Kết quả môn ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy Hải Phòng và Hà Nội duy trì điểm khá cao, Huế tăng rõ rệt, TP.HCM và Cần Thơ biến động mạnh, trong khi Đà Nẵng thuộc nhóm cuối.
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần “đủ điểm tốt nghiệp”, không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về “ý chuẩn”, ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của “văn hóa học văn”. Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra là liệu khoản đầu tư cả chục triệu đồng cho một tiết mục văn nghệ có thực sự cần thiết và xứng đáng với giá trị mà học sinh nhận được?
Ở các trường hiện nay không khó bắt gặp những thông báo vận động đóng góp từ ban phụ huynh các lớp cho tiết mục văn nghệ. Từ tiền thuê biên đạo, trang phục, đạo cụ, âm thanh, ánh sáng cho đến chi phí tập luyện… tất cả cộng lại có thể lên tới chục triệu đồng. Đây là xu hướng phổ biến ở nhiều trường học, đặc biệt tại các đô thị lớn.
Ban đầu, các hoạt động phong trào vốn mang ý nghĩa tạo sân chơi lành mạnh, giúp học sinh thư giãn sau giờ học và gắn kết tập thể. Nhưng, theo thời gian, nhiều nơi đã "nâng cấp" các tiết mục thành những màn trình diễn công phu, gần như bán chuyên nghiệp. Sự đầu tư quá mức này vô tình tạo ra áp lực cạnh tranh giữa các lớp.
Hệ quả là phụ huynh trở thành "nhà tài trợ bất đắc dĩ". Dù không phải ai cũng sẵn lòng chi trả, nhưng trước tâm lý "vì tập thể", "vì con mình không bị thiệt thòi", nhiều người vẫn phải miễn cưỡng đóng góp. Điều này đặc biệt gây áp lực với những gia đình có điều kiện kinh tế hạn chế.
Ngay cả chính những giáo viên chủ cũng thừa nhận là "bất dĩ lắm mới theo phong trào của lớp như thế", vì sợ "lớp mình thua lớp khác, vì điểm thi đua của học sinh và giáo viên trong trường...".
Cô L.T.H, một giáo viên tại TP.HCM nêu quan điểm: "Phụ huynh cũng nên tạo điều kiện cho con em tham gia phong trào nhưng cần trong phạm vi điều kiện hợp lý thôi. Chứ đầu tư nhiều tiền quá, nhiều gia đình cũng rất khó khăn".
Một tiết mục văn nghệ phong trào chỉ diễn ra trong vài phút trên sân khấu. Nhưng để có được vài phút ấy, phụ huynh phải bỏ ra một khoản tiền không nhỏ. Khi chi phí vượt quá giá trị thực tế của hoạt động, câu chuyện không còn đơn thuần là phong trào nữa mà đã trở thành một "cuộc đua ngầm" về tài chính.
Điều đáng lo hơn là, giá trị giáo dục mà học sinh nhận được từ những tiết mục ấy lại khá hạn chế. Khi mọi thứ đã được "làm sẵn" bởi người lớn (từ ý tưởng, biên đạo đến cách thể hiện) thì học sinh gần như chỉ làm theo hướng dẫn, thậm chí là "diễn cho đúng bài".
Trong nhiều trường hợp, các em không thực sự hiểu ý nghĩa của tiết mục mình tham gia, cũng không có cơ hội phát huy sự sáng tạo hay rèn luyện kỹ năng tổ chức, làm việc nhóm. Thay vì tự tìm tòi, tập luyện, điều chỉnh và hoàn thiện, các em chỉ cần tập theo lịch, theo động tác đã được dựng sẵn.
Chính điều này làm giảm đi giá trị cốt lõi của hoạt động phong trào vốn phải là môi trường để học sinh học kỹ năng sống. Khi sự cạnh tranh giữa các lớp trở nên nặng nề, mục tiêu giáo dục bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho việc "trình diễn cho đẹp", "thi cho có giải".
Trong khi đó, nếu sử dụng khoản tiền ấy một cách hợp lý, chẳng hạn thuê người hướng dẫn kỹ năng mềm, tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa, hay đơn giản là để học sinh tự lên ý tưởng và tập luyện... thì giá trị giáo dục mang lại sẽ cao hơn nhiều. Khi học sinh tự tham gia vào quá trình xây dựng tiết mục, các em sẽ học được cách làm việc nhóm, giải quyết mâu thuẫn, quản lý thời gian, thậm chí là lãnh đạo và chịu trách nhiệm. Những kỹ năng này quan trọng hơn rất nhiều so với một màn trình diễn chỉn chu nhưng thiếu "chất học sinh".
