Liên quan đến nhiệm vụ này, hầu hết các doanh nghiệp, người dân đều cho rằng việc cắt giảm đã được làm quyết liệt trong các nhiệm kỳ vừa qua nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều thủ tục, điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thậm chí các chuyên gia còn cho rằng việc cắt giảm có nơi chưa đi vào thực chất và lần này cần phải khắc phục.
Ông Phạm Đức Toản, Tổng giám đốc Công ty CP bất động sản EZ, cho rằng trong lĩnh vực xây dựng, đầu tư, kinh doanh bất động sản, dù khung pháp lý khá thông thoáng, nhưng khi đi vào từng quy định cụ thể, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian.
Một dự án xây dựng tòa nhà chung cư, chủ đầu tư phải qua nhiều lần xin ý kiến các sở ngành liên quan. Chẳng hạn, trước khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải xin ý kiến các sở ngành về sự phù hợp quy hoạch, đến khi được phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 lại phải xin ý kiến một lần nữa.
Ngoài ra, trước khi khởi công xây dựng, doanh nghiệp phải trình cấp thẩm quyền thẩm định phương án PCCC tòa nhà. Và sau khi hoàn thành, doanh nghiệp lại phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu phương án PCCC tòa nhà trước khi đưa vào sử dụng.
Cũng theo ông Toản, dù nghị quyết 201/2025/QH15 của Quốc hội cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội theo hướng rút ngắn thủ tục đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhưng theo quy trình này thì thời gian phê duyệt thủ tục đầu tư một dự án trung bình cũng mất khoảng 9 tháng.
Nếu phát sinh vướng mắc, thời gian phê duyệt dự án càng bị kéo dài hơn. Thực tế tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội dù được phê duyệt chủ đầu tư nhưng lại vướng chỉ tiêu dân số nên phải chờ xin ý kiến các sở ngành để điều chỉnh, tăng chỉ tiêu về mật độ dân số trước khi xây dựng.
Đối với các dự án nhà ở thương mại, dù Quốc hội đã ban hành nghị quyết 171/2024/QH15 cho phép thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất. Nhưng trên thực tế, khi chủ đầu tư mua được đất lại phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch các khu đất trước khi xây dựng.
Và để có được quy hoạch xây dựng nhà ở trên đất đã nhận chuyển nhượng, doanh nghiệp phải thực hiện hàng loạt các thủ tục liên quan. “Có thể thấy trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, quy định bên trên đã mở, thông thoáng giống như chúng ta mở cửa chính của một ngôi nhà, nhưng để sử dụng được phải tiếp tục mở khóa cửa từng phòng”, ông Toản ví von.
Còn theo đại diện một doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội, thủ tục cấp phép xây dựng các dự án nhà ở, khu đô thị hiện nay nhanh chậm với tùy từng trường hợp. Đối với các chủ đầu tư lớn, thực hiện các siêu dự án như trục cảnh quan sông Hồng, khu đô thị Olympic…, thành phố cho áp dụng cơ chế đặc biệt trong cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng.
Do vậy, các thủ tục liên quan tới dự án được thực hiện đồng thời cùng lúc nên chỉ sau khoảng 3 – 4 tháng, chủ đầu tư dự án đã có mặt bằng sạch để xây dựng. Tuy nhiên, cũng có những dự án mắc kẹt nhiều năm chưa thể xây dựng vì vướng đủ thứ.
Trong kiến nghị gửi tới Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) đã nêu ra hàng loạt vướng mắc, khó khăn về thủ tục hành chính mà các doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải. Cụ thể, trong lĩnh vực kiểm dịch, an toàn thực phẩm, Vasep cho rằng quy định bắt buộc doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung của KCN là quy trình “xử lý kép” bất hợp lý.
Theo đó, doanh nghiệp tự xử lý đạt cột B, sau đó đưa vào hệ thống nước thải của KCN để xử lý tiếp lên cột A, khiến tổng chi phí bị đội lên rất cao từ 18.500 – 28.000 đồng/m3, trong khi nếu doanh nghiệp tự đầu tư xử lý đạt chuẩn cột A từ đầu, chi phí chỉ từ 5.500 – 10.500 đồng/m³, giúp tiết kiệm 13.000 – 17.500 đồng/m³, tương đương hàng trăm tỉ đồng/năm cho toàn ngành.
