Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất 2 phương án giảm trừ chi phí y tế, giáo dục – đào tạo vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế.
Phương án 1, người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc, bao gồm: các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước không quá 20 triệu đồng/năm; các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước không quá 21 triệu đồng/năm.
Phương án 2, các mức trần được giảm trừ tương ứng lần lượt là không quá 23 triệu đồng/năm và không quá 24 triệu đồng/năm.
Nhiều ý kiến cho rằng, đề xuất Bộ Tài chính đưa ra quá thấp, không sát thực tế đời sống.
Tại buổi họp báo thường kỳ quý 1 của Bộ Tài chính chiều 9.4, ông Lưu Đức Huy, Phó cục trưởng Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), cho biết, dự kiến, nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 1.7.
Về bổ sung khoản giảm trừ đối với chi phí y tế và giáo dục, cơ sở tính toán được xây dựng trên số liệu thống kê năm 2024.
Cụ thể, năm 2024, chi tiêu y tế bình quân khoảng 3,5 triệu đồng/người/năm đối với khám, chữa bệnh ngoại trú và từ 10 – 12 triệu đồng/người/năm đối với điều trị nội trú; chi tiêu cho giáo dục và đào tạo bình quân khoảng 9,6 triệu đồng/người/năm.
Trên cơ sở tỷ lệ người phụ thuộc bình quân khoảng 0,8 người/người nộp thuế, cơ quan soạn thảo ước tính, tổng chi phí liên quan đến y tế và giáo dục cho cả người nộp thuế và người phụ thuộc khoảng 20,4 triệu đồng/năm đối với y tế và 19,2 triệu đồng/năm đối với giáo dục.
Bộ Tài chính tính toán, mức giảm trừ trong phương án 1 tương đương khoảng gấp 2 lần chi tiêu y tế nội trú và khoảng 2,2 lần chi tiêu giáo dục bình quân năm 2024.
Theo ông Huy, mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế hiện là 15,5 triệu đồng/tháng và mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng, thực chất đã tính toán trong đó bao gồm một phần chi phí sinh hoạt cơ bản (có chi cho y tế và giáo dục). Việc bổ sung khoản giảm trừ riêng lần này là hỗ trợ thêm.
“Nếu áp dụng phương án 2, dự kiến số giảm thu ngân sách khoảng gần 7.700 tỉ đồng. Theo tính toán, một cá nhân có thu nhập khoảng 28 triệu đồng/tháng và có một người phụ thuộc chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân; thu nhập từ khoảng 28,63 triệu đồng/tháng trở lên mới phát sinh nghĩa vụ thuế và phần thu nhập tăng thêm chỉ chịu thuế suất 5%”, ông Huy cho biết.
Theo dự thảo nghị định, để được giảm trừ các khoản chi phí giáo dục – y tế như đề xuất, người nộp thuế phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Riêng đối với chi phí y tế, cần có thêm bảng kê chi phí khám chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Chứng từ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc và không được chi trả từ các nguồn khác như tài trợ, hỗ trợ, ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức khác.
Trả lời câu hỏi về tính khả thi của chính sách, ông Huy khẳng định, việc thực hiện sẽ tuân thủ pháp luật về quản lý thuế. Theo quy định hiện hành, các khoản chi muốn được giảm trừ phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp.
Hiện nay, với việc áp dụng hóa đơn điện tử, các cơ sở kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở lên bắt buộc phải xuất hóa đơn. Y tế và giáo dục là lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có điều kiện, yêu cầu về hóa đơn, chứng từ càng phải được thực hiện nghiêm.
Không có lý do gì người dân đã chi trả chi phí hợp pháp lại không được cấp hóa đơn để làm căn cứ giảm trừ thuế. Trường hợp vi phạm quy định về hóa đơn, các bên liên quan đều có thể bị xử phạt theo quy định.
“Các phương án đang được lấy ý kiến và hoàn thiện. Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo, bảo đảm khi ban hành, chính sách vừa hỗ trợ người dân, vừa khả thi trong thực hiện”, ông Huy nói.
Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép của Hòa Phát cũng đạt 3 triệu tấn, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao ghi nhận 1,4 triệu tấn, tăng 20% so với cùng kỳ 2025 và tăng 8% so với quý cuối năm trước. Thép Hòa Phát duy trì thị phần số 1 Việt Nam với 36% và có mặt tại hơn 45 quốc gia, vùng lãnh thổ khắp năm châu lục trên thế giới.
