Tiếng loa từ xe trật tự phường vang lên, hàng chục người bán hàng hai bên đường tàu Cổ Nhuế (phường Đông Ngạc, Hà Nội) thu dọn đồ đạc. Người bán rong ôm mẹt hàng chạy vào ngõ nhỏ, người có sạp cố định cụp ô, kéo bàn lùi vào trong vạch sơn. Khi xe tuần tra đi qua vài phút, hàng hóa bày trở lại sát mép đường.
Những “vòng lặp đuổi – chạy”, tái lấn chiếm đang diễn ra tại nhiều điểm trong danh sách 231 chợ tự phát (chợ cóc) mà Hà Nội lên kế hoạch xóa bỏ.
Theo kế hoạch 373 của Hà Nội, 75 điểm phải giải tỏa trong giai đoạn một (trước 31/1) và 118 điểm trong giai đoạn hai (trước 30/6), số còn lại hoàn tất vào năm 2027. Trong 170 điểm đã thống kê, có khoảng 7.200 hộ kinh doanh; 61 điểm còn lại ước tính liên quan sinh kế gần 3.000 hộ.
Sau các đợt ra quân, lượng người bán tại một số chợ cóc như Ngọc Hà, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Từ Liêm, Tây Tựu, Hà Đông, Kiến Hưng giảm rõ rệt. Một số tiểu thương trụ lại khu vực này đã chuyển sang thuê cửa hàng, tình trạng lấn chiếm vỉa hè giảm.
Tại đường Trần Quốc Vượng, phường Cầu Giấy, điểm nằm trong diện giải tỏa đợt 1 với khoảng 70 hộ kinh doanh, hiện còn gần một nửa. Bà Vân, 58 tuổi, bày vài nải chuối cạnh cột điện, phần lớn hàng giấu trong ngõ. “Tôi bán hàng nhà trồng, lúc bán lúc nghỉ nên không muốn vào chợ thuê sạp”, bà nói.
Ở chiều ngược lại, một số điểm vẫn tái diễn khi vắng lực lượng tuần tra. Quanh chợ Văn La (phường Kiến Hưng) hôm 3/4, vỉa hè, lòng đường vẫn có vài chục tiểu thương bán rau quả. Tại ngõ 199 Hồ Tùng Mậu (phường Phú Diễn), khoảng 20 hàng quán vẫn bày bán dưới lòng đường.
Việc bị tịch thu hàng hóa không làm nhiều người bỏ cuộc. Trưa 7/4, bà Lê Thị Hồng, 60 tuổi, dọn hàng ra ngõ 189 Hoàng Hoa Thám dù trước đó một giờ vừa bị tịch thu mẹt hoa quả. “Tuổi cao, tôi đi chợ mong kiếm tiền trang trải qua ngày”, bà kể.
Những đợt ra quân liên tục buộc một bộ phận tiểu thương rút khỏi vỉa hè, tìm thuê mặt bằng. Nhưng theo họ, việc lùi vào trong đồng nghĩa với giảm doanh thu và gánh thêm chi phí. Tháng 3, chị Thanh Thủy, 43 tuổi, và bà Nguyễn Giàng, 59 tuổi, chung tiền thuê mặt bằng giá hai triệu đồng mỗi tháng tại ngõ 189 Hoàng Hoa Thám. Từ khi “vào nhà”, sạp thịt lợn của chị Thủy giảm doanh số từ 30 kg xuống 20 kg một ngày do khách ngại dừng xe.
Quầy rau của bà Giàng cũng vắng khách. Ngày đắt hàng bà lãi 200.000-300.000 đồng, nay phải trích doanh thu trả tiền thuê chỗ. “Đỡ nỗi lo bị đuổi nhưng lùi vào nhà ế ẩm quá”, bà Giàng nói.
Để thực hiện Kế hoạch 373, nhiều địa phương áp dụng lộ trình ba bước: tuyên truyền, ra quân xử lý cao điểm và duy trì chốt trực. Tuy nhiên, cơ quan chức năng thừa nhận việc dẹp chợ cóc đang rơi vào “vòng lặp đuổi – chạy”.
Trung tá Đỗ Quốc Minh, Phó trưởng Công an phường Ngọc Hà, cho biết việc dẹp chợ cóc khó khăn do hình thức này không tốn phí mặt bằng, vòng quay vốn nhanh. Người bán thường tái lấn chiếm ngay khi vắng bóng lực lượng chốt trực.
Trung tá Lê Xuân Thọ, Phó trưởng Công an xã Gia Lâm, cho biết lỗi không chỉ ở người bán. Thói quen tiện lợi, tấp xe lề đường mua hàng của người dân đã dung dưỡng chợ cóc. Hệ quả là nhiều tiểu thương dù có sạp trong chợ nhưng ế ẩm, đành tràn ra đường đón khách.
