Chiều 21-4, báo Tuổi Trẻ, Liên minh Tái chế bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam TP.HCM công bố các nội dung chính của dự án Việt Nam Xanh 2026. Hội thảo “Chuyển đổi năng lượng xanh – Động lực tăng trưởng bền vững” là hoạt động đầu tiên của dự án năm nay.
Phát biểu tại hội thảo, TS Đào Duy Anh, Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết theo lộ trình xăng khoáng RON92 sẽ không còn được lưu hành. Thay vào đó, loại xăng này sẽ được phối trộn với 10% ethanol để trở thành xăng E10.
Thay đổi này sẽ mang lại nhiều lợi ích rõ rệt, bởi theo các nghiên cứu chuyên sâu, mỗi lít xăng khi đốt cháy sẽ phát thải khoảng 2,5kg CO₂. Với tổng nhu cầu tiêu thụ xăng trong lĩnh vực giao thông khoảng 12 triệu m³/năm, nếu giảm được 1 triệu m³ xăng khoáng, lượng phát thải có thể giảm tới 2,5 triệu tấn CO₂.
Việc sử dụng xăng sinh học đã trở thành xu hướng phổ biến tại nhiều quốc gia. Cụ thể tại Mỹ, các loại nhiên liệu từ E10 đến E85 được sử dụng rộng rãi. Trong khi tại Brazil phổ biến với E30, nhiều quốc gia ở khu vực châu Âu chủ yếu sử dụng E10.
Tại khu vực Đông Nam Á, Philippines đang sử dụng E15 và dự kiến nâng lên E20 trong năm 2026. Thái Lan cũng đặt mục tiêu tương tự.
Đặc biệt, áp lực chuyển đổi xăng sinh học còn đến từ bài toán an ninh năng lượng. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% nhu cầu xăng dầu, trong khi nguồn cung trong nước phụ thuộc một phần vào dầu thô nhập khẩu. Vì thế chuyển dịch năng lượng không phải là xu hướng mang tính phong trào, mà là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế.
Ông Hà Quang Anh, quyền Giám đốc Trung tâm Thích ứng biến đổi khí hậu và trung hòa các-bon (Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng phát triển bền vững phải dựa trên ba trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường. Chuyển đổi xanh, mà đặc biệt là sử dụng xăng E10, được xem là một giải pháp góp phần giảm phát thải trong lĩnh vực giao thông.
Để xăng E10 được chấp nhận rộng rãi, ông Quang Anh nhấn mạnh việc cần bảo đảm ba yếu tố là chất lượng, giá cả và tính phù hợp. Đồng thời cần có chính sách khuyến khích phù hợp và sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng để sản phẩm có thể đi vào cuộc sống.
Ông Trần Đình Cường, Tổng giám đốc Công ty CP Phát triển sản xuất AgriS (công ty thành viên thuộc Tập đoàn AgriS), cho biết sản xuất xanh đã trở thành chiến lược cốt lõi của doanh nghiệp. Thay vì xem bã mía, mật rỉ hay bã bùn là chất thải, AgriS coi đây là nguyên liệu cho một chu trình sản xuất mới.
Tại các nhà máy, bã mía được sử dụng làm sinh khối để phát điện. Toàn bộ hệ thống của doanh nghiệp đã tự chủ điện cho sản xuất, phần dư được hòa lưới quốc gia như một mô hình kinh tế tuần hoàn đã vận hành ổn định nhiều năm.
Tuy nhiên, theo ông Cường, “nút thắt” lớn nhất nằm ở hiệu quả kinh tế. Giá mua điện sinh khối hiện chỉ khoảng 1.850 đồng/kWh, chưa đủ hấp dẫn để doanh nghiệp mở rộng sản xuất hoặc thu mua thêm phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu… để phát điện quy mô lớn.
Bên cạnh đó, tính mùa vụ của ngành mía đường khiến hệ thống lò hơi, tuốc bin chỉ hoạt động khoảng 4 tháng mỗi năm, gây lãng phí hạ tầng. Do vậy doanh nghiệp kiến nghị cần điều chỉnh cơ chế giá điện sinh khối theo hướng hợp lý hơn.
