Ông là Lê Huy Xuân – người lính đặc công nước từng khiến đối phương khiếp sợ tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, với chiến công phá hủy hàng chục xe bọc thép.
Trong căn nhà nhỏ đơn sơ, ông Lê Huy Xuân xúc động nhắc về thời hoa lửa của mình. Năm nay đã 81 tuổi nhưng ông vẫn nhớ như in những kỷ niệm thời trai trẻ. Năm 1963, chàng thanh niên Lê Huy Xuân hừng hực sức trẻ viết đơn tình nguyện ra trận. Thế nhưng trong lần khám tuyển đầu tiên ông bị loại. Lý do không đủ sức khỏe vì ông nhỏ người, chỉ nặng có 41 kg.
Không nản lòng, sang năm 1964 ông tiếp tục ứng tuyển. Đơn vị tuyển quân khi ấy nhận định: “Người thấp bé, nhẹ cân thế này lại rất phù hợp với nhiệm vụ luồn lách, bí mật của đặc công”. Vậy là chính cái vóc dáng nhỏ bé ấy đã đưa ông trở thành một chiến sĩ đặc công tinh nhuệ.
Tháng 10.1964, sau 3 tháng huấn luyện, ông cùng đồng đội hành quân vào chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, bắt đầu những ngày tháng chiến đấu oanh liệt tại đây. Khi đó đơn vị đặc công chính quy chưa thành lập, ông được biên chế vào đơn vị trinh sát đặc nhiệm B12, trực thuộc Bộ Tư lệnh Công binh. Tại đèo Hải Vân, đơn vị 120 người của ông chia làm hai ngả: một nửa ngược lên Tây nguyên, một nửa xuôi về vùng chảo lửa Quảng Nam. Ông Xuân nằm trong số những người về vùng Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, những nơi được mệnh danh là “vùng đất chết” bởi bom đạn đối phương.
Là lính đặc công, đặc biệt là đặc công nước và công binh, nhiệm vụ chính của ông Xuân và đồng đội là đánh cầu, phá đường để cắt đứt các tuyến giao thông huyết mạch của đối phương. Trong bóng đêm đen đặc, những người lính đặc công ngâm mình hàng giờ dưới làn nước lạnh, bí mật áp sát chân cầu để gài mìn. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, bởi chỉ cần sơ suất gây ra một tiếng động nhỏ, hay một sai sót trong kỹ thuật kích nổ, họ sẽ mãi mãi nằm lại dưới lòng sông.
Ông Xuân bồi hồi nhớ lại trận đánh đầu tiên vào ngày 25.2.1965. Mục tiêu là cầu Cao Lâu trên QL1. Bằng sự mưu trí và gan dạ, ông cùng đồng đội đã đánh sập cây cầu này, gây tiếng vang lớn, làm tê liệt tuyến giao thông huyết mạch của đối phương trong nhiều ngày. Tiếp đó là những trận đánh vang dội khác như phá cầu Bình Long, cầu Thượng Đức.
Đặc biệt, dấu ấn sâu đậm ở chiến trường khốc liệt với ông là những chiến công phá xe bọc thép, nơi da thịt đối đầu với sắt thép. Ông và đồng đội phải luồn sâu vào lòng địch, tiếp cận các xe bọc thép để phá hủy. Đây là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm vì nếu bị đối phương phát hiện thì chắc chắn hy sinh.
Vậy mà ông Xuân đã cùng đồng đội phá hủy tới hơn 20 xe bọc thép và tiêu diệt gần 300 lính đối phương, trong đó có lần phá hủy hơn 10 xe, tiêu diệt 152 lính. Sau mỗi trận đánh, ông đều được tặng bằng khen, giấy khen ghi nhận chiến công.
Với những thành tích xuất sắc, ông đã vinh dự được trao tặng Huân chương Chiến công hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng ba và rất nhiều bằng khen, giấy khen. Ông cũng đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh (năm 1965 -1966), Chiến sĩ thi đua toàn Quân khu 5 (năm 1967 – 1968).
Nhưng chiến tranh không chỉ có chiến công, mà còn là rất nhiều hy sinh. Ông Xuân ngậm ngùi nhớ lại, đại đội của ông khi vượt Trường Sơn vào nam có hơn 100 người lính trẻ măng, hừng hực khí thế. Vậy mà đến ngày đất nước im tiếng súng, chỉ còn khoảng hơn 20 người trở về. Những người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm như đại đội trưởng, chính trị viên đều đã nằm lại mãi mãi nơi chiến trường.