Ngoài ra, việc chi tiêu quá mức cho hoạt động phong trào còn có thể tạo ra những hệ lụy về nhận thức. Trẻ có thể dần hình thành suy nghĩ rằng muốn thành công hay được ghi nhận thì phải có sự đầu tư lớn về tiền bạc, thay vì nỗ lực cá nhân và sự sáng tạo. Đây là điều đi ngược lại với tinh thần giáo dục mà nhà trường hướng tới.
Hồi tháng 3, GS Nga – Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật, giảng viên trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia dành cho các nhà khoa học nữ xuất sắc.
"Đây là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm", chị Nga nói.
Là nữ giáo sư ngành Xây dựng hiếm hoi trong cả nước, hướng nghiên cứu của chị tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
Chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp Bộ. GS Nga cũng đang chủ trì dự án SATREPS với vốn ODA của Nhật Bản để phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm cho Việt Nam.
Cùng đó là dự án Phục hồi hệ thống sông nội đô (sông Tô lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu). Nhóm của chị đã xem xét các nguồn nước trong lưu vực sông, bao gồm nước mặt, nước ngầm tầng nông, nước mưa và nước thải sau xử lý, qua đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật để kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái.
Hành trình dấn thân vào những bài toán hóc búa ở đô thị của chị Nga mang bóng dáng người bố - GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước.
Được thừa hưởng tinh thần học tập và niềm say mê khoa học, năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam quyết định thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội. Mong muốn của chị là tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời theo đuổi.
Ở đây, chị nhận ra ngành kỹ thuật cấp thoát nước không chỉ có những con số khô khan mà là sự giao thoa giữa kỹ thuật và xã hội, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp nhờ tư duy logic về kỹ thuật đã được rèn giũa từ bé. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Năm 1996, sau khi tốt nghiệp xuất sắc, chị lên đường sang Thái Lan học thạc sĩ, rồi chinh phục tấm bằng tiến sĩ tại Đại học Tokyo – ngôi trường số 1 Nhật Bản. Trước những lời "cảnh báo" rằng ngành này quá nặng nhọc với phụ nữ, chị không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
"Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực", chị Nga tâm niệm.
Chị Nga sau đó làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Nữ giáo sư nhìn nhận mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều đòi hỏi có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu của đề bài.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị "lăn lộn" để nhìn thấu đáo vấn đề. Khi đã ra được định hướng, "việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình".
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là "thành tựu", theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, mỗi khi kết quả không đạt kỳ vọng, chị cần mẫn quay lại "lục lọi", đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được "thắp" thêm sự tự tin để đi tiếp.
Chị Nga là người tiên phong ở Việt Nam nghiên cứu công nghệ màng lọc kỵ khí (AnMBR) để xử lý nước thải, phù hợp với khí hậu Việt Nam.
Điểm đặc biệt của công nghệ này không chỉ nằm ở việc làm sạch nguồn nước mà còn mở ra nhiều tiềm năng: tái sử dụng nước cho nông nghiệp hay thu hồi những vật chất có ích (như khí sinh học) để phục vụ cuộc sống.
Chị Nga nhìn nhận hành trình đưa nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thực tế rất dài, đòi hỏi sự kiên trì của người làm nghề và sự chung tay của cả cộng đồng. Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu về phát triển xanh, sạch và bền vững.
Sau 30 năm "lăn lộn" với những bài toán khó, chị Nga đánh giá chất lượng nước sẽ luôn là vấn đề sống còn của xã hội. Chị dự định tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán mà phương pháp truyền thống chưa thể chạm tới.
Nhìn lại chặng đường đã qua, nữ giáo sư tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
"Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua", chị Nga tâm niệm.
Chị cũng nhìn nhận phụ nữ có những lợi thế riêng trong ngành kỹ thuật nhờ sự thấu cảm, khả năng phối hợp hài hòa và nhìn nhận thấu đáo.
"Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công", chị nói.
