Có những cuộc hôn nhân không tan vỡ vì phản bội, không phải vì bạo lực, cũng không phải vì thiếu tiền, mà tan vỡ vì giống như hai đường thẳng song song, cùng tồn tại nhưng không bao giờ gặp nhau. Người phụ nữ trong cuộc hôn nhân ấy không thiếu trách nhiệm. Cô ấy đi làm, chăm con, lo từng việc nhỏ trong nhà., đưa đón con đi học, nấu nướng, dọn dẹp, kèm con học bài. Ngay cả khi không còn đi làm, cô ấy vẫn gánh phần việc mà nếu thuê ngoài, cũng phải trả bằng tiền.
Đã tám năm rồi, cô ấy học cách tự mạnh mẽ, tự xoay xở, tự chịu đựng. Cô ấy tự tạo niềm vui cho mình bằng những điều rất nhỏ: mua cho con gái quyển sách, mua cho bản thân bộ đồ mới, tặng mình một cây son, một chai nước hoa nhỏ… Lâu dần, cô ấy không còn biết dựa vào ai và cũng không còn biết mình cần ai nữa. Có một giai đoạn, người phụ nữ ấy ở nhà chăm con nhỏ, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Trong suốt quãng thời gian đó, cô ấy chưa từng được mua cho một bữa ăn ngon, chưa từng được chuyển cho 500 nghìn hay một triệu đồng vào tài khoản cùng một câu rất bình thường: “Em thích ăn gì thì mua”. Không phải vì gia đình thiếu tiền, mà vì nhu cầu của cô ấy không được xem là cần thiết.
Khi mẹ chồng vào phụ chăm cháu để cô ấy đi làm lại, thứ cô ấy nhận được không phải là sự cảm thông, mà là lời nhắc: “Liệu cơm gắp mắm”. Cô ấy bị mặc định là người tiêu xài hoang phí. Bữa cơm cho ba người lớn chỉ có: rau lang luộc, nước luộc làm canh và một con cá nục chiên. Trong ba người ấy, có một người phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ.
Chồng cô ấy là một người tử tế theo cách của riêng anh ta. Anh ta đi làm, kiếm tiền, chi trả tiền nhà, tiền ăn uống sinh hoạt, tiền học của con. Đi làm về, ăn cơm, rửa chén. Nhưng không chia sẻ, không đồng hành, không động viên, không khích lệ, không muốn đi đâu, không muốn thay đổi. Họ khác nhau không phải ở mức thu nhập mà ở cách nhìn về cuộc sống. Một người tin rằng: sống là để trải nghiệm, để học hỏi, để tiến lên, để cùng nhau tạo ký ức, để đi đâu đó khi còn có thể. Người kia tin rằng: sống là khép cửa thật chặt để không mất mát gì, kể cả những điều đáng ra phải có.
Với anh ta, chia sẻ không phải là một giá trị, mà là một khoản phải cân nhắc. Hưởng thụ chỉ được phép xảy ra khi đã dư dả tuyệt đối, còn không thì tốt nhất là giữ chặt mọi thứ trong tay. Vì vậy, không có những chuyến đi chung, không có những ngày lễ được nhớ, không có những món quà nhỏ như một cách yêu thương, chiều chuộng, không có những điều bé xíu để mong chờ. Ngay cả hộ chiếu hết hạn cũng không muốn làm lại, vì sợ… đi đâu đó cho tốn tiền.
Mẹ của người phụ nữ ấy mất. Trong những ngày đau buồn nhất đời mình, cô ấy không có bờ vai để tựa, không một cái ôm để khóc, không một câu nói đủ sức giữ cô ấy khỏi sụp xuống, không một câu: “Để anh lo”. Nỗi mất mát ấy, cô ấy một mình đi qua trong im lặng. Những chuyến tàu, chuyến bay về quê lo cúng thất cho mẹ, cô ấy tự chi trả. Anh ta thấy cô xoay xở được đến đâu thì để mặc đến đó. Cô ấy dùng tiền trợ cấp thất nghiệp để lo tang mẹ. Còn anh ta, vẫn đi làm, vẫn nhận lương đều đặn mỗi tháng, không có thái độ: “Mọi thứ để anh lo”; không có ý nghĩ: “Đây là lúc vợ mình cần được đỡ đần nhất”, chỉ có sự im lặng.
