“Trước đây, 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến khám ở giai đoạn muộn, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược, với khoảng 3/4 bệnh nhân được phát hiện sớm, giúp tỷ lệ khỏi bệnh tăng cao”, PGS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, nói tại Hội thảo quốc tế Ung thư vú năm 2026 với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học trong nước và các chuyên gia quốc tế hôm 22/4 tại Hà Nội.
Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao. Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận 24.563 ca mắc mới, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ giới, chiếm 28,9%; số ca tử vong là 10.008. Đáng chú ý, so với nhiều quốc gia khác, tỷ lệ mắc bệnh ở người trẻ tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, đây là căn bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp.
Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh sớm có do ý thức tầm soát bệnh. Ngoài ra những tiến bộ mới nhất trong sàng lọc, chẩn đoán cũng giúp phát hiện những tổn thương nhỏ nhất, giúp bệnh nhân được tiếp cận với điều trị sớm nhất.
GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, cho hay bên cạnh việc chẩn đoán sớm được, điều trị ung thư vú tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp giảm biến chứng, trong khi phẫu thuật tạo hình, tái tạo vú không chỉ phục hồi hình thể mà còn mang lại sự tự tin, ổn định tâm lý cho phụ nữ sau điều trị. Nhờ vậy, người bệnh không chỉ được kéo dài thời gian sống mà còn cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống.
Gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được tích hợp vào quá trình chẩn đoán và điều trị, hỗ trợ bác sĩ nâng cao độ chính xác, cập nhật kiến thức và xây dựng các phác đồ tham khảo. AI còn giúp việc hội chẩn đa chuyên khoa trở nên nhanh chóng, linh hoạt hơn. Nhờ những tiến bộ này, điều trị ung thư vú ngày càng được cá thể hóa, tối ưu hóa cho từng người bệnh.
Tại hội thảo, GS Anees B.Chagpar (Khoa Phẫu thuật, Trường Đại học Yale, Mỹ) cho biết, phẫu thuật ung thư vú hiện hướng tới hai mục tiêu chính. Thứ nhất là kiểm soát khối u, nếu như giai đoạn 1950-1960, bệnh nhân thường phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú thì hiện nay xu hướng là phẫu thuật bảo tồn, chỉ cắt một phần tuyến vú hoặc cắt rộng khối u. Trong tương lai, thậm chí có thể không cần phẫu thuật trong một số trường hợp.
Mục tiêu thứ hai là đánh giá và kiểm soát hạch bạch huyết. Trước đây, việc vét hạch nách được thực hiện rộng rãi nhưng hiện nay xu hướng chuyển sang sinh thiết hạch cửa. Nếu hạch âm tính thì không cần vét hạch, còn trong một số trường hợp dương tính vẫn có thể kiểm soát bệnh mà không cần can thiệp rộng. Trong tương lai, có thể tiến tới giảm thiểu hoặc loại bỏ cả sinh thiết hạch cửa ở một số nhóm bệnh nhân.
Phụ nữ được khuyến cáo nên tầm soát ung thư vú ở độ tuổi từ 40 trở lên. Dấu hiệu cảnh báo ung thư vú gồm: Sờ có khối u ở vú, hoặc vùng xung quanh như dưới nách; vú thay đổi về hình dạng và kích thước vùng da ở ngực; núm hoặc quầng vú xuất hiện vảy, đỏ hoặc sưng. Ngoài ra, các dấu hiệu khác như núm vú bị tụt, đau nhức; tiết dịch hoặc dịch có lẫn máu ở đầu vú.
Omega-3 là nhóm chất béo gồm ba dạng chính là EPA, DHA (chủ yếu từ cá) và ALA (từ thực vật). Đây là những thành phần quan trọng của màng tế bào, đồng thời tham gia điều hòa nhiều hoạt động trong cơ thể như lưu thông máu, phản ứng viêm và chức năng thần kinh. Bổ sung đủ omega-3 có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và hỗ trợ sức khỏe não bộ.