Vì thế, Vasep kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 và nghị định 08/2022 theo hướng cho phép doanh nghiệp thủy sản trong KCN được miễn trừ đấu nối hệ thống tập trung nếu tự đầu tư, vận hành hệ thống xử lý riêng đạt chuẩn cột A trước khi xả thải.
Vasep cũng nêu những bất cập trong hướng dẫn về mức thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản. Theo đó, cùng một sản phẩm phế liệu (đến từ hai dây chuyền sản xuất, dây chuyền sản xuất sản phẩm sơ chế và dây chuyền sản xuất sản phẩm có gia nhiệt), bán cho cùng một khách hàng tại cùng một thời điểm nhưng lại có hai thuế suất VAT khác nhau.
Vì vậy, hiệp hội đề nghị Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn cho tất cả các chi cục thuế địa phương và các doanh nghiệp để các loại phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản (dù của mặt hàng sơ chế hay chế biến) nhưng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì không phải kê khai, tính nộp thuế VAT ở khâu kinh doanh thương mại.
Ngoài ra, Vasep cũng cho rằng đang có bất cập về thuế suất thuế VAT cho sản phẩm thủy sản đông lạnh do quan điểm không thống nhất giữa Bộ Tài chính và Cục Thuế về thuế suất VAT với sản phẩm thủy sản đông lạnh.
Vasep đề nghị Bộ Tài chính và Cục Thuế sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất, rõ ràng gửi tới các Cục Thuế địa phương và doanh nghiệp, theo hướng ưu đãi thuế TNDN thực hiện theo công văn 2550/BTC-TCT, áp dụng cho sản phẩm được xác định là “chế biến” theo quy định.
Việc áp dụng thuế VAT phải thực hiện đúng theo thông tư 219 của Bộ Tài chính, không mặc định rằng nếu sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì phải chịu thuế VAT 10%. Nếu sản phẩm đông lạnh chưa qua chế biến sâu, chỉ sơ chế như rửa, cấp đông, cắt khúc… cần được xác định là không chịu thuế VAT như trước nay vẫn áp dụng.
“Việc hướng dẫn cần mang tính thống nhất, áp dụng đồng bộ trên toàn quốc để tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu và thực hiện khác nhau, làm tăng gánh nặng và rủi ro cho doanh nghiệp”, đại diện hiệp hội này kiến nghị.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết còn nhiều quy định chưa phù hợp trong ngành sản xuất chăn nuôi và thực phẩm, dù đã có sửa đổi trong quy định để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Cụ thể, theo ông Dương, sau khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, hàng hóa sẽ được phân loại mức độ rủi ro để quản lý. Vấn đề đặt ra là phân loại ra sao, phương pháp quản lý thế nào để vừa tạo điều kiện môi trường tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có không gian cho cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm đảm bảo an toàn, doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh.
Như với ngành chăn nuôi, một sản phẩm thức ăn chăn nuôi bao gồm nguyên liệu thông thường như ngô, đậu tương, đậu nành… không có rủi ro cao, nhưng có những thức ăn bổ sung như kim loại, lại có yếu tố rủi ro cao hơn, nên cần phân loại sao cho phù hợp. Hay nhiều mặt hàng khác như phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật… phân loại vào nhóm nào?…
Theo ông Dương, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, các bộ cần dũng cảm bỏ bớt công việc, chỉ thực hiện chức năng kiến tạo và thiết kế chính sách để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương thực hiện. Cũng với đó, phải tăng cường hậu kiểm theo hướng kiểm soát rủi ro, kiểm soát mối nguy, tăng cường vai trò tự chịu trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh, thay vì thắt chặt quản lý.
Bởi muốn tăng trưởng hai con số, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, cần phải nâng cao sức sản xuất, giải phóng tiềm năng sản xuất đang còn nằm trong dân, doanh nghiệp. “Do đó, phải tập trung cải cách thể chế, thủ tục và điều kiện kinh doanh. Mạnh dạn cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không đảm bảo tính khả thi trong thực hiện”, ông Dương nói.
Ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, cho rằng việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã được làm quyết liệt trong nhiệm kỳ vừa rồi, song vẫn được Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ này quan tâm và ưu tiên ngay, cho thấy đây vẫn đang là vấn đề cấp bách, cần tiếp tục được tháo gỡ. Nếu giảm được các thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa rất lớn và cần thiết trong bối cảnh khó khăn hiện nay.
Những cam kết từ chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang mở ra kỳ vọng đưa kim ngạch thương mại song phương lên 500 tỉ USD.
Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đạt được những kết quả quan trọng và thiết thực khi các cam kết và thỏa thuận hợp tác đều hướng đến lợi ích trực tiếp của người dân và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đề nghị Trung Quốc tạo điều kiện để Việt Nam tham gia hiệu quả chương trình "Chia sẻ thị trường lớn - Xuất khẩu Trung Quốc", đồng thời mở cửa cho các mặt hàng nông thủy sản và chăn nuôi của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn.
Thủ tướng Lý Cường đã lắng nghe và khẳng định Trung Quốc sẵn sàng thúc đẩy hợp tác thương mại cân bằng hơn, nhập khẩu nhiều hơn nông sản chất lượng cao của Việt Nam và cùng hợp tác xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới.
Tại cuộc hội đàm với Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Vương Văn Đào trong khuôn khổ chuyến thăm, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đề nghị phía Trung Quốc tăng cường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, mở rộng danh mục mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế quan, công nhận lẫn nhau kết quả kiểm dịch động thực vật đối với hàng nông lâm thủy sản, và tạo điều kiện cho hàng Việt xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới.
Bộ trưởng Vương Văn Đào nhất trí và cho biết Bộ Thương mại Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam thành lập các văn phòng xúc tiến thương mại, đồng thời mời Việt Nam tích cực tham gia 5 hoạt động trong khuôn khổ chương trình năm 2026 và làm quốc gia chủ đề trong chuỗi sự kiện năm 2027.
Với doanh nghiệp, đây là tín hiệu đáng mừng. Ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Vina T&T Group, đơn vị đang xuất khẩu sầu riêng và dừa vào Trung Quốc - nhận định chuyến thăm là một "cú hích" mang tính chiến lược. Việc Thủ tướng Lý Cường khẳng định mở cửa cho hàng nông thủy sản Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn đã tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy chuyển dịch mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch.
Điều này giúp doanh nghiệp giảm rủi ro ùn tắc tại cửa khẩu, giảm chi phí logistics và bảo vệ thương hiệu nông sản Việt. Khi vào được chính ngạch, sản phẩm Việt Nam không còn quanh quẩn ở các tỉnh biên giới mà có thể thâm nhập sâu vào các siêu thị tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu.
Trong chuyến thăm, Trung Quốc cũng cam kết mở cửa chính ngạch cho bưởi và chanh (gồm chanh không hạt, chanh có hạt và chanh leo) - tin vui với ngành rau quả. Bưởi da xanh Việt Nam có chất lượng đặc trưng khác biệt so với sản phẩm bản địa, khi vào chính ngạch có thể tự tin cạnh tranh ở phân khúc cao cấp.
Với chanh, nhu cầu tại thị trường này đang tăng mạnh; việc ký nghị định thư sẽ giúp ổn định đầu ra cho các vùng trồng lớn ở Long An và miền Tây, thay vì phụ thuộc vào buôn bán biên mậu bấp bênh.
Dù vậy, các chuyên gia và doanh nghiệp đều nhấn mạnh rằng để thực sự khai thác được những thỏa thuận cấp cao này, Việt Nam cần tuân thủ nghiêm "luật chơi" mới. Ông Tùng lưu ý doanh nghiệp phải quản lý chặt mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, vì chỉ một sai sót nhỏ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có thể làm mất uy tín cả ngành hàng.
Thay vì xuất hàng thô, doanh nghiệp cần đầu tư vào bao bì, nhãn mác đúng chuẩn và xây dựng câu chuyện sản phẩm để người tiêu dùng Trung Quốc nhận diện được "đây là nông sản Việt Nam chất lượng cao".
Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho rằng sự hợp tác của hai Đảng, hai Chính phủ ngày càng mở rộng, thể hiện qua việc mỗi chuyến thăm cấp cao đều có thêm nghị định thư cho phép xuất khẩu các mặt hàng mới.
Nhờ đó, chỉ trong quý 1 năm nay, xuất khẩu trái cây đạt hơn 1,5 tỉ USD, trong đó Trung Quốc chiếm tới 2/3 kim ngạch.
Bên cạnh kênh thương mại truyền thống, ông Nguyên đặc biệt kỳ vọng vào thương mại điện tử - xu hướng đang được nhiều lĩnh vực khai thác hiệu quả. Dù ngành trái cây có đặc thù riêng về bảo quản và vận chuyển, kênh này vẫn mở ra cơ hội tìm kiếm và mở rộng khách hàng đáng kể.
