Hans-Peter Grumpe, du khách Đức, đến Hội An năm 1991 trong chuyến xuyên Việt lần đầu. Ông cho hay 35 năm trước, Hội An vắng bóng khách, dù địa điểm có tên trên bản đồ du lịch chính thức từ năm 1985. Sự hiện diện của một người châu Âu như Hans thu hút sự hiếu kỳ từ dân địa phương.
Hans-Peter Grumpe, du khách Đức, đến Hội An năm 1991 trong chuyến xuyên Việt lần đầu. Ông cho hay 35 năm trước, Hội An vắng bóng khách, dù địa điểm có tên trên bản đồ du lịch chính thức từ năm 1985. Sự hiện diện của một người châu Âu như Hans thu hút sự hiếu kỳ từ dân địa phương.
Năm 1991, phố cổ chưa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Các dãy nhà cổ giữ nguyên trạng cũ kỹ, chưa qua các đợt đại trùng tu hay thương mại hóa diện mạo. Phương tiện di chuyển chính là xe đạp và xích lô.
Năm 1991, phố cổ chưa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Các dãy nhà cổ giữ nguyên trạng cũ kỹ, chưa qua các đợt đại trùng tu hay thương mại hóa diện mạo. Phương tiện di chuyển chính là xe đạp và xích lô.
Hạ tầng dịch vụ, cửa hàng lưu niệm hay hệ thống đèn chiếu sáng công cộng chưa được thiết lập. Nam du khách Đức cho biết không khí Hội An vào năm 1991 yên tĩnh, nhịp sống chậm rãi với những dãy nhà cổ lụp xụp, mái ngói rêu phong và tường vôi bong tróc. Các ngôi nhà cổ chưa được trùng tu, sơn màu vàng đồng bộ như hiện nay.
Hạ tầng dịch vụ, cửa hàng lưu niệm hay hệ thống đèn chiếu sáng công cộng chưa được thiết lập. Nam du khách Đức cho biết không khí Hội An vào năm 1991 yên tĩnh, nhịp sống chậm rãi với những dãy nhà cổ lụp xụp, mái ngói rêu phong và tường vôi bong tróc. Các ngôi nhà cổ chưa được trùng tu, sơn màu vàng đồng bộ như hiện nay.
Đầu thập niên 90, người dân Hội An muốn phá bỏ nhà cổ để xây nhà bê tông cho tiện sinh hoạt. Chính quyền đã phải vận động từng nhà, cấm cơi nới để giữ bằng được nguyên trạng.
Tháng 12/1999, đô thị cổ Hội An được UNESCO chính thức công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.
Đầu thập niên 90, người dân Hội An muốn phá bỏ nhà cổ để xây nhà bê tông cho tiện sinh hoạt. Chính quyền đã phải vận động từng nhà, cấm cơi nới để giữ bằng được nguyên trạng.
Tháng 12/1999, đô thị cổ Hội An được UNESCO chính thức công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.
Một tiệm may quần áo tại phố cổ Hội An 35 năm trước. Du lịch chưa phát triển, người dân sống dựa vào nông nghiệp, đánh bắt cá trên sông Thu Bồn và các nghề thủ công như làm mộc, rèn nông cụ, làm gốm.
Một tiệm may quần áo tại phố cổ Hội An 35 năm trước. Du lịch chưa phát triển, người dân sống dựa vào nông nghiệp, đánh bắt cá trên sông Thu Bồn và các nghề thủ công như làm mộc, rèn nông cụ, làm gốm.
Khung cảnh Hội quán Triều Châu (Chùa Ông Bổn) 35 năm trước không nhiều thay đổi so với hiện tại. Công trình được xây dựng vào năm 1845.
Trong bối cảnh du lịch sơ khai đầu thập niên 90, những di tích như Hội quán Triều Châu chủ yếu phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân bản địa thay vì đón các đoàn tham quan đông đúc.
Khung cảnh Hội quán Triều Châu (Chùa Ông Bổn) 35 năm trước không nhiều thay đổi so với hiện tại. Công trình được xây dựng vào năm 1845.