Ông Nguyễn Ngọc Thành – Giám đốc marketing Công ty CP Sản xuất Nhựa Duy Tân, đại diện Tập đoàn SCG – cho biết tại các nhà máy ở Bình Dương và Long An, doanh nghiệp này đã triển khai hệ thống điện mặt trời mái nhà, từng bước thay thế nguồn điện truyền thống. Việc ứng dụng công nghệ vào quản lý sản xuất giúp kiểm soát chặt quy trình, giảm sản phẩm lỗi và hạn chế sản xuất lặp lại; góp phần giảm tiêu hao năng lượng, nguyên liệu và kéo theo giảm phát thải carbon.
Theo ông Thành, điểm đáng giá của quá trình này không chỉ nằm ở tiết kiệm chi phí mà còn ở dữ liệu. Các chỉ số về tiêu thụ năng lượng và phát thải được đo lường, lưu trữ và trở thành “hồ sơ năng lực” để doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế – yếu tố ngày càng mang tính bắt buộc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đáng chú ý, các tiêu chuẩn môi trường (ESG) đang trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, buộc doanh nghiệp phải thay đổi nếu không muốn bị loại khỏi thị trường. Tuy vậy, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt nhiều thách thức. Công nghệ mới như hydrogen còn chi phí cao, trong khi cơ chế chính sách chưa theo kịp thực tiễn.
Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia - những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao - lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc "chọn dễ".
Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) - cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
"Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng", một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là "nhu cầu thực", giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
"Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất", vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
"Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính "theo đơn hàng", phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA", vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. "Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường "dễ tính", với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao", một chuyên gia khuyến cáo.
Ngân hàng Hàng hải Việt Nam (HoSE: MSB) mới đây cho biết sẽ tiến hành thu giữ tài sản thế chấp của Công ty cổ phần Hàng không Tre Việt - đơn vị vận hành Bamboo Airways, do doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Theo thông báo, việc thu giữ dự kiến được thực hiện sau ngày 10-5-2026 tại nơi có các tài sản bảo đảm. Danh mục tài sản bị xử lý có quy mô lớn, gồm hàng trăm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, chủ yếu đứng tên các pháp nhân liên quan FLC Group.
Cụ thể, ngân hàng dự kiến thu giữ 207 bất động sản tại khu biệt thự thuộc khu phức hợp Đak Đoa, Gia Lai; 169 tài sản tại phân khu số 6, khu đô thị du lịch sinh thái Nhơn Hội, Quy Nhơn, Bình Định; 10 tài sản tại khu đô thị du lịch sinh thái FLC Sầm Sơn, Thanh Hóa và một tài sản tại TP Pleiku, Gia Lai.
MSB cho biết việc thu giữ nhằm xử lý và thu hồi nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp đã ký, đồng thời thực hiện theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân là bên vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Trước đó, Sacombank cũng đã triển khai các biện pháp tương tự đối với khoản vay cấp cho Bamboo Airways. Theo ngân hàng này, khoản tín dụng được bảo đảm bằng tài sản thế chấp của FLC Group, trong khi bên vay là Bamboo Airways.
Sacombank cho biết đã gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ ngày 20-3-2026 và đề nghị các bên liên quan tự nguyện bàn giao tài sản trước ngày 27-3-2026.
Tuy nhiên, đến thời hạn, các bên không thực hiện, buộc ngân hàng phải tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm.
Danh mục tài sản bị thu giữ gồm 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích hơn 86.000 m2 tại Đak Đoa, Gia Lai, trong đó phần lớn là đất ở nông thôn. Các giấy chứng nhận này được cấp cho FLC vào năm 2021, với thời hạn sử dụng đến năm 2071.
Theo kế hoạch, việc thu giữ của Sacombank diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày 22-4 đến 22-6-2026.
Diễn biến này xảy ra trong bối cảnh FLC Group đã tiếp nhận lại quyền điều hành Bamboo Airways từ tháng 9-2025, sau khi nhóm nhà đầu tư mới rút lui với lý do không đủ năng lực tài chính và quản trị để tiếp tục vận hành hãng.
