Bộ Giáo dục và Đào tạo chiều 10/4 công bố kết quả xác minh đề tài “phát triển vật liệu Polyurethane Composite đa chức năng chống cháy, cách nhiệt, kháng vi sinh hướng tới ứng dụng trong xây dựng và đời sống” của học sinh trường THPT chuyên Lương Văn Tụy, Ninh Bình.
Dự án đạt giải nhất cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh, sinh viên hồi tháng 3, song bị tố có nhiều điểm giống luận án tiến sĩ.
Bộ cho hay đã thành lập tổ tư vấn để đánh giá đề tài này, gồm 5 người có trình độ tiến sĩ trở lên. Sau khi thẩm định, đánh giá sự trùng lặp về nội dung đề tài, tính khả thi của quá trình thí nghiệm, thực nghiệm, các chuyên gia đưa ra 5 nhận định.
Một là học sinh “hoàn toàn thực hiện được” dự án này, theo hướng dẫn của giáo viên. Cụ thể, các em có thể hiểu và phân tích kết quả của một số phép đo như DTA, XRD, FT-IR, bởi đây là kiến thức có trong chương trình. Thiết bị để thực hiện thí nghiệm đều có sẵn tại các trung tâm nghiên cứu như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia, Bách khoa Hà Nội…
Thứ hai, tiến độ dự án là khả thi khi học sinh đã có kế hoạch nghiên cứu, quy trình được kiểm chứng, cùng sự hướng dẫn của giáo viên, nhà khoa học. Nội dung nghiên cứu được giới hạn hợp lý, tập trung vào một số tính chất trọng tâm và sử dụng các vật liệu, thiết bị ở các phòng thí nghiệm hiện có.
Thứ ba, dự án không bị ghi nhận trùng lặp do đạo văn những công trình đã công bố.
Thứ tư, nghiên cứu không có tính mới tuyệt đối, mà chỉ tương đối, có tính sáng tạo và giá trị thực tiễn, phù hợp năng lực nghiên cứu ở bậc phổ thông. Khác với nghiên cứu trước thường tập trung vào một tính năng riêng lẻ, đề tài này nghiên cứu về xây dựng hệ vật liệu PU composite có khả năng cân bằng, đồng thời giữa chống cháy – cách nhiệt – kháng vi sinh, thông qua tối ưu hóa hàm lượng và sự phân tán của chất được thêm vào.
Thứ năm, đề tài có giá trị ứng dụng cao, có thể làm cơ sở cho dự án ứng dụng hoặc sáng chế học sinh – sinh viên trong lĩnh vực vật liệu chức năng và công nghệ nano.
Ngoài ra, Bộ đánh giá hồ sơ hợp lệ, đúng quy chế.
“Tổng thể, đề tài không có dấu hiệu sao chép hay đạo văn mà thể hiện rõ sự
kế thừa có chọn lọc kết hợp với quá trình thực nghiệm độc lập và phân tích khoa
học, qua đó tạo ra những kết quả có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
đã đề ra”, Bộ kết luận.
Cơ quan này cũng nhận định việc tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật là cần thiết, nhằm khuyến khích học sinh nghiên cứu, vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề thực tế.
Cách đây vài tuần, nhiều diễn đàn về liêm chính khoa học xôn xao về các dự án đạt giải nhất cuộc thi khoa học kỹ thuật quốc gia, nổi bật là dự án của học sinh trường THPT chuyên Lương Văn Tụy.
Nhiều người đặt nghi vấn về tính khả thi khi dự án đòi hỏi loạt kỹ thuật khó, phải thực hiện dài ngày trong phòng thí nghiệm, nhiều chi tiết giống với nghiên cứu của một nhà khoa học và nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Trả lời VnExpress khi đó, ông Hoàng Hải Nam, hiệu trưởng, cho biết ý tưởng đề tài do học sinh đề xuất, xuất phát từ bài toán làm sao để vật liệu vừa chống cháy vừa khắc phục tình trạng ẩm mốc. Các em không bắt đầu từ con số 0 mà kế thừa các nghiên cứu sẵn có về vật liệu polyurethane có khả năng chống cháy và cách nhiệt, bổ sung nano bạc để tăng tính kháng vi sinh.
Ông Nam khẳng định việc kế thừa là thông lệ trong nghiên cứu khoa học, không đồng nghĩa với thiếu sáng tạo. Với thí nghiệm chuyên sâu, nhà trường đã hỗ trợ học sinh thực hiện tại các cơ sở đủ điều kiện và có xác nhận hợp lệ. Quy trình này phù hợp thông lệ, đảm bảo liêm chính khoa học.
Cuộc thi khoa học kỹ thuật quốc gia (VISEF) 2026 diễn ra trong ba ngày 20-22/3, thu hút 457 học sinh với 242 dự án. Theo quy chế tuyển sinh của Bộ, thí sinh đoạt giải ba trở lên được xét tuyển thẳng vào đại học theo ngành phù hợp. Song nhiều trường đã bỏ xét giải này.