Nỗi đau càng thắt lại khi ông nhắc về những người đồng hương. Cùng đi từ thôn Bà Khê năm ấy có 8 anh em, nhưng chỉ còn 3 người trở về, trong đó ông Xuân đã để lại một phần máu thịt nơi chiến trường. Trong một trận càn ác liệt, ông Xuân cõng một đồng đội bị thương rút lui, đã không may vấp phải mìn, mất một phần chân trái và 3 lần phải cưa chân do đang tuổi phát triển, xương chân cứ thế trồi ra.
Hành trình từ cõi chết trở về của ông Xuân cũng đầy khốc liệt. Cuối năm 1969, ông được chuyển ra Bắc điều trị. Đoàn xe thương binh chở những người lính không còn lành lặn rời xa chiến trường, nhưng bom đạn vẫn không buông tha. Khi đoàn xe đi đến Hang Đá (Quảng Bình), máy bay đối phương phát hiện và trút bom. “Xe cháy, 40 thương binh ngồi trên xe trúng bom hy sinh gần hết, chỉ còn vài người sống sót, trong đó có tôi”, ông Xuân đau đớn nhớ lại. Ông liên tục thấm nước mắt khi nhắc lại kỷ niệm đau thương và cho biết thế hệ thanh niên quê ông năm ấy ra đi có rất ít người trở về, trong đó có những anh em của mình.
Năm 1971, sau thời gian điều trị, ông Lê Huy Xuân phục viên trở về quê hương Bà Khê. Cơ thể không còn lành lặn nhưng ông vẫn hăng hái tham gia công tác địa phương. Suốt 33 năm (từ 1971 – 2004), ông làm Tổ trưởng tổ tự quản, tham gia giữ gìn an ninh trật tự cho xóm làng. Dù thương tật hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, ông vẫn cần mẫn làm thợ mộc, làm ruộng để lo cho con cái.
Tuy nhiên có một điều chưa trọn vẹn là do bị thất lạc nhiều giấy tờ nên ông gặp rất nhiều khó khăn và thiệt thòi về các chế độ chính sách. Hiện ông chỉ được hưởng chế độ thương binh hạng 3/4. Ngoài ra, một người con của ông bị chậm phát triển trí tuệ, nghi do ông nhiễm chất độc khi tham gia chiến đấu ở chiến trường. Dẫu vậy, chưa khi nào ông đòi hỏi chế độ, bởi với ông, việc được sống và trở về đã là may mắn hơn những đồng đội của mình.
Khi chúng tôi hỏi ông muốn nhắn nhủ điều gì với thế hệ trẻ hôm nay, người lính già chia sẻ: “Tôi mong thế hệ trẻ hiểu và trân trọng sự hy sinh của thế hệ cha anh. Ngày xưa chúng tôi đi chiến trường là xác định sẵn sàng hy sinh tuổi xuân, xương máu vì đất nước, không toan tính thiệt hơn. Lớp trẻ bây giờ được sống trong hòa bình, cần chịu khó học tập và làm việc sao cho xứng đáng với thế hệ cha anh. Đừng bao giờ quên lịch sử, quên đi cái giá của độc lập tự do ngày hôm nay”.
Sau khi tốt nghiệp ngành nông nghiệp sạch Trường Nông nghiệp, ĐH Cần Thơ, chị Ngô Thị Xuân Thủy (36 tuổi, ngụ xã Tam Ngãi, Vĩnh Long - trước là xã Thông Hòa, H.Cầu Kè, Trà Vinh) có nhiều năm làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Quá trình làm việc, chị tích lũy được kiến thức, hiểu rõ nhu cầu thị trường và hình thành tư duy phát triển sản phẩm nông nghiệp sạch.
Những lần về quê, thấy bà con hái trái mù u bán dưới dạng nguyên liệu thô, giá trị chưa được khai thác trọn vẹn khiến chị trăn trở. Đến năm 2019, chị xin nghỉ việc, về quê khởi nghiệp từ trái mù u.
Trong quá trình nghiên cứu, chị phát hiện hạt mù u có thể chiết xuất thành loại dầu thảo dược có giá trị cao, thị trường trong nước còn nhiều tiềm năng. Chị bắt đầu mua hạt từ bà con người đồng bào dân tộc Khmer và những hộ dân quanh vùng, vừa tạo nguồn thu ổn định cho họ, vừa chủ động nguyên liệu sạch.
"Sau khi tìm hiểu, tôi biết cây mù u đã được người dân sử dụng từ hơn 30 năm trước như một phương thuốc trị bỏng rất hiệu quả. Tuy nhiên, bà con chỉ trồng mà chưa biết cách khai thác giá trị kinh tế. Vì vậy tôi nảy sinh ý tưởng làm dầu mù u", chị Thủy cho biết.