Để nắm vững và phát triển thị phần, ông Nguyên nhấn mạnh doanh nghiệp cần chú trọng chất lượng, mẫu mã và tuân thủ quy định của thị trường Trung Quốc - vốn ngày càng khắt khe hơn. Song song đó, cần có sự hỗ trợ mạnh hơn từ cơ quan chức năng trong đàm phán, mở rộng ký kết nghị định thư để bổ sung thêm các mặt hàng như bơ, na dai, roi, cũng như hướng dẫn doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch trực tuyến để hiện thực hóa các hợp đồng giao thương qua thương mại điện tử.
Thông tin trên được nêu tại Tọa đàm phòng chống thuốc lá lậu - thực trạng và hành lang pháp lý trong tình hình mới, do báo Công an nhân dân tổ chức sáng 22-4.
Trên khía cạnh điều tra, trung tá Phạm Văn Ngọc - cán bộ Phòng Chống buôn lậu, hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Bộ Công an - chia sẻ về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý hành vi buôn lậu thuốc lá.
Theo ông Ngọc, sau khi nghị quyết 173 được thực hiện, thì đến nay vẫn còn một số khó khăn như chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về khái niệm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng…Điều này gây khó khăn trong việc xác định hành vi vi phạm trong quá trình xử lý.
Bên cạnh đó, nghị định 173 có quy định cho phép nhập khẩu, kinh doanh thuốc lá, dẫn đến những ảnh hưởng đến việc thanh tra, xử lý hành vi vi phạm.
Đáng chú ý, theo quy định về định lượng đủ để cấu thành hành vi bị xử lý là từ 1.500 bao thuốc lá trở lên. Lợi dụng điều này, các đối tượng thường xé lẻ, chia nhỏ số lượng thuốc lá khi vận chuyển để không đủ mức độ xử lý gây khó khăn cho công tác điều tra.
Vì vậy, trung tá Ngọc đề xuất cần xem xét sửa đổi, giảm định lượng 1.500 bao xuống mức thấp hơn. Bên cạnh đó cần bổ sung quy định dựa trên giá trị hàng hóa vi phạm. Nếu số lượng chưa đủ nhưng giá trị hàng hóa lớn thì vẫn có thể xem xét xử lý.
Ngoài ra các cơ quan chức năng cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng để có hành lang pháp lý trong việc xem xét xử lý hình sự hành vi này. Đồng thời cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính với hành vi buôn lậu thuốc lá.
Tại tọa đàm, ông Nguyễn Đức Lê, Phó trưởng Phòng Nghiệp vụ quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, cho hay trong quá trình kiểm tra, xử lý cho thấy những người buôn lậu thuốc lá thường sử dụng phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Trong khi đó, kinh phí, phương tiện, thiết vị phục vụ công tác kiểm tra, xử lý vi phạm mặc dù đã được quan tâm bổ sung, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Do mô hình tổ chức của lực lượng quản lý thị trường thay đổi nên công tác chỉ đạo về phòng chống thuốc lá giả, nhập lậu, không rõ nguồn gốc không đảm bảo tính kịp thời, có độ trễ cao.
Trước thực tế đó, ông Lê kiến nghị, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo đồng bộ giữa Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá với các luật, pháp lệnh liên quan đến thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật để xử lý hình sự với khối lượng, giá trị hoặc số thu lợi bất chính thấp hơn mức hiện nay. Đồng thời cần nâng mức xử phạt vi phạm hành chính nhằm tăng tính răn đe...
Phát biểu tại tọa đàm, ông Nguyễn Chí Nhân, Tổng thư ký Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, chia sẻ ngoài buôn lậu thuốc lá điếu, điều đáng lo ngại hiện nay là sự len lỏi của thuốc lá thế hệ mới như thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Dù đã được đưa vào danh mục hàng cấm và chính thức bị cấm từ ngày 1-1-2025, thế nhưng đến nay thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng vẫn đang âm thầm len lỏi trong đời sống.
Ông Nhân cho rằng các sản phẩm này vẫn được buôn lậu và bán tràn lan, nhắm trực tiếp vào giới trẻ, học sinh, sinh viên thông qua các nền tảng mạng xã hội. Người mua chỉ cần nhắn tin qua Zalo hoặc messenger, hàng sẽ được giao tận tay với giá rẻ.