Năm ngoái, dự án đạt giải nhất của học sinh Hưng Yên bị “tố” giống sản phẩm của một tác giả người Indonesia. Bộ Giáo dục và Đào tạo sau đó thu hồi giải thưởng, giấy chứng nhận của hai học sinh.
Ngày 10.4, tại UTH, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tổ chức tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học về đường sắt, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia về phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Tiếp theo hoạt động khảo sát để hoàn thiện Đề án "Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045" ngày 3.10.2025 tại UTH, sự kiện là bước triển khai quan trọng để thực hiện Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg. Đồng thời, Tọa đàm ghi nhận vai trò tiên phong của UTH trong việc sẵn sàng và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án đường sắt quy mô lớn của quốc gia.
Tọa đàm do TS Đặng Văn Huấn - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) - chủ trì, với sự tham dự của PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH; đại diện lãnh đạo, chuyên gia đến từ 15 cơ sở giáo dục đại học và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, giao thông vận tải. Việc UTH được lựa chọn đăng cai tổ chức Tọa đàm một lần nữa khẳng định uy tín, năng lực của nhà trường trong đào tạo, nghiên cứu các lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt hiện đại, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao - những lĩnh vực then chốt trong hiện thực hóa khát vọng phát triển hạ tầng chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Phát biểu khai mạc, TS Đặng Văn Huấn nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Chuẩn chương trình đào tạo đồng bộ, hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, nhất là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và hệ thống đường sắt đô thị tại các trung tâm kinh tế - xã hội lớn. Theo ông, việc chuẩn hóa chương trình đào tạo không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực đường sắt, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện hiệu quả các định hướng chiến lược được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển hạ tầng.
Theo báo cáo tại tọa đàm, dự thảo chuẩn chương trình đào tạo ngành đường sắt được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bám sát thực tiễn trong nước và định hướng liên ngành, tích hợp các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, công nghệ thông tin và khai thác vận tải. Nội dung đào tạo chú trọng cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tăng cường thí nghiệm, thực tập, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp - mô hình mà UTH đã triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua, qua đó tạo tiền đề để nhanh chóng hình thành đội ngũ kỹ sư có thể tham gia ngay vào các dự án đường sắt tốc độ cao khi được triển khai. Tại phiên thảo luận, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần tiếp cận ngành đường sắt như một hệ thống tích hợp đa lĩnh vực, trong đó nhân lực phải có năng lực tổng hợp về kỹ thuật, công nghệ và quản lý, phù hợp với yêu cầu vận hành các tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại.
Đóng góp ý kiến, TS Lê Anh Uyên Vũ - Phó viện trưởng Viện Cơ khí UTH - cho biết các chương trình đào tạo hiện nay của UTH về đường sắt được xây dựng theo định hướng liên ngành, chuẩn đầu ra cơ bản tương thích với dự thảo chuẩn đang xây dựng, cho thấy định hướng đào tạo của UTH phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của ngành. TS Uyên Vũ cũng đề xuất Hội đồng xây dựng chuẩn CTĐT có thể tham khảo chương trình mà UTH đang triển khai như một hướng tiếp cận hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đường sắt hiện đại và đường sắt tốc độ cao.
Các đại biểu cũng kiến nghị khá tương đồng với ý kiến từ các chuyên gia của UTH về việc cần tinh gọn, giảm số lượng chuẩn đầu ra, tăng tỷ trọng thực hành, đẩy mạnh học kỳ doanh nghiệp, đồng thời bổ sung các nội dung về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, an toàn hệ thống - những yêu cầu công nghệ cốt lõi của đường sắt tốc độ cao. Nhiều ý kiến thống nhất rằng chương trình đào tạo cần linh hoạt, gắn với thực tiễn, nhu cầu thị trường lao động và các lộ trình, quy hoạch phát triển đường sắt mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong các văn kiện chiến lược.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH - khẳng định UTH luôn chủ động, tiên phong trong đón đầu các xu hướng phát triển nguồn nhân lực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Hiệu trưởng nhấn mạnh UTH đã và đang từng bước hoàn thiện các chương trình đào tạo, tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thực hành, mô phỏng… để sẵn sàng đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong đào tạo kỹ sư đường sắt tốc độ cao, góp phần hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng về phát triển hạ tầng chiến lược, chuyển đổi cơ cấu vận tải theo hướng hiện đại, bền vững. Ông khẳng định UTH sẵn sàng đồng hành cùng Bộ GD-ĐT và các đối tác trong việc hoàn thiện, triển khai chuẩn CTĐT; chia sẻ về các CTĐT về đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị đang triển khai tại trường.