Năm 2021, chị Thủy chính thức đưa ra thị trường dòng dầu mù u sạch đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình khởi nghiệp. Chị chọn hướng đi khác biệt, làm dầu sạch theo phương pháp truyền thống, đảm bảo "3 không" (không pha tạp, không hóa chất, không phụ gia), đồng thời kiểm soát quy trình từ hạt đầu vào đến sản phẩm cuối cùng. Tất cả sản phẩm của chị Thủy đều đã được kiểm định chất lượng an toàn tại Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 (Ủy ban Tiêu chuẩn đo lường chất lượng quốc gia).
Nhằm đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao giá trị dược liệu địa phương, ngoài trái mù u, chị Thủy mở rộng danh mục sản phẩm từ hạt chùm ngây, tinh dầu sả chanh, bạc hà, vỏ bưởi… Sản phẩm không chỉ góp phần chăm sóc sắc đẹp, mà còn mang đến giải pháp phục hồi da tổn thương theo hướng an toàn.
Chị còn giúp 20 hộ đồng bào Khmer và nông dân trong vùng có đầu ra ổn định cho trái mù u. Nhiều hộ dân cho biết trước đây trái mù u rụng đầy vườn nhưng không ai mua. Từ khi có cơ sở của chị Thủy, bà con phơi khô bán được 10.000 - 15.000 đồng/kg. Bà Diêu Thị Thuận (ngụ xã Tam Ngãi, Vĩnh Long) cho hay: "Hồi trước trồng chơi thôi, trái rụng cũng bỏ. Giờ có cô Thủy mua đều đặn, tới mùa hái bán có thêm thu nhập. Nguồn thu tuy nhỏ nhưng ổn định, giúp nhiều hộ đồng bào Khmer như tôi có thêm chi phí sinh hoạt".
Hiện mỗi năm cơ sở của chị Thủy cung ứng khoảng 3 - 5 tấn dầu mù u, giá bán từ 500.000 đồng/lít, thu nhập dao động 200 - 300 triệu đồng/năm. Với vùng nguyên liệu ngày càng mở rộng, chị đặt mục tiêu tăng công suất lên 10 tấn dầu/năm; đồng thời dự định thành lập tổ hợp tác, HTX liên kết các nhà vườn trong vùng, hình thành chuỗi sản xuất khép kín từ khâu mua nguyên liệu đến chế biến, tinh luyện, đóng chai, đưa ra thị trường.
Dành cả thanh xuân để làm đôi chân cho đứa con bại não, bà Trang chưa bao giờ dám mơ về một ngày được cùng con đứng trên bục vinh danh đại học. Thế nhưng, sau 22 năm ròng rã cùng con chiến đấu với nghịch cảnh, người mẹ ấy đã có thể mỉm cười trong nước mắt khi nhìn con cầm trên tay tấm bằng cử nhân. Đây không chỉ là thành quả của một cá nhân, mà là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng và nghị lực sống phi thường.
Trong lễ tốt nghiệp mới đây của Trường ĐH Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, Nguyễn Thành Lâm ngồi trên xe lăn với sự hỗ trợ của mẹ để lên sân khấu nhận tấm bằng cử nhân. Một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng đủ khiến nhiều người không khỏi tò mò: hành trình phía sau của chàng trai này là gì?
Gặp Lâm sau buổi lễ tốt nghiệp vài ngày, điều gây ấn tượng với tôi không chỉ là sự điềm tĩnh, mà còn là cách chàng trai này nhìn nhận những khó khăn của mình như một điều… bình thường. Bên cạnh Lâm, “người bạn đồng hành” quen thuộc vẫn là chiếc khung tập đi. Dù việc di chuyển có nhiều hạn chế, từng bước đi đều nặng nề, nhưng Lâm vẫn có thể tự chạy xe ba bánh đi học, đi làm.
Lâm kể bản thân chào đời không may mắn như nhiều bạn khác, cậu bị bại não co cứng do sinh ngạt. Lâm tâm sự rằng những năm đầu đời, việc ngồi, bò hay di chuyển là điều tưởng chừng rất xa vời. Đến năm 3 tuổi, Lâm vẫn chưa thể tự ngồi, cơ thể rất yếu. “Gia đình khi đó đã đưa mình từ Tiền Giang (nay là Đồng Tháp) đến Vĩnh Long để tập vật lý trị liệu. Mình và mẹ thuê phòng trọ ở đó cho tiện việc điều trị, còn ba thỉnh thoảng sẽ đến thăm”, Lâm kể.