"Thuốc lá lậu có lợi thế bất hợp pháp về giá do trốn thuế, không chịu các chi phí tuân thủ pháp luật, không kiểm soát chất lượng và không in cảnh báo sức khỏe theo quy định.
Đây là hình thức cạnh tranh không lành mạnh, tạo sức ép rất lớn lên các doanh nghiệp làm ăn chân chính, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng đối với sức khỏe người tiêu dùng", ông Nhân nói.
Ông Nhân kiến nghị tiếp tục mở các chuyên án tại các tuyến, địa bàn trọng điểm. Từ đó triệt phá tận gốc các đường dây buôn lậu xuyên quốc gia từ khu vực biên giới, không để hàng lậu tập kết, phân tán vào nội địa.
Xử lý hình sự thật nghiêm minh các nghi phạm cầm đầu để răn đe, đặc biệt với hành vi tái phạm cần xem xét xử lý hình sự.
Đẩy mạnh đấu tranh hoạt động mua bán thuốc lá trái phép trên không gian mạng, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để rà soát, xử lý tận gốc các tài khoản, hội nhóm và gỡ bỏ các tài khoản vi phạm.
Ông Nhân khẳng định muốn chống buôn lậu hiệu quả, "hành lang pháp lý phải đủ chặt để quản lý, đủ mạnh để răn đe, đủ rõ để thực thi và đủ đồng bộ để phối hợp hành động".
Nhiều doanh nghiệp năng lượng tái tạo vừa công bố tình hình tài chính năm 2025 ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan, thậm chí nhiều doanh nghiệp thua lỗ.
Cụ thể, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 1 (HP1C) - chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1A công suất 150MW (Bình Thuận cũ) vừa công bố tình hình tài chính năm 2025, với khoản lỗ sau thuế hơn 180,7 tỷ đồng.
Trong khi đó, năm 2024, doanh nghiệp này ghi nhận mức lãi 71,3 tỷ đồng. Tại thời điểm cuối năm 2025, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm từ 1.254 tỷ đồng xuống còn 1.073 tỷ đồng.
Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu tăng từ 2,83 lên 3,2 lần, với tổng nợ phải trả lên tới gần 3.439 tỷ đồng. Dư nợ trái phiếu chiếm hơn 2.100 tỷ đồng.
Tương tự, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 2 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1B công suất 100MW (Bình Thuận cũ) cũng ghi nhận khoản lỗ hơn 97 tỷ đồng trong năm 2025, trái ngược với mức lãi hơn 55 tỷ đồng của năm trước.
Vốn chủ sở hữu doanh nghiệp giảm từ hơn 1.019 tỷ đồng xuống còn hơn 922 tỷ đồng, trong khi tổng nợ phải trả tăng lên hơn 1.671 tỷ đồng.
Theo báo cáo tài chính năm 2025 vừa công bố, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Điện mặt trời KN Vạn Ninh - chủ đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời KN Vạn Ninh (Khánh Hòa) ghi nhận lãi sau thuế giảm từ hơn 45 tỷ đồng xuống còn hơn 26 tỷ đồng, tương đương mức giảm khoảng 42%.
Tổng nợ phải trả tại cuối năm 2025 ở mức 1.276 tỷ đồng, dù đã giảm khoảng 84 tỷ đồng so với năm trước. Trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ với hơn 808 tỷ đồng, toàn bộ là trái phiếu phát hành riêng lẻ trong nước.
Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp điện tái tạo vẫn duy trì được lợi nhuận. Chẳng hạn, Công ty cổ phần điện gió Bắc Phương - chủ đầu tư Nhà máy điện gió Đông Hải 1 giai đoạn 2 (Bạc Liêu cũ) ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 48 tỷ đồng, tăng gần 12% so với năm 2024.
Tương tự, Công ty cổ phần điện gió Phong Liệu - chủ đầu tư dự án nhà máy điện gió Phong Liệu tại Quảng Trị ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 163,6 tỷ đồng, tăng hơn 14% so với năm 2024.
Công ty cổ phần Ea Súp 1 - chủ đầu tư Nhà máy Điện mặt trời Ea Súp 1 (Đắk Lắk) ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt hơn 66,3 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức gần 65 tỷ đồng của năm 2024.
Trong khi đó, Công ty cổ phần Ea Súp 3 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Ea Súp 3 (Đắk Lắk) - ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 278 tỷ đồng trong năm 2025, giảm mạnh so với mức hơn 459 tỷ đồng của năm trước đó.