Với định hướng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải phía Nam, UTH đang từng bước khẳng định vai trò trụ cột trong đào tạo nguồn nhân lực đường sắt chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, xu thế phát triển công nghệ và định hướng mở rộng mạng lưới đường sắt tốc độ cao của đất nước. Các đại biểu của UTH tham dự Tọa đàm góp ý cho dự thảo theo thực tiễn các CTĐT của UTH luôn được cải tiến kịp thời để theo kịp định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các chương trình đào tạo của UTH được cải tiến ưu tiên đào tạo kiến thức nền tảng, đào tạo sinh viên phát triển tư duy, cách học, cách giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và ứng dụng hiệu quả AI và dữ liệu lớn vào học tập và thực tiễn.
Rời phòng thi ở trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM lúc hơn 11h, Thành Công, học sinh trường THPT Bình Chiểu, lập tức tìm nhóm bạn bàn về câu hỏi niêm luật (quy tắc về thanh điệu, gieo vần) trong khổ thơ Đường.
"Em chưa từng gặp câu hỏi này nên khoanh may rủi, xác định mất điểm", Thành Công nói.
Nam sinh nói đề dài 16 trang, cấu trúc tương tự đề minh họa. 30 câu hỏi Tiếng Việt trong phần Sử dụng ngôn ngữ khiến em bất ngờ vì độ khó cao hơn nhiều so các đề từng luyện. Câu hỏi dài với ngữ liệu chủ yếu là thơ văn trung đại khiến nam sinh mất thời gian đọc.
Ngoài ra, phần Toán học thách thức vì một số câu cho nhiều ẩn để "chống" bấm máy tính. Tổng quan, em đánh giá đề thi đánh giá năng lực khó gấp rưỡi so với đề minh họa của Đại học Quốc gia TP HCM. Nam sinh ước chừng đạt hơn 700/1200 điểm, chưa an toàn nên sẽ tiếp tục thi lần hai vào cuối tháng 5.
Đồng tình, Thùy Dương, THPT Nguyễn Hữu Huân, nói câu hỏi Tiếng Việt dài và đáp án gây nhiễu, "na ná nhau". Bù lại, Dương giải quyết tốt phần Tiếng Anh và Tư duy khoa học. Nữ sinh kỳ vọng đạt 900 điểm trở lên để đăng ký xét vào Đại học Kinh tế TP HCM và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
"Đề khó gấp rưỡi, đặc biệt phần Tiếng Việt, nhiều câu em không hiểu đề", Dương nói.
Anh Thư, THPT Thủ Đức, rầu rĩ vì mất nhiều thời gian cho các câu hỏi Tiếng Việt. Nữ sinh dự định dành 30 phút nhưng cuối cùng mất 45 phút vẫn không chắc chắn toàn bộ đáp án cho phần này. Điều này cũng khiến em không kịp đọc kỹ những câu cuối, ước chừng 30 câu phải khoanh đáp án một cách may rủi.
"Lẽ ra em nên phân phối thời gian hợp lý hơn", Thư tiếc nuối và cho biết sẽ dự thi đợt sau để cải thiện kết quả.
Khảo sát 10 thí sinh tại điểm trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM, có 8 em nhận định phần Tiếng Việt dài và khó. Đặc biệt, câu hỏi niêm luật khiến nhiều em nhăn mặt vì ít phổ biến nên không để ý trong quá trình học.
Đề thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP HCM gồm 120 câu, thời gian làm bài 150 phút. Phần Tư duy khoa học có 30 câu gồm Logic - Phân tích số liệu và Suy luận khoa học. Phần Sử dụng ngôn ngữ gồm Tiếng Việt và Tiếng Anh với 60 câu. Cuối cùng là Toán học với 30 câu.
Câu hỏi được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin, số liệu, dữ kiện, từ đó yêu cầu thí sinh vận dụng, xác định kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật...
Theo thống kê của Đại học Quốc gia TP HCM, gần 133.500 thí sinh tham gia thi đánh giá năng lực sáng 5/4, tỷ lệ 98%. Công tác coi thi đúng quy chế, chưa ghi nhận trường hợp sai sót, sự cố. Kết quả sẽ được công bố vào ngày 17/4.
Đợt hai của kỳ thi sẽ diễn ra ngày 24/5. Kết quả kỳ thi được 118 trường đại học, cao đẳng dùng để xét đầu vào. Năm ngoái, em Mai Quang Minh Trí vượt qua 152.000 thí sinh giành vị trí thủ khoa với 1.122/1200 điểm.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn đội ngũ giảng viên, tăng số lượng tiến sĩ, cơ sở vật chất và học liệu, chuyển sang quản lý chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học thay vì chỉ kiểm soát thủ tục mở ngành.
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có ít nhất 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện.
Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, yêu cầu còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương.
Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31-12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích…
Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trừ các chương trình đào tạo đặc thù, mỗi chương trình đào tạo phải có ít nhất 5 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, 2 phó giáo sư và 1 giáo sư có chuyên môn phù hợp chủ trì. Trong đó có 2 giảng viên và trong 2 giảng viên đó phải ít nhất 1 giảng viên có chuyên môn ngành gần chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình…
Bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 3 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu.
Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo.
Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ "mở ngành đào tạo", sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo. Đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá.
Tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành... phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.