Do cơ thể không thể tự sản xuất nên việc bổ sung qua thực phẩm hàng ngày là cần thiết. Dưới đây là những thực phẩm giàu omega-3 quen thuộc.
Cá thu
Cá thu là một trong những nguồn chứa omega-3 dồi dào nhất, đặc biệt giàu EPA và DHA. Loại cá này còn cung cấp lượng lớn vitamin B12, selen, hỗ trợ hệ thần kinh, chống oxy hóa. Cá thu có thể chế biến đơn giản như nướng, kho hoặc áp chảo, phù hợp với khẩu vị người Việt.
Cá hồi
Cá hồi từ lâu được xem là thực phẩm tốt cho tim mạch và não bộ. Ngoài omega-3, cá hồi còn chứa protein chất lượng cao, vitamin D cùng nhiều khoáng chất cần thiết. Ăn cá hồi đều đặn có thể giảm viêm, hỗ trợ trí nhớ đồng thời cải thiện sức khỏe tổng thể.
Cá mòi
Cá mòi đóng hộp tiện lợi, có thể ăn cả xương, giúp bổ sung thêm canxi. Đây là loại cá nhỏ nhưng giàu omega-3, cung cấp cả vitamin D và B12. Cá mòi có thể dùng trực tiếp hoặc chế biến cùng salad, bánh mì.
Cá trích
Cá trích là loại cá béo có hàm lượng omega-3 cao, đồng thời giàu chất chống oxy hóa, khoáng chất. Ăn loại cá này thường xuyên hỗ trợ tim mạch, giảm viêm. Cá trích có thể được chế biến theo nhiều cách như nướng, chiên hoặc làm gỏi.
Hàu không chỉ chứa omega-3 mà còn rất giàu kẽm, vitamin B12 và các khoáng chất thiết yếu. Đây là thực phẩm tốt cho hệ miễn dịch, sức khỏe tổng thể. Có thể ăn sống hàu, nướng hoặc chế biến thành nhiều món ăn quen thuộc.
Hạt chia
Hạt chia là nguồn omega-3 thực vật (ALA) phổ biến, đồng thời giàu chất xơ, protein. Khi ngâm nước, hạt chia tạo thành dạng gel giúp hỗ trợ tiêu hóa. Để ăn hạt chia, bạn có thể thêm vào sữa chua, sinh tố hoặc các món tráng miệng.
Hạt lanh
Hạt lanh chứa hàm lượng ALA cao, rất phù hợp với người ăn chay. Tuy nhiên, lớp vỏ cứng khiến cơ thể khó hấp thu, vì vậy nên xay nhỏ trước khi sử dụng. Trộn vào cháo, sữa hoặc bánh để tận dụng lợi ích dinh dưỡng của hạt này.
Quả óc chó
Quả óc chó hạt giàu omega-3 và chất chống oxy hóa, đặc biệt tốt cho não bộ. Hình dáng giống não bộ của loại hạt này thường được liên tưởng đến lợi ích tăng cường trí nhớ. Hạt óc chó ăn trực tiếp hoặc kết hợp trong các món ăn nhẹ như salad, sữa chua đều bổ dưỡng.
Đậu nành
Đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ, sữa đậu nành cung cấp một lượng omega-3 nhất định. Đây còn là nguồn protein thực vật quan trọng, phù hợp với chế độ ăn lành mạnh. Đậu nành dễ chế biến và phổ biến trong bữa ăn hàng ngày.
EPA và DHA từ cá là dạng omega-3 cơ thể hấp thu tốt nhất, trong khi ALA từ thực vật cần chuyển hóa nên hiệu quả thấp hơn. Vì vậy, nên kết hợp cả nguồn động vật và thực vật để đảm bảo nhu cầu. Trong trường hợp không ăn cá, có thể cân nhắc bổ sung từ tảo biển - nguồn omega-3 thực vật chứa trực tiếp EPA và DHA.
Ông Bryan Johnson, chuyên gia về giải pháp chống lão hóa, mới đây chia sẻ giờ giấc ngủ thất thường có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tổng thể, trong đó có chức năng gan, theo tờ The Economic Times.