Thép Hòa Phát được sử dụng rộng rãi trong các công trình trọng điểm, tiêu biểu như: dự án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Phú Quốc, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, cao tốc Bắc - Nam, cao tốc Long Thành - Dầu Giây, cầu Mỹ Thuận 2, cầu đi bộ qua sông Sài Gòn, các dự án cầu mới qua sông Hồng (cầu Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi)...
Đối với thép cuộn cán nóng (HRC), sản lượng bán hàng đạt hơn 1,4 triệu tấn, tăng 48% so với quý đầu năm 2025. Hiện tại, sản lượng tiêu thụ HRC ở thị trường trong nước chiếm gần 80%, còn lại là xuất khẩu. Hòa Phát đã xuất khẩu HRC đến 20 quốc gia, vùng lãnh thổ tại châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi.
Hòa Phát còn sản xuất và cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu nhiều loại sản phẩm chế biến sau thép như ống thép, tôn mạ, thép dự ứng lực các loại. Trong quý đầu năm, Tập đoàn cung cấp 241.000 tấn ống thép, 106.000 tấn tôn mạ, tăng tương ứng 30% và 19% so với quý đầu năm 2025. Thép dự ứng lực, thép rút dây các loại đạt hơn 62.000 tấn, tăng 63% so với cùng kỳ năm trước.
Tập đoàn Hòa Phát hiện là nhà sản xuất thép lớn nhất Đông Nam Á với công suất 16 triệu tấn thép thô từ cuối năm 2026. Trong đó, trên 60% sản lượng là các loại thép chất lượng cao, phục vụ các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, sản xuất ô tô, đóng tàu, dầu khí, đồ gia dụng, kết cấu thép, năng lượng. Hiện tại, Hòa Phát là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đầu tư sản xuất được thép cuộn cán nóng HRC.
Hòa Phát đang quyết liệt triển khai dự án Nhà máy sản xuất thép ray và thép đặc biệt tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Sau 3 tháng từ ngày khởi công, Nhà máy đã hoàn thành 35% tiến độ xây dựng, dự kiến bắt ra sản phẩm thép ray vào năm 2027, phục vụ các dự án đường sắt trọng điểm của Việt Nam và xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Sở hữu hơn 30 khu công nghiệp (KCN) và nhiều nhà xưởng cho thuê tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, ông Trần Việt Anh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu Tư SCC (SCCI) - nêu thực trạng: Để xây dựng được một KCN hoàn chỉnh, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu rất lớn. Chẳng hạn, 1 KCN quy mô 400 ha thì ngay từ đầu đã phải đầu tư hạ tầng hết 400 ha đó. Thế nhưng, các KCN không thể ngay lập tức lấp đầy mà phải cần thời gian dài. Điều này nghĩa là thời gian hoàn vốn cho bất động sản công nghiệp (BĐS CN) là rất lớn.
Trong khi đó, đây là ngành khá nhạy cảm với những tác động từ bên ngoài. Chiến tranh vừa nổ ra là lập tức đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều khách hàng của SCCI chuẩn bị ký hợp đồng lập tức chậm lại, chờ, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty.
Thế nhưng, ông Trần Việt Anh cho rằng một điều bất hợp lý là NHNN, các ngân hàng thương mại hiện không tách riêng BĐS CN như 1 trường hợp riêng mà gom chung hết vào BĐS và không coi đây là 1 động lực phát triển kinh tế. Việt Nam là trường hợp rất riêng vẫn còn gom chung BĐS CN với các loại BĐS khác.
Ở Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, họ tách BĐS CN ra thành 1 dòng riêng, gắn với động lực sản xuất, gắn với hoạt động thương mại. Khi đã gắn BĐS CN với động lực sản suất thì định hướng dòng vốn của ngân hàng sẽ có khác. Các DN BĐS CN sẽ có lợi thế khi tiếp cận vốn tín dụng.
Để chứng minh quan điểm này, ông Trần Việt Anh dẫn chứng: Trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua, đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam do Tổng Bí Thư Tô Lâm dẫn đầu đã tới thăm KCN ở Hùng An. Nơi đây được nhà nước quy hoạch tổng thể ngay từ đầu, huy động nguồn tài chính lớn, chủ động nguồn nhân lực. Nhờ vậy, chỉ sau gần 10 năm, Hùng An đã thu hút tới 400 DN lớn, hình thành 1 hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp rất tốt.
Điển hình, tất cả thủ tục, kể cả tín dụng ở đây DN chỉ trong 1 tháng là hoàn thành xong. Ngân hàng cho vay đánh giá trên hiệu quả 1 dự án mang lại chứ không đánh giá trên tài sản thế chấp như tại Việt Nam. Có trường hợp 1 DN chỉ sau 10 năm về Hùng An hoạt động đã trở thành DN nằm top 3 nhà cung cấp giải pháp điện thông minh của Trung Quốc.
"Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc coi Hùng An là 1 cực tăng trưởng mới của Trung Quốc. Họ xác định rõ BĐS không phải để đầu cơ, mà là hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn. Vì thế, các chính sách của họ và nguồn tín dụng cũng được nắn theo hướng này. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng tôi phát triển 1 khu BĐS CN ở Gia Lai 20 năm, cho thuê giá rất thấp nhưng đến giờ mới lấp đầy khoảng 70%. Nếu vay ngân hàng hàng, chịu lãi suất 20 năm thì chỉ có "chết" - ông Việt Anh nói thẳng
Từ câu chuyện của Hùng An, Tổng giám đốc SCCI khẳng định: Vốn tín dụng cho BĐS nếu buông lỏng sẽ thành rủi ro nhưng nếu niểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Việt Nam cần thống nhất quan điểm coi BĐS là động lực tăng trưởng, nhất là BĐS CN, logistics. Từ đó, nhận diện vấn đề không phải siết hay nới mà là định hướng dòng vốn.
Ông đề xuất: Cơ quan quản lý cần phân loại tín dụng bất động sản theo mục tiêu sử dụng, ưu tiên cho bất động sản công nghiệp, logistics. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế tín dụng dài hạn, phù hợp chu kỳ đầu tư. Quan trọng là kiểm soát tín dụng dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Cuối cùng là cần nhìn nhận bất động sản nói chung như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.
"Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn. Nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ. Nếu chúng ta chỉ nhìn bất động sản dưới góc độ rủi ro tín dụng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội. Nếu nhìn đúng bản chất, bất động sản chính là hạ tầng của tăng trưởng" - ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.
Tại phần góp ý dự thảo thông tư nêu: "Con (bao gồm con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ, con riêng của chồng) đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông, không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 3 triệu đồng", Cục Thuế đề nghị đơn vị soạn thảo nghiên cứu, xem xét điều chỉnh mức thu nhập làm căn cứ xác định người phụ thuộc đối với trường hợp con trên 18 tuổi đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, học bậc học phổ thông.
Lý do là hiện nay chi phí giáo dục đại học đối với sinh viên khá cao. Ví dụ, 1 gia đình có con đang theo học bậc đại học sẽ phải chi trả học phí, tiền ăn, tiền sinh hoạt, nhà ở… Việc sinh viên đi làm thêm để nâng cao kỹ năng và phụ giúp gia đình là điều phổ biến. Như vậy, nếu thực hiện theo quy định tại dự thảo thông tư như trên thì con đang học đại học mà có thu nhập hơn 3 triệu đồng (gần 36 triệu đồng/năm) thì không được xác định là người phụ thuộc được giảm trừ là chưa phù hợp với thực tế mức sinh hoạt phí của sinh viên hiện nay.
Bên cạnh đó, Cục Thuế cũng đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung hướng dẫn về cách xác lập "thu nhập bình quân tháng" đối với các cá nhân có thu nhập không ổn định trong năm để người nộp thuế tự kê khai và chịu trách nhiệm. Ví dụ, trong trường hợp người phụ thuộc là con trên 18 tuổi theo học bậc đại học, tháng 6.2026 đi làm tại công ty và có thu nhập từ tháng 9 đến hết tháng 12.2026 là 250 triệu đồng, nếu tính thu nhập bình quân tháng trong năm (12 tháng) thì thu nhập là 20 triệu đồng/tháng. Như vậy, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2026, khi người phụ thuộc vẫn đang học bậc đại học thì người nộp thuế không được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc là con trong khi từ tháng 1 đến tháng 5 người phụ thuộc vẫn chưa có thu nhập. Do đó, cần làm rõ, "thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn" được tính theo 12 tháng hay số tháng phát sinh thu nhập, thu nhập để xác định thu nhập bình quân có bao gồm thu nhập miễn thuế hay không. Từ đó, Cục Thuế đề xuất thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn được tính theo số tháng phát sinh thu nhập.
Ngoài ra, Cục Thuế còn đề xuất đối với quy định "trong độ tuổi lao động" cần có dẫn chiếu căn cứ quy định của pháp luật để quy định cho các đối tượng là cá nhân trong độ tuổi lao động. Bởi theo quy định của Bộ luật Lao động, trong độ tuổi lao động có nhiều khung do áp dụng theo ngành nghề thông thường và các ngành nghề đặc thù có khung xác định độ tuổi lao động khác nhau.