Trong bối cảnh du lịch sơ khai đầu thập niên 90, những di tích như Hội quán Triều Châu chủ yếu phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân bản địa thay vì đón các đoàn tham quan đông đúc.
Năm 1991, Chùa Cầu chưa trải qua các đợt đại trùng tu quy mô và vắng bóng khách tham quan. Quanh lạch nước thông ra sông Thu Bồn, cảnh quan giữ nét tự nhiên, chưa được xây bờ kè hay quy hoạch đô thị.
Năm 1991, Chùa Cầu chưa trải qua các đợt đại trùng tu quy mô và vắng bóng khách tham quan. Quanh lạch nước thông ra sông Thu Bồn, cảnh quan giữ nét tự nhiên, chưa được xây bờ kè hay quy hoạch đô thị.
Không gian Hội quán Phúc Kiến 35 năm trước. Công trình được cộng đồng người Hoa bang Phúc Kiến xây dựng vào khoảng năm 1697 để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần bảo hộ thương nhân vượt biển.
Không gian Hội quán Phúc Kiến 35 năm trước. Công trình được cộng đồng người Hoa bang Phúc Kiến xây dựng vào khoảng năm 1697 để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần bảo hộ thương nhân vượt biển.
Một nhánh sông Thu Bồn chảy qua khu vực phố cổ Hội An. Dọc bờ sông là các rặng dừa nước và cây dại, chưa có hệ thống bờ kè bê tông hay đường đi bộ, các khu nghỉ dưỡng chưa được xây dựng.
Một nhánh sông Thu Bồn chảy qua khu vực phố cổ Hội An. Dọc bờ sông là các rặng dừa nước và cây dại, chưa có hệ thống bờ kè bê tông hay đường đi bộ, các khu nghỉ dưỡng chưa được xây dựng.
Năm 1991, các hoạt động trên sông Thu Bồn chỉ phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của cư dân địa phương. Hoạt động giao thông chủ yếu là thuyền gỗ nhỏ và ghe tam bản dùng để đánh bắt cá hoặc vận chuyển hàng hóa nông sản. Các loại thuyền rồng du lịch hay ca nô máy chưa xuất hiện.
Sau 35 năm, Hội An dần phát triển thành điểm du lịch hàng đầu Việt Nam và có tên tuổi trên bản đồ thế giới. Tạp chí du lịch hàng đầu của Mỹ, hôm 1/4 công bố danh sách “hidden gem cities” – những điểm đến mang vẻ đẹp ẩn mình, giàu trải nghiệm và đầy sức gợi mở trên thế giới, Hội An đứng đầu.
Năm 1991, các hoạt động trên sông Thu Bồn chỉ phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của cư dân địa phương. Hoạt động giao thông chủ yếu là thuyền gỗ nhỏ và ghe tam bản dùng để đánh bắt cá hoặc vận chuyển hàng hóa nông sản. Các loại thuyền rồng du lịch hay ca nô máy chưa xuất hiện.
Sau 35 năm, Hội An dần phát triển thành điểm du lịch hàng đầu Việt Nam và có tên tuổi trên bản đồ thế giới. Tạp chí du lịch hàng đầu của Mỹ, hôm 1/4 công bố danh sách “hidden gem cities” – những điểm đến mang vẻ đẹp ẩn mình, giàu trải nghiệm và đầy sức gợi mở trên thế giới, Hội An đứng đầu.
Chiều nay 16.4, tại Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo Sở VH-TT-DL thành phố Đà Nẵng và Công ty TNHH Thương mại và du lịch Anex Việt Nam (Anex Tour Vietnam) chủ trì lễ đón chuyến bay đầu tiên từ Vladivostok (Nga) đến Đà Nẵng.
220 hành khách đi trên chuyến bay đã được ban tổ chức chào đón trọng thị với các nghi thức, như tặng hoa và quà lưu niệm, biểu diễn múa lân... Sự kiện chính thức đánh dấu chương trình khai thác thị trường khách du lịch quốc tế từ Liên bang Nga và các quốc gia thuộc khối CIS đến Đà Nẵng trong mùa hè năm 2026.
