá" đặc sản cho thấy tư duy quản lý mới mang tính cởi mở, hiện đại và sát dân. Khi khoảng cách giữa chính quyền và người dân được thu hẹp qua những tương tác đời thường, hình ảnh của địa phương cũng theo đó mà trở nên thân thiện và hấp dẫn hơn trong mắt du khách.