Khi cô về quê làm lễ cúng 21 ngày cho mẹ, trùng vào một ngày giỗ bên nhà chồng, cô nhắn mình không thể qua, anh ta không nói “để anh lo” hay “em cứ yên tâm lo cho mẹ”, mà bảo: “Gọi về nói khéo với ba mẹ anh một tiếng”. Cô lặng đi. Trong những ngày đau buồn nhất, khi cô còn chưa kịp gượng lại sau mất mát, điều anh ta nghĩ đến vẫn là sự tròn vẹn của lễ nghĩa bên nhà mình.
Cuộc hôn nhân ấy dần trở thành một nơi ở chung, chứ không còn là cùng nhau đồng hành. Người phụ nữ ấy nhận ra mình không buồn vì thiếu vật chất mà vì thiếu một người sống cùng mình. Sống lâu bên một người như vậy, cô ấy hiểu ra bản thân đang héo mòn. Anh ta đặt tiền lên trên trải nghiệm sống, không xem hạnh phúc gia đình là khoản cần đầu tư, không có khái niệm hưởng thụ cùng vợ con. Và điều đau nhất không phải là thiếu quà vì một cây son không đắt, một lần chuyển tiền không làm anh ta nghèo đi, mà một câu: “Em vất vả rồi” không tốn tiền. Ngay cả sinh nhật của cô cũng không một món quà. Không một thỏi son, một hũ kem, không một bó hoa hay chỉ là một cành hoa. Những thứ đó không đắt nhưng đủ để một người phụ nữ biết mình được nghĩ tới.
Ngay cả việc dạy con tự tay chọn món quà nhỏ cho mẹ, anh ta cũng chưa từng làm. Không phải anh ta không có tiền, mà vì trong thế giới của anh ta, những điều đó chưa bao giờ là cần thiết. Cô ấy từng không hiểu mình thua kém những người phụ nữ khác ở đâu nhưng rồi nhận ra bản thân không thua kém ai, chỉ là đặt trái tim nhầm chỗ. Điều đau nhất là anh ta không hề thấy cô ấy đang thiệt thòi. Khi một người có tiền, có khả năng nhưng chọn không cho đi thì đó không phải là hoàn cảnh, mà là giá trị sống. Ly hôn trong trường hợp đó chỉ dừng lại trước khi bản thân cạn kiệt hoàn toàn, không ai sai, chỉ là hai người không cùng một hướng sống. Và đôi khi, yêu thương bản thân chính là dám bước ra khỏi cuộc hôn nhân khi nó không còn là “nhà” nữa.
Cô ấy chưa bao giờ ghét cái nghèo. Từ nhỏ đến lớn, cô ấy được ba mẹ nuôi nấng, yêu thương, không dư dả nhưng cũng chưa từng thiếu thốn và càng không bị dạy phải sống trong nỗi sợ mất mát. Nhưng kể từ ngày chung sống với anh ta, cô ấy bắt đầu sợ rồi ghét cái nghèo. Không chỉ là nghèo về vật chất, mà nghèo trong tư duy, nhận thức, trong khả năng mở lòng và cho đi. Một kiểu nghèo khiến người ta luôn thu mình lại, co rút trước mọi trải nghiệm, tính toán cả với những điều đáng ra không nên cân đo. Nghèo tiền có thể cùng nhau vượt qua nhưng nghèo tư duy là thứ âm thầm rút cạn một người cho đến khi họ không còn là chính mình nữa.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Lào Cai, gia đình nghèo. Tôi đang nỗ lực từng ngày để đỗ vào một trường đại học ngành báo chí ở Hà Nội, giấc mơ ấp ủ suốt ba năm qua. Nhân dịp sinh nhật 18 tuổi, tôi viết những dòng này, mong nhận được sự động viên để có thêm sức mạnh vượt qua thử thách. Tôi viết đi viết lại đoạn mở đầu ấy nhiều lần. Bởi mỗi chữ đều là một lát cắt của đời mình.