Dẫn lại các tài liệu nghiên cứu được công bố trên PubMed - cơ sở dữ liệu y khoa thuộc Thư viện Y học Quốc gia Mỹ, ông Johnson cho biết đảo lộn giờ giấc ngủ làm phá vỡ nhịp sinh học, từ đó khiến cơ thể dễ mắc nhiều bệnh lý khác nhau.
Trong một nghiên cứu quy mô lớn mà ông Johnson dẫn lại, các chuyên gia đã phân tích thói quen ngủ nghỉ của hơn 88.000 người trưởng thành.
Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng những thói quen như ngủ không đúng giờ, thức khuya và làm xáo trộn đồng hồ sinh học có thể làm tăng nguy cơ mắc tới 172 loại bệnh lý khác nhau.
Thậm chí, chỉ một thay đổi nhỏ trong sinh hoạt (như ngủ trễ hơn bình thường từ 60 - 90 phút) cũng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các chứng bệnh về gan, với tỷ lệ ước tính khoảng 1,5%.
Các nghiên cứu khoa học ngày càng củng cố thêm mối liên hệ mật thiết giữa giấc ngủ và sức khỏe của gan.
Theo nghiên cứu công bố trên Endocrine.org (cổng thông tin của Hiệp hội Nội tiết Mỹ), những người lười vận động và ngủ nghỉ thiếu điều độ thường có nguy cơ cao mắc bệnh gan nhiễm mỡ.
Hiện gan nhiễm mỡ là một dạng rối loạn gan mãn tính phổ biến, ảnh hưởng đến gần 1/4 người trưởng thành trên thế giới.
Bệnh gan nhiễm mỡ thường song hành cùng nhóm bệnh lý chuyển hóa gồm béo phì và tiểu đường loại 2.
Nếu không được can thiệp kịp thời, bệnh có thể tiến triển sang các giai đoạn tổn thương gan nghiêm trọng, kéo theo những hệ lụy sức khỏe phức tạp.
Ngày 7/4, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa Sản khoa tự nguyện Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho biết thai kỳ của người phụ nữ lớn tuổi nhiều nguy cơ do tiền sử mổ đẻ cũ, đái tháo đường thai kỳ phải uống insulin hằng ngày.
Đến tuần 37, sản phụ chuyển dạ, chỉ định mổ lấy thai. "Đây là ca mổ đầy nguy cơ, gây tê rất khó khăn", bác sĩ nói. May mắn hai bé chào đời đều khỏe mạnh, phản xạ tốt, sức khỏe sản phụ ổn định.
Bác sĩ cho biết mang thai ở tuổi trên 50, sức khỏe tổng thể và sức đề kháng của người mẹ kém hơn nên mệt mỏi nhiều hơn và dễ gặp các biến chứng như huyết áp cao, tiền sản giật, nhau tiền đạo, đái tháo đường thai kỳ, dọa đẻ non, đẻ non.
Ngoài ra, phụ nữ lớn tuổi thường có các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch... Những bệnh lý này có thể trở nên trầm trọng hơn trong thai kỳ, gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi.
Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ không nên mang thai khi tuổi cao, đặc biệt mang song thai càng nguy hiểm. Nếu thực hiện IVF thì nên chuyển một phôi, đồng thời phải theo dõi quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Tại Việt Nam, hầu hết phụ nữ mang thai ngoài 50 tuổi đều nhờ can thiệp hỗ trợ sinh sản. Trường hợp lớn tuổi nhất là sản phụ 61 tuổi, ở Hà Nội, mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm từ trứng của người hiến tặng và tinh trùng người chồng, bé gái chào đời năm 2018 nặng 2,6 kg. Một sản phụ khác, 60 tuổi, ở Bắc Giang, sinh con lần ba, cũng nhờ thụ tinh ống nghiệm. Một phụ nữ sinh con trai ở tuổi 58 sau khi mãn kinh được hai năm, phải xin noãn của người khác để thụ tinh trong ống nghiệm.