CIS (Cộng đồng các quốc gia độc lập) gồm 9 nước thành viên chính thức: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan và Uzbekistan.
Theo kế hoạch, chương trình sẽ được triển khai trong thời gian từ ngày 16.4 đến ngày 23.10, kết nối 8 thành phố từ thị trường Nga, CIS và Belarus đến Đà Nẵng. Tổng lượng khách quốc tế do Anex Tour Vietnam dự kiến đạt khoảng 25.500 lượt khách, với tần suất khai thác tối đa 36 chuyến bay/tháng, tương đương khoảng 4.800 khách/tháng.
Du khách quốc tế lưu trú trung bình từ 6 - 9 đêm (khối CIS khoảng 6 đêm, thị trường Nga khoảng 9 đêm), tại các cơ sở lưu trú tiêu chuẩn từ 3 - 5 sao, góp phần gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu tại điểm đến.
Theo Trung tâm Xúc tiến du lịch thành phố Đà Nẵng, từ tháng 4.2026, các chuyến bay đầu tiên từ thị trường Nga và CIS chính thức được khởi động đến Đà Nẵng, đánh dấu bước phục hồi và mở rộng kết nối hàng không với các thị trường khách quốc tế tiềm năng.
Trong bối cảnh một số thị trường khách quốc tế còn nhiều biến động, thị trường Nga và CIS được xem là nguồn khách tiềm năng, góp phần bù đắp và đa dạng hóa cơ cấu khách đến Đà Nẵng. Theo thống kê, trong 3 tháng đầu năm 2026, thành phố Đà Nẵng đã đón khoảng 2,3 triệu lượt khách quốc tế, trong đó khách Nga và CIS đạt hơn 100.000 lượt, chiếm khoảng 4,35%.
Trong năm 2026, các đường bay từ Nga và CIS đến Đà Nẵng dự kiến được khai thác từ tháng 4 - 10, với mạng bay mở rộng từ Kazakhstan, Uzbekistan, Belarus và nhiều thành phố của Nga. Tần suất khai thác duy trì ổn định trong mùa cao điểm, chủ yếu dưới hình thức chuyến bay thuê chuyến (charter) do Crystal Bay, Anex Tour Vietnam và các doanh nghiệp lữ hành tổ chức.
Theo kế hoạch, năm 2026, Anex Tour Vietnam dự kiến khai thác khoảng 169 chuyến, Crystal Bay dự kiến khai thác khoảng 400 chuyến, tổng lượng khách khoảng 120.000 lượt. Việc khôi phục và mở rộng các đường bay từ Nga và CIS không chỉ góp phần đa dạng hóa thị trường khách mà còn tạo đòn bẩy để thành phố Đà Nẵng tiếp tục khẳng định vị thế là điểm đến quốc tế hấp dẫn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Sáng 10/4, ông Nguyễn Văn Hãnh, Phó Chủ tịch UBND xã Phố Bảng, cho biết địa phương đã cấm hoạt động địu hoa ra dốc Thẩm Mã chờ khách chụp ảnh để xin tiền. Theo UBND xã Phố Bảng, gần đây nhiều người già, trẻ em tập trung đông tại khu vực này để chèo kéo, giành giật khách.
Một số trường hợp liên tục nài ép du khách cầm hoa để chụp ảnh dù họ không có nhu cầu, sau đó tỏ thái độ khó chịu. Có tình trạng 6-7 trẻ em cùng tập trung tết tóc cho một người, sau đó khách phải cho tiền đủ cả nhóm.
"Tình hình thực tế rất phức tạp, nếu không quản lý tốt sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch địa phương", ông Hãnh nói.