Để giải quyết sinh kế, phường Ngọc Hà đưa khoảng 10 hộ khó khăn vào kinh doanh tại chợ Cống Vị. Xã Gia Lâm đã xử lý dứt điểm các chợ dưới 50 hộ, còn những điểm lớn như chợ Sủi (300 hộ), chợ DX8 (hơn 100 hộ) phải giãn tiến độ để tránh xáo trộn sinh kế. Chính quyền xã cũng hỗ trợ hàng trăm hộ từ chợ tạm DX8 chuyển vào chợ mới Kim Âu.
Tại phường Khương Đình, chính quyền bố trí 100 chỗ ngồi trong chợ chính cho tiểu thương điểm tự phát 129 Nguyễn Trãi với phí 8.000-10.000 đồng một ngày. Tuy nhiên, theo ông Phạm Thanh Nam, Phó giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư – hạ tầng phường Khương Đình, số lượng đăng ký chuyển vào rất ít.
Bài toán dẹp chợ tại đây thời gian tới còn nan giải bởi ngoài điểm 129 Nguyễn Trãi, điểm nóng ngõ 66 Kim Giang với khoảng 200 hộ cũng buộc phải giải tỏa trước cuối năm.
“Ra quân dẹp đường thì nhanh, nhưng xóa bỏ buôn bán vỉa hè là bài toán dài hơi, đòi hỏi giải quyết đồng thời sinh kế người bán lẫn thói quen người mua”, ông Thọ nói.
Hòn đảo có biệt danh "nơi có mật độ dân số đông nhất thế giới". Các túp lều bám vào vách đá, tạo thành mạng lưới hẻm nhỏ vừa đủ hai người lách qua. Từng tấc đất đều được tận dụng để dựng nhà ở hoặc cơ sở kinh doanh.
Người dân tập trung tại hòn đảo này vì nguồn lợi thủy sản. Vùng nước sâu bao quanh Migingo có lượng lớn cá rô sông Nile. Việc sống tại đảo giúp ngư dân tiết kiệm nhiên liệu và tiếp cận người mua. Mỗi sáng, hơn 100 chiếc thuyền cập bến để giao hàng. Theo Islands, tại các thị trường quốc tế, phile cá rô sông Nile có giá xuất khẩu lên tới 300 USD cho khoảng 0,9 kg.
Migingo vận hành như một thành phố thu nhỏ với nhà hàng, quán bar, hiệu thuốc, thẩm mỹ viện và sòng bạc ngoài trời. Về y tế, hòn đảo có một phòng khám xử lý vết thương nhẹ hoặc xét nghiệm sốt rét, do một y tá phụ trách. Các ca bệnh nặng sẽ được chuyển vào đất liền Kenya. Tuy nhiên, điều kiện vệ sinh tại đây không đảm bảo khi người dân xả rác và nước thải xuống hồ.
Cư dân Migingo đến từ Kenya, Uganda và Tanzania, trong đó người Kenya chiếm khoảng 80%, ngôn ngữ chính là tiếng Swahili.
Daniel Obadha, thợ điện người Kenya, cho biết anh chọn Migingo vì lượng khách lớn từ vùng biên giới giúp kinh doanh thuận lợi, thu nhập cao hơn đất liền. Ngư dân Uganda Eddison Ouma kể anh bám trụ tại đây để đánh cá vì không có lựa chọn nghề nghiệp khác, mỗi năm chỉ về thăm gia đình hai lần.
Theo báo cáo của nền tảng Amusing Planet vào mùa cao điểm một đội ngư dân có thể kiếm tới 300 USD một ngày từ đánh bắt cá rô sông Nile. Những ngư dân cá nhân hoặc hộ gia đình nhỏ cũng có thể được 30-35 USD mỗi ngày, bằng thu nhập trung bình một tháng (thậm chí 2-3 tháng) của nhiều lao động tại các vùng nông thôn đất liền Kenya hay Uganda.
Lịch sử của Migingo gắn liền với những tranh chấp. Trước thập niên 1990, mỏm đá này chìm dưới nước hồ Victoria. Khi nước rút năm 1991, hai ngư dân Kenya tuyên bố quyền sở hữu, nhưng phía Uganda khẳng định công dân của họ định cư đầu tiên. Năm 2016, hai quốc gia lập ủy ban chung để xác định biên giới nhưng không đạt kết quả.