Hôm nay 14/4, tôi tròn 18 tuổi. Buổi sáng ở quê tôi vẫn như bao ngày: sương mù phủ kín những ngọn đồi, gió lùa qua mái tôn cũ kêu lạch cạch. Tôi dậy sớm nhóm bếp, nấu cơm cùng bà ngoại, không có bánh sinh nhật, không có quà, chỉ có bát cơm trắng và đĩa rau luộc hái từ vườn sau nhà. Tôi mồ côi mẹ từ năm ba tuổi. Mẹ mất vì bệnh hiểm nghèo. Người ta nói trẻ con không nhớ nhiều nhưng tôi nhớ cảm giác trống rỗng mỗi khi thấy bạn bè được mẹ đón về. Những buổi họp phụ huynh, tôi chỉ có ba. Có lần tôi hỏi: "Mẹ con đâu hả bà". Bà quay mặt đi, lau nước mắt rồi bảo mẹ đã lên trời. Từ đó, mỗi khi nhìn lên bầu trời đêm, tôi hay tự hỏi mẹ có nhìn thấy mình không.
Ông ngoại mất khi tôi mới một tuổi. Bà ngoại một mình chịu đựng nỗi đau mất chồng, rồi sau đó mất con gái. Ba tôi trở thành trụ cột duy nhất. Ông làm nông, quanh năm gắn với ruộng lúa và nương ngô, mùa nắng hạn thì mất mùa, mùa mưa lại lo sạt lở; thu nhập bấp bênh, có tháng chỉ đủ tiền gạo và tiền điện. Chỗ tôi ở là nhà cấp bốn cũ kỹ, mùa mưa nước dột từng giọt xuống nền đất. Tôi phải đặt chậu hứng nước để khỏi ướt sách vở. Không có bàn học, tôi ngồi trên chiếc ghế thấp, kê vở lên mặt giường để viết. Đêm mùa đông ở Lào Cai lạnh buốt, tay tôi nứt nẻ, rớm máu vì rét. Tôi vẫn học vì biết chỉ có học mới giúp tôi thoát khỏi cái nghèo. Ba luôn nói: "Con phải học cho giỏi, sau này đỡ khổ như ba".
Ông chọn cho tôi một trường tiểu học gần nhà để đỡ tốn tiền đi lại. Trường nhỏ, lớp học cũ, tường loang lổ, không có phòng máy tính, không có thư viện lớn, bữa trưa chỉ cơm trắng với chút thức ăn đơn giản. Thế nhưng tôi chưa từng than phiền vì biết ba đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi mới có tiền mua cho tôi bộ đồng phục. Chiếc xe đạp tôi đi học là xe cũ, sơn đã bong tróc. Mỗi sáng, ba dắt xe ra cổng cho tôi. Có hôm trời mưa to, ba mặc áo mưa rách, đội nón lá đứng nhìn tôi đi cho đến khi khuất bóng. Hình ảnh ấy in sâu trong trí nhớ tôi. Lên cấp hai, tôi học trường xa hơn. Con đường đến trường nhiều dốc cao, mùa mưa bùn đất bám đầy bánh xe. Có lần tôi trượt ngã, vở rơi xuống bùn. Tôi nhặt lên, lau sơ rồi tiếp tục đi. Tôi sợ nghỉ học một buổi sẽ không theo kịp bài.