Hiện nay, xã Phố Bảng soạn thảo bộ quy tắc ứng xử văn minh và tổ chức lại hoạt động này. Theo đó, người tham gia phải đáp ứng các yêu cầu từ chính quyền, hoa được để gọn trong khu vực chỉ định và nghiêm cấm chèo kéo. Xã cũng dự kiến thành lập đội biểu diễn văn nghệ truyền thống, số tiền thu được từ du khách sẽ chia đều nhằm tránh tình trạng tranh giành khách.
Theo ghi nhận đầu tháng 3, trẻ em và người già thường tập trung đông tại dốc Thẩm Mã, gây cản trở và làm khó những khách chỉ có nhu cầu chụp ảnh phong cảnh.
Năm qua, xã Phố Bảng nghiêm cấm việc xin tiền nên khách thường cho bánh kẹo hoặc trả tiền tùy tâm, khoảng 10.000 đồng mỗi lượt. Vào cao điểm, mỗi đứa trẻ có thể thu về khoảng 300.000 đồng một ngày, nhưng số tiền này phần lớn bị người lớn thu lại ngay sau đó.
Cơ quan chức năng đã thành lập tổ công tác đảm bảo an ninh trật tự tại dốc Thẩm Mã, đồng thời bàn giao người già, trẻ em và phụ nữ địu con cho các xã quản lý. Chính quyền cũng tuyên truyền bằng loa với ba ngôn ngữ (Anh, Việt, Mông) để khuyến cáo du khách không cho tiền, quà và cung cấp số điện thoại đường dây nóng.
Tuy nhiên, ông Hãnh cho biết việc thay đổi nhận thức của những người lười lao động, ỷ lại vào lòng thương hại vẫn khó khăn. Mặt khác, nhiều du khách vẫn cho quà, tiền bất chấp cảnh báo.
"Họ tưởng làm vậy là tốt nhưng thực chất đang hủy hoại tương lai trẻ em. Trẻ có thể rủ nhau bỏ học, tạo ra thế hệ mù chữ, lười lao động và trở thành gánh nặng xã hội", ông Hãnh nói.
Ông Hoàng Xuân Đôn, Trưởng ban quản lý Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, đồng quan điểm, cho rằng tình trạng trẻ em địu hoa phản ánh nguyên lý cung cầu của kinh tế thị trường. Khi du khách động lòng trắc ẩn, thể hiện tình thương với trẻ nhỏ, mang đến hiệu quả kinh tế cao hơn, trong học thuật gọi là "poverty porn" (khai thác sự đói nghèo để tăng cảm thông, kiếm tiền).
"Chúng tôi muốn du khách hợp tác với chính quyền, để yêu mảnh đất và con người Cao nguyên đá một cách bền vững, bài bản hơn", ông nói.
Vạn Lý Trường Thành lưu giữ nhiều bí ẩn chưa được giải mã. Sau hơn 4 năm nghiên cứu, đội ngũ từ Đại học Thiên Tân đã tìm ra hơn 130 tàn tích của các cánh cổng bí mật tại 10 tỉnh và khu vực, đưa những lối đi vốn bị che giấu hàng thế kỷ từ trong sử sách ra ngoài ánh sáng.
Các cổng bí mật là những lối đi khuất tầm nhìn, hầu hết được xây dựng ở những đoạn hẻo lánh của Vạn Lý Trường Thành. Kích thước của các lối đi này thường thấp và nhỏ, trong đó những lối hẹp nhất chỉ cho phép đúng một người đi qua. Chúng chủ yếu được sử dụng cho các hoạt động trinh sát, tấn công bất ngờ hoặc phục vụ giao thương.
Trong số các binh sĩ đồn trú tại Vạn Lý Trường Thành thời nhà Minh (1368-1644), một lực lượng huyền thoại được gọi là "Dạ Bất Thu" (những người không trở về vào ban đêm), công việc tương đương với lực lượng đặc nhiệm hiện đại.
Họ chịu trách nhiệm chính trong việc thu thập tình báo và tiến hành các cuộc đột kích bất ngờ. Tên gọi này bắt nguồn từ việc nhiệm vụ đòi hỏi phải hoạt động bên ngoài bức tường suốt đêm. Các lối đi họ sử dụng để ra vào chính là những cánh cổng bí mật này và họ phải xác nhận mật mã mới được phép đi qua.