Hiện Kenya và Uganda cùng quản lý hòn đảo. Trên diện tích 2.000 m2, cảnh sát hai nước đều đóng quân. Người dân thường xuyên gặp hai lực lượng cảnh sát cùng đi tuần. Đôi khi họ chĩa súng vào nhau nhưng vào những ngày yên bình, lực lượng an ninh của hai bên và ngư dân lại cùng nhau uống bia, giải trí ở các quán bar.
Bên cạnh tranh chấp chủ quyền, ngư dân trên đảo Migingo còn phải đối phó với hải tặc cướp cá, động cơ thuyền và tình trạng đánh bắt quá mức.
Con số này không chỉ cho thấy mức độ phổ cập của công nghệ mà còn phản ánh một thực tế: không gian mạng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của trẻ.
Theo đó, vấn đề vì thế không còn là "có nên cho trẻ dùng Internet hay không", mà là làm sao để trẻ an toàn trong một môi trường vừa rộng mở, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Không gian số mang đến cơ hội học tập, kết nối, phát triển kỹ năng. Nhưng đi kèm với đó là những nguy cơ ngày càng tinh vi như bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nội dung độc hại, nghiện game, lệ thuộc mạng xã hội…
Như cảnh báo từ UNICEF, công nghệ có thể "ảo", nhưng những tổn thương mà trẻ em phải gánh chịu là hoàn toàn có thật . Một lời xúc phạm trên mạng có thể lặp lại vô hạn. Một hình ảnh bị phát tán có thể không bao giờ biến mất. Một cuộc trò chuyện tưởng chừng vô hại có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành vi thao túng.
Điều đáng lo hơn là trẻ em bước vào thế giới đó khi chưa có đủ khả năng tự bảo vệ. Các em tò mò, dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè và môi trường xung quanh.
Trong khi đó, chính thiết kế của các nền tảng lại hướng đến việc giữ chân người dùng càng lâu càng tốt, liên tục đề xuất nội dung, tạo vòng lặp tương tác.
Với người lớn, điều này đã khó kiểm soát; với trẻ em, đó là một "cái bẫy" tinh vi. Việc sử dụng Internet quá mức có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung, hành vi, cảm xúc, thậm chí cả sự phát triển não bộ và kỹ năng xã hội.
Trước thực tế đó, nhiều ý kiến đề xuất cần hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội sớm. Đây là phản ứng dễ hiểu khi phụ huynh chứng kiến những rủi ro ngày càng rõ ràng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, lệnh cấm không phải là lời giải trọn vẹn.
Trẻ em có thể tìm cách vượt rào, sử dụng tài khoản của người lớn, chuyển sang các nền tảng khác ít kiểm soát hơn. Khi đó, rủi ro không biến mất, mà chỉ chuyển sang những "vùng tối" khó nhận diện và khó can thiệp hơn.
Như nhiều chuyên gia nhận định, vấn đề không nằm ở việc trẻ có dùng Internet hay không, mà ở việc các em sử dụng như thế nào và có được chuẩn bị đủ kỹ năng hay chưa .
Thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không phải là tiếp cận công nghệ, mà là năng lực sử dụng an toàn.
Trẻ em online mỗi ngày, nhưng lại thiếu kỹ năng nhận diện nguy cơ, thiếu khả năng tự bảo vệ và thiếu cả nơi để tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp vấn đề.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh và giáo viên vẫn chưa theo kịp tốc độ thay đổi của môi trường số, dẫn đến khoảng trống trong việc đồng hành cùng trẻ.
Bảo vệ trẻ trên không gian mạng không thể là trách nhiệm của riêng gia đình, mà cần một hệ sinh thái nhiều tầng, với sự tham gia của gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý.
Phía gia đình, điều quan trọng nhất không phải là kiểm soát tuyệt đối, mà là thiết lập quy tắc và duy trì đối thoại. Cha mẹ cần hiểu con mình đang làm gì trên mạng, sử dụng nền tảng nào, tiếp xúc với nội dung gì. Việc cài đặt công cụ quản lý là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều cốt lõi là xây dựng sự tin cậy để trẻ sẵn sàng chia sẻ khi gặp vấn đề, thay vì giấu kín.
Đối với nhà trường, giáo dục cần mở rộng sang kỹ năng công dân số. Trẻ cần được dạy cách ứng xử trên mạng, cách bảo vệ dữ liệu cá nhân, cách nhận diện tin giả, cách phản ứng khi bị bắt nạt hoặc tiếp cận bởi người lạ. Những kỹ năng này quan trọng không kém bất kỳ môn học nào trong thời đại số.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp công nghệ, trách nhiệm không thể chỉ dừng ở việc cung cấp nền tảng. Khi rủi ro xuất phát từ chính thiết kế hệ thống, các nền tảng cần chủ động xây dựng môi trường an toàn hơn: kiểm soát nội dung theo độ tuổi, cải thiện cơ chế báo cáo, tăng cường xác minh người dùng và cung cấp công cụ hỗ trợ phụ huynh.