Tháng 9 năm 2024, cơn bão Yagi ập đến, trận lũ lụt lịch sử khiến cả vùng quê tôi chìm trong nước, ruộng vườn ngập trắng, nhà cửa đổ nát. Trong dòng nước cuồn cuộn ấy, ba tôi không trở về. Ngày nhận tin, tôi như sụp đổ, lao ra bờ sông, gào khóc gọi tên ba. Tôi không tin đó là sự thật. Người đàn ông luôn dậy sớm nấu cơm cho tôi trước khi ra đồng, người từng hứa sẽ dự lễ tốt nghiệp cấp ba của tôi đã rời đi mãi mãi. Đám tang ba diễn ra trong căn nhà lạnh lẽo. Bà ngoại ngồi lặng, đôi mắt đỏ hoe. Tôi ngồi bên quan tài, nắm chặt tay ba lần cuối. Bàn tay từng dắt tôi qua bao mùa mưa nắng giờ lạnh ngắt.
Từ đó, tôi sống cùng bà ngoại. Hai bà cháu nương tựa vào nhau. Bà đã già, lưng còng, sức khỏe yếu nhưng vẫn dậy từ tinh mơ nấu cơm, trồng rau, nuôi gà. Có hôm bà ho suốt đêm, tôi nằm nghe mà nước mắt lăn dài. Có những tháng, tiền trong nhà chỉ còn vài chục nghìn đồng, tôi phải tiết kiệm từng cuốn vở, từng cây bút, không dám xin thêm tiền mua sách tham khảo. Nhiều khi nhìn bạn bè có điện thoại mới, có quần áo đẹp, tôi cũng chạnh lòng. Rồi tôi tự nhủ mình còn được đi học đã là may mắn.
Đầu năm lớp 11, sau khi ba mất, tôi từng nghĩ đến việc nghỉ học để đi làm phụ bà. Bà nắm tay tôi nói: "Con mà bỏ học, ba con dưới suối vàng không yên lòng", câu nói ấy khiến tôi bật khóc. Tôi quyết định tiếp tục học. Tôi học như thể mỗi trang sách là một nhịp thở của ba. Tôi ấp ủ ước mơ thi vào đại học ngành báo chí ở Hà Nội. Tôi muốn kể câu chuyện của những người như gia đình tôi, những người âm thầm chịu đựng mất mát sau thiên tai.
Sinh nhật 18 tuổi của tôi không có nến. Buổi tối, bà chỉ xoa đầu tôi và nói: "Cháu lớn rồi", tôi quay mặt đi để bà không thấy mình khóc. Tôi nhớ ba, ước giá như ba còn sống, có lẽ ông sẽ mua cho tôi một chiếc bánh nhỏ và nói: "Con gái ba trưởng thành rồi". Tôi cũng hiểu, dù không còn ba mẹ bên cạnh, mình vẫn phải sống tiếp. Tôi không muốn nghịch cảnh là cái cớ để mình gục ngã. Tôi muốn nó trở thành động lực. Nếu một ngày tôi đỗ đại học, sẽ mang theo câu chuyện của mình đến Hà Nội. Tôi sẽ học thật tốt, làm thêm để tự nuôi bản thân.
Tôi sẽ viết về lũ lụt, mất mát, nghị lực của những con người nhỏ bé. Tuổi 18 của tôi bắt đầu bằng nước mắt nhưng không kết thúc bằng tuyệt vọng. Tôi tin rằng, dù cuộc đời đã lấy đi của mình rất nhiều, nó vẫn để lại cho tôi một điều quý giá: cơ hội được mơ ước. Tôi không để giấc mơ ấy tắt đi.