Để xác định chính xác số lượng các lối đi này, đội ngũ nghiên cứu từ Đại học Thiên Tân đã đối soát các bản đồ cổ để xác nhận vị trí của các cổng bí mật. Nhóm đã sử dụng flycam và công nghệ kỹ thuật số để chụp ảnh hơn 90% các đoạn tường thành thời Minh, thu thập hơn hai triệu bức ảnh.
Nỗ lực này giúp tạo ra nền tảng hình ảnh 3D toàn cảnh cho toàn bộ Vạn Lý Trường Thành với độ chính xác đến từng centimet. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy di tích thực tế của hơn 130 cổng, lần đầu tiên lập nên một "gia phả" cho hệ thống cổng ẩn này.
Các cổng thường cao từ 1,5 đến 2,5 m với lối hẹp nhất cho một người và lối rộng nhất cho ngựa đi qua, mỗi cổng đều được thiết kế tỉ mỉ theo địa hình và chức năng riêng.
Loại cổng bí mật nhất được gọi là "Đột môn", chủ yếu dùng cho các cuộc tấn công bất ngờ. Mặt hướng về phía kẻ thù được ngụy trang bằng gạch đá như một bức tường bình thường, trong khi mặt hướng về phía quân mình là một lối đi rỗng, binh sĩ có thể trú bên trong. Trong trận chiến, kẻ thù không thể phát hiện vị trí của Đột môn từ bên ngoài nhưng binh sĩ có thể phá vỡ lớp tường ngụy trang từ bên trong để lao ra tập kích.
Từ hơn 2.000 năm trước, các văn bản cổ đã có miêu tả về Đột môn nhưng đến năm 2019, bằng chứng vật chất đầu tiên mới được nhóm nghiên cứu tìm thấy tại thành phố Tần Hoàng Đảo, tỉnh Hà Bắc. Ngoài chức năng quân sự, một số cổng bí mật còn được sử dụng cho ngoại thương hoặc là lối đi cho binh sĩ và dân thường vùng biên giới ra ngoài canh tác, chăn thả gia súc.
Giáo sư Trương Ngọc Khôn từ Đại học Thiên Tân cho biết điều này phản ánh tính "mở" của hệ thống phòng thủ trường thành từ một góc nhìn khác. Nhà nghiên cứu Lý Triết của nhóm nghiên cứu cũng nhấn mạnh các cổng bí mật không chỉ nắm giữ những bí ẩn của Vạn Lý Trường Thành, còn chứa đựng trí tuệ của người xưa. Trong tương lai, công nghệ kỹ thuật số sẽ tiếp tục được sử dụng để khôi phục diện mạo thực sự của kỳ quan này và tiếp tục giải mã những bí mật còn lại.
Theo UNESCO, Vạn Lý Trường Thành là hệ thống phòng thủ quân sự được xây dựng liên tục từ thế kỷ 3 TCN đến thế kỷ 17 nhằm bảo vệ biên giới phía bắc Trung Quốc. Với tổng chiều dài hơn 20.000 km, kỳ quan này trải dài từ Sơn Hải Quan ở phía Đông đến Gia Dục Quan ở phía Tây với cấu trúc vô cùng đồ sộ. Hệ thống di sản bao gồm tường thành, các tháp canh, pháo đài và đài rẫy, thể hiện sự thích ứng của kiến trúc quân sự với địa hình thiên nhiên hiểm trở.
Công trình UNESCO công nhận là Di sản Thế giới từ năm 1987, là biểu tượng cho sức mạnh chính trị và sự phát triển vượt bậc về công nghệ xây dựng cổ đại. Kỳ quan này minh chứng cho sự giao thoa giữa hai nền văn minh nông nghiệp và du mục, đồng thời giữ vai trò linh hồn trong văn hóa và nghệ thuật Trung Quốc suốt hàng nghìn năm.