Sau khoảng thời gian kiên trì, cơ thể Lâm đã có những bước tiến. Thành quả đầu tiên của cuộc đời cậu không phải là điểm số, mà là cái ngồi vững chãi ở tuổi lên bốn. Từ đó đã mở ra hy vọng cho cuộc đời Lâm và cả gia đình.
Lên 7 tuổi, độ tuổi đến trường, gia đình Lâm lại đối mặt với những lời bàn tán như: “Nó bị vậy đi học làm gì” hay “Bị vậy sao không lo tập đi đứng”... Nhưng lúc đó bà Nguyễn Thị Thùy Trang (47 tuổi, mẹ của Lâm) vẫn quyết tâm cho con trai được đi học. “Năm 7 tuổi, mẹ đưa mình về lại nhà và đăng ký cho đi học. Vì đi học muộn nên gia đình xin trường cho miễn học mẫu giáo”, Lâm nhớ lại.
Từ đó, hành trình đến trường của Lâm bắt đầu, dù không hề dễ dàng, nhưng chưa bao giờ thiếu vắng bóng mẹ. Suốt 9 năm ròng rã từ tiểu học đến THCS, mẹ chưa bao giờ để Lâm đơn độc trên con đường đến trường. Lâm nhớ lại, những năm tiểu học, hình ảnh in sâu trong ký ức cậu là người mẹ đứng lặng lẽ ngoài cửa lớp mỗi giờ ra chơi, trên tay lúc nào cũng sẵn đồ ăn vặt cho con.
“Nhờ thời gian tập ở Vĩnh Long, từ lớp 1 mình đã có thể dùng xe lăn lắc tay để đi học. Vì không yên tâm nên mẹ luôn đi bộ theo sau, cũng may là trường gần nhà. Lên lớp 6, trường xa hơn, mẹ chuyển sang đạp xe đi theo. Dù nắng hay mưa, ngày nào mẹ cũng đưa đón”, Lâm xúc động kể.
Lâm thừa nhận, khó khăn lớn nhất không chỉ nằm ở thể chất mà còn là cảm giác tự ti. Suốt những năm qua, Lâm không tránh khỏi những ánh nhìn khác biệt và lời bàn tán. “Ban đầu mình cũng bị ảnh hưởng, nhưng rồi nghĩ họ nói xong rồi thôi, nếu cứ bận tâm thì chỉ làm mình buồn thêm. Vì vậy, mình chọn tập trung học và phát triển bản thân”, Lâm nói.
Bước ngoặt lớn đến vào những năm THPT, khi Lâm buộc phải tự lập nhiều hơn. Chàng trai kể nhà cách trường 7 km, mẹ không biết chạy xe máy nên một mình đến trường bằng chiếc xe điện 3 bánh. Từ đây, hành trình đến trường không còn bóng dáng mẹ bên cạnh mỗi ngày. Nhưng đổi lại, Lâm có thêm những người bạn đồng hành, bạn bè, thầy cô luôn sẵn sàng hỗ trợ khi cần.
Không chỉ dừng lại ở việc đến lớp, Lâm còn thi đỗ vào Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐH Ngoại ngữ - Tin học. Lâm kể ngày nhận tin trúng tuyển, cả gia đình vỡ òa trong hạnh phúc. Nhưng niềm vui ấy cũng đi kèm với nỗi lo của người mẹ. “Lúc nó ở gần mà tôi còn lo, phải đi theo sau mỗi lần đến trường, huống chi lên thành phố sống một mình”, bà Trang nói.
May mắn thay, Lâm có người chú ruột ở thành phố hỗ trợ trong suốt khoảng thời gian học đại học. Sau nhiều năm kiên trì đến lớp, Lâm đã có thể cầm trên tay tấm bằng cử nhân loại khá. “Mình muốn cùng mẹ cầm chung tấm bằng đại học vì hành trình này nếu không có mẹ có lẽ đã không có mình ngày hôm nay. Mình biết ơn bản thân vì không bỏ cuộc và cả những người đã luôn bên cạnh giúp đỡ”, Lâm bộc bạch.
Ngày nhìn thấy con trai trưởng thành, bà Trang không giấu được sự xúc động. Người mẹ ấy đã dành gần như toàn bộ thời gian của mình để chăm sóc con. Từ những ngày thuê trọ xa nhà để tập vật lý trị liệu, đến những năm tháng đưa đón con đi học, từng bữa ăn, bộ quần áo… tất cả đều xoay quanh đứa con trai đặc biệt.
Bà Trang nghẹn ngào chia sẻ: “Thấy con mình như vậy, tôi thương lắm. Hồi nhỏ, tay chân, cơ thể nó đã yếu ớt lại còn bệnh suốt nên cứ ai hỏi tới là