Đây là năm thứ 10 Hòa Phát tham gia lĩnh vực nông nghiệp. Với mức doanh thu năm 2025 đạt 8.326 tỉ đồng, tăng 18% so với năm 2024, hoàn thành 104% kế hoạch, HPA ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 1.600 tỉ đồng, tăng 55% so với cùng kỳ, vượt 22% kế hoạch. ROE đạt 34%, ROA đạt 50%, cao nhất lịch sử.
Theo bà Phạm Thị Hồng Vân - Tổng giám đốc HPA, năm 2025 ngành chăn nuôi đối mặt dịch bệnh và thiên tai dồn dập. Nhưng HPA vẫn duy trì sản xuất ổn định và mở rộng đầu tư. Mấu chốt là doanh nghiệp giữ được quy mô đàn khi cả ngành bị dịch.
Theo đó quý 1-2026, HPA ghi nhận doanh thu hơn 1.813 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế 345 tỉ đồng. Chỉ sau một quý, HPA đã hoàn thành 34,3% kế hoạch lợi nhuận và 25,2% kế hoạch doanh thu cả năm 2026. Chi cổ tức tiền mặt 56,4% cho năm 2025 và thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026.
Bà Vân cho hay với mô hình khép kín từ con giống, thức ăn chăn nuôi đến trang trại nên đã kiểm soát khoảng 70% chi phí đầu vào toàn chuỗi.
Trong đó chăn nuôi heo đóng góp 41% doanh thu và 67% lợi nhuận sau thuế, với ROE riêng mảng này đạt 83%, cao nhất trong tập đoàn.
Mảng gia cầm cũng đạt lợi nhuận tăng 59 lần nhờ giá trứng phục hồi, trong khi bò Úc ghi nhận doanh thu tăng 52% so với năm trước.
Về thức ăn chăn nuôi, HPA sản xuất 357.000 tấn trong năm qua, trong đó khoảng 50% cung cấp nội bộ cho hệ thống trang trại, 50% bán ra thị trường qua hơn 600 nhà phân phối.
Tại đại hội cũng thông qua phương án chi trả cổ tức năm 2025 với tổng tỉ lệ 56,4%, toàn bộ bằng tiền mặt. Trong năm 2025, nông nghiệp Hòa Phát đã chi trả 35,464%, tương ứng gần 947 tỉ đồng. Phần còn lại với tỉ lệ 21%, tương ứng 598,5 tỉ đồng.
Với năm 2026, hội đồng quản trị đề xuất tỉ lệ cổ tức dự kiến 30% bằng tiền mặt, căn cứ trên kế hoạch lợi nhuận sau thuế 1.005 tỉ đồng và vốn điều lệ 2.850 tỉ đồng. Nông nghiệp Hòa Phát dự kiến duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt đến năm 2030.
Kế hoạch kinh doanh năm 2026 được thông qua với doanh thu 7.200 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế 1.005 tỉ đồng. Theo bà Phạm Thị Hồng Vân, kế hoạch được xây dựng thận trọng trước nhiều biến số khó lường trong năm, song năm 2026 cũng có một số lợi thế cho HPA khi có sẵn nền tảng về quản trị, hạ tầng, tài chính.
Với giai đoạn 2026 đến 2030, HPA đặt mục tiêu nâng tổng đàn nái lên trên 30.000 con, đạt sản lượng 900.000 heo thương phẩm mỗi năm với vốn đầu tư khoảng 1.000 tỉ đồng. Nhà máy thức ăn chăn nuôi thứ ba công suất 300.000 tấn/năm dự kiến khởi công năm 2029 với vốn đầu tư khoảng 500 tỉ đồng, nâng tổng công suất toàn hệ thống lên 1 triệu tấn/năm.
Đàn bò Úc hướng tới quy mô 73.000 con. Đến năm 2030, HPA đặt mục tiêu doanh thu trên 12.000 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế khoảng 1.750 tỉ đồng và ROE duy trì trên 20%.