Tôi 35 tuổi, vợ 32 tuổi, cưới được gần bảy năm, đã có với nhau hai con đủ nếp đủ tẻ. Con trai đầu học lớp hai, bé gái út 4 tuổi. Chúng tôi đã có nhà và xe đầy đủ. Tôi là người sống hướng nội, ăn nói không được khéo, không lãng mạng nhưng tôi chưa bao giờ phản bộ vợ. Tôi yêu vợ và gia đình của mình. Vợ tôi hiền lành, ít nói. Ai nhìn vào bề ngoài cũng nghĩ gia đình tôi viên mãn hạnh phúc. Trên thực tế, chúng tôi không có vấn đề gì quá nghiêm trọng, cuộc sống gia đình vẫn êm đẹp. Nhưng tôi có một chuyện khá khó nói, cũng chẳng biết tâm sự với ai. Độc giả nào cùng hoàn cảnh với tôi, hãy chia sẻ cùng nhau nhé.
Chuyện là chúng tôi kết hôn được bảy năm nhưng số lần vợ chủ động trong chuyện đó, tôi đếm được trên đầu ngón tay. Lần nào tôi cũng phải chủ động. Tôi có cảm giác mỗi lần mình muốn đều như phải đi xin vợ vậy. Nhiều lúc nghĩ tôi thực sự chán nản. Xin tâm sự thẳng là công việc của vợ làm văn phòng 8 tiếng, công việc cũng nhàn rỗi, mọi việc trong nhà tôi làm phụ vợ rất nhiều: từ việc đưa đón con đi học, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, tôi làm nhiều hơn vợ. Mọi người đánh giá tôi có ngoại hình ổn, hay chơi thể thao. Trong chuyện đó, tôi cũng ổn. Mỗi lần vợ chồng gần gũi, tôi đều chủ động để vợ lên đỉnh trước. Nhiều lúc tôi nghĩ không biết mình có làm gì sai hay vợ mình có vấn đề gì không? Mong mọi người cho tôi lời khuyên, tôi nên làm gì?
Tôi sinh ra và lớn lên trong gia đình cùng khổ, có người bố hiền nhưng vô tâm và rượu chè, cả đời không phải lo cho ai bất cứ điều gì. Bố cũng phải gánh chịu cảnh sống khó khăn với cơ thể không lành lặn, do sở thích cá nhân dẫn đến tai nạn cho đến lúc qua đời. Mẹ là người phụ nữ thông minh, xinh đẹp, không học thức nhưng có tầm nhìn về tương lai và luôn cố gắng lo cho con ở mức có thể. Tuổi thơ của anh chị em tôi lớn lên với tình trạng thường xuyên áo không lành, cơm không đủ no vì mẹ luôn phải lao động, xoay xở lo từng bữa ăn cho cả gia đình đông người, mọi chi phí sinh hoạt và tiền học cho các con.
Rồi thời gian thấm thoát trôi qua, chúng tôi lớn lên được học hành tử tế và có công việc ổn định. Tôi luôn biết trân trọng từng khoảnh khắc tình cảm bên gia đình, công ơn sinh thành của cha và sự tảo tần, định hướng tương lai của mẹ dành cho anh chị em tôi. Có lẽ từng trải qua cuộc sống khốn khó nên khi trưởng thành, có nguồn thu nhập dồi dào, tôi luôn quan tâm, chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần cho những người thân yêu, người xung quanh mình.
Hơn nửa đời người tôi chợt nhận ra thực tế đến xé lòng, tình thân hay tình cảm gia đình không phải mình muốn và vun đắp là sẽ đong đầy yêu thương, bền vững. Lúc khốn khó thì mọi người lại gần gũi, thương yêu, quý mến, đỡ đần nhau... tình cảm đó thật trân quý biết bao. Đến lúc có điều kiện hơn, khấm khá hơn, con người ta lại ganh đua, đố kỵ, soi mói với cả sự thành công của người thân từng giúp đỡ, dìu dắt mình. Tôi luôn trăn trở vì sự kết nối không thành công của chính mình, với mong muốn gia đình luôn hòa hợp, gắn bó như từng có. Sự nghèo giàu, gần gũi xa cách, phải chăng không thể nào đồng hành? Vì sao thế?