Sáng nay (5.4), đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM diễn ra tại 15 tỉnh, thành phố tính theo đơn vị hành chính sau sáp nhập, gồm: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau.
Với hơn 135.000 thí sinh dự thi, đợt 1 kỳ thi này có số lượng thí sinh tăng 5,14% so với năm ngoái và cao kỷ lục tính từ trước đến nay.
Đối tượng tham dự kỳ thi này gồm: học sinh đang học lớp 12 chương trình THPT hoặc chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT trong năm tổ chức kỳ thi; Người học hết chương trình THPT nhưng chưa thi tốt nghiệp THPT hoặc đã thi nhưng chưa tốt nghiệp THPT ở những năm trước; Người đã tốt nghiệp THPT, trình độ trung cấp và đã có bằng tốt nghiệp THPT (theo quy định của luật Giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành) hoặc đã tốt nghiệp chương trình THPT của nước ngoài ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam (đã được nước sở tại cho phép thực hiện, đạt trình độ tương đương trình độ THPT của Việt Nam).
Kỳ thi diễn ra đồng thời tại 119 điểm thi, 4.321 phòng thi, với sự tham gia của 9.910 cán bộ coi thi. Đáng chú ý là sự tham gia phối hợp tổ chức của 57 trường ĐH-CĐ từ TP.Huế trở vào. Riêng TP.HCM có tới 25 trường ĐH-CĐ tham gia tổ chức gồm: Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, Trường ĐH Công nghệ thông tin TP.HCM, Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế-Luật, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Công thương TP.HCM, Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM, Trường ĐH Hoa Sen, Trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học TP.HCM, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, Trường ĐH Nông lâm TP.HCM, Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, Trường ĐH Tài chính-Marketing, Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Văn Lang, Trường ĐH Bình Dương, Trường ĐH Quốc tế Miền Đông, Trường ĐH Thủ Dầu Một, Trường ĐH Bà Rịa-Vũng Tàu, Trường ĐH Dầu khí Việt Nam, Trường CĐ Sư phạm Bà Rịa-Vũng Tàu.
So với năm trước, năm nay kỳ thi có thêm 4 đơn vị phối hợp tổ chức với nhiều điểm thi mới gồm: Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn, Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM và Trường ĐH Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tham dự kỳ thi này, thí sinh làm một bài thi trong thời gian 150 phút gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, được tổ chức theo hình thức thi trên giấy. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan có 4 lựa chọn (A, B, C, D). Thí sinh lựa chọn một đáp án đúng cho mỗi câu hỏi và điền câu trả lời vào phiếu trả lời trắc nghiệm do ĐH Quốc gia TP.HCM quy định.
Nội dung thi được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức THPT nhằm đánh giá năng lực cơ bản cần thiết cho việc học ĐH của thí sinh, bao gồm: sử dụng ngôn ngữ, toán học, tư duy khoa học. Theo đó, cấu trúc bài thi gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ gồm 60 câu hỏi (30 câu tiếng Việt và 30 câu tiếng Anh); toán học gồm 30 câu hỏi; tư duy khoa học gồm 30 câu hỏi. Cách phân bổ này nhằm đánh giá toàn diện các năng lực cốt lõi như tư duy logic, phân tích số liệu và suy luận khoa học, thay vì kiểm tra kiến thức đơn lẻ theo từng môn học. Độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%.
Về phương pháp chấm điểm, kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi. Điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi. Điểm thi được quy đổi theo từng phần. Điểm số tối đa của bài thi là 1.200 điểm, trong đó điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt là 300 điểm, tiếng Anh là 300 điểm; toán học là 300 điểm và tư duy khoa học là 300 điểm.
Năm 2025, kỳ thi thu hút 152.000 thí sinh với hơn 223.000 lượt đăng ký dự thi tại 55 điểm thi thuộc 25 tỉnh/thành. Đồng thời, có 111 cơ sở giáo dục ĐH-CĐ sử dụng kết quả thi để xét tuyển. Riêng hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, phương thức này chiếm hơn 56% tổng chỉ tiêu tuyển sinh.
Năm nay, dự kiến 118 cơ sở đào tạo ĐH-CĐ sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển. Kết quả thi đợt 1 này sẽ được công bố vào ngày 17.4 tới, trước khi bắt đầu nhận đăng ký đợt 2 từ ngày 18.4.