Cũng cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và hỗ trợ nạn nhân. Việt Nam đã có những bước tiến trong việc xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và tham gia các sáng kiến quốc tế nhưng trước tốc độ phát triển của công nghệ, các giải pháp cũng cần được cập nhật liên tục.
Quan trọng hơn cả, cần chuyển từ tư duy "ngăn chặn" sang "trao quyền". Trẻ em không thể bị tách khỏi thế giới số, nhưng có thể được trang bị để bước vào đó một cách an toàn. Khi có kỹ năng, có nhận thức và có sự hỗ trợ, các em không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà trở thành chủ thể có khả năng tự bảo vệ mình.
Không gian mạng sẽ tiếp tục mở rộng và trẻ em sẽ tiếp tục hiện diện trong đó nhiều hơn. Do đó không phải là làm cách nào để cấm cản mà là làm sao để các em không bị tổn thương khi tham gia. Đây là sự thật không thể trì hoãn!
Liệu đây có phải là "bức tranh đứt gãy" giữa kỳ vọng của thế hệ trẻ với thực tại khắc nghiệt của thị trường lao động vốn sôi động và biến đổi nhanh hiện nay?
Số liệu từ Tổng cục Thống kê quý 1-2026 cho ra một con số đáng suy gẫm. Cả nước có gần 1,6 triệu thanh niên (15-24 tuổi) đang rơi vào tình trạng "3 không" như trên. Đáng lo ngại hơn khi tỉ lệ thất nghiệp ở nhóm tuổi này lên đến 8,9%, cao gấp nhiều lần tỉ lệ thất nghiệp chung cả nước.
Tại sao trong bối cảnh các ngành kinh tế số (công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông...) và dịch vụ lưu trú, ăn uống đang tăng trưởng và "khát" nhân lực, nhiều người trẻ vẫn đứng ngoài cuộc hoặc bất lực trong việc giành lấy một công việc? Câu trả lời nằm ở sự lệch pha giữa kỹ năng và kỳ vọng cá nhân.
Một bộ phận gen Z bước vào thị trường với nhu cầu chọn việc theo tiêu chuẩn cá nhân cao, ưu tiên sự tự do và mức đãi ngộ lý tưởng. Tuy nhiên sự thật là họ đang thiếu hụt kinh nghiệm thực tế cùng các kỹ năng số cơ bản để đáp ứng yêu cầu thực chiến từ doanh nghiệp.
Trong xã hội học, tình trạng "3 không" này nếu kéo dài không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn tạo ra "hiệu ứng vết sẹo". Khi rời xa các định chế giáo dục và lao động quá lâu, người trẻ dễ rơi vào trạng thái mất kết nối xã hội, kỹ năng bị mai một và tâm lý tự ti gia tăng.
Chính vì thế khoảng trống trong hồ sơ năng lực càng dài, cánh cửa trở lại môi trường nghề nghiệp càng hẹp lại. Đáng lo ở chỗ tỉ lệ "3 không" tại nông thôn (13%) và ở nữ giới (12,8%) cao hơn hẳn thành thị. Điều đó chứng tỏ áp lực đô thị và rào cản tiếp cận công nghệ vẫn là điểm nghẽn lớn chưa có lời giải triệt để.
Kinh tế số và chuyển đổi số tại Việt Nam dù mới ở giai đoạn đầu nhưng đang tăng tốc cực nhanh (chiếm gần 3% tổng lao động có việc làm và đang tiếp tục mở rộng). Đây chính là kỷ nguyên vươn mình thực tế nhất và chắc chắn nó không chờ đợi những người đứng yên.
Thách thức 1,6 triệu thanh niên nói trên không chỉ là bài toán của các cơ quan quản lý mà còn là lời cảnh tỉnh cho chính mỗi bạn trẻ đang ở trạng thái "3 không". Đừng để mình bị động chờ một công việc trong mơ đúng ý hoặc ảo tưởng năng lực cá nhân, không màng đến những chuyển động thực tế của thị trường lao động.
Thay vào đó cần chủ động lấp đầy khoảng trống kỹ năng của mình bằng các khóa đào tạo ngắn hạn, thậm chí chấp nhận những vị trí khởi đầu khiêm tốn chính là cách duy nhất để mình không bị "đá" khỏi quỹ đạo phát triển. Đừng để mác "thanh niên 3 không" trở thành rào cản ngăn bạn chạm tới tương lai vì trong kỷ nguyên số, đứng yên đồng nghĩa với việc đang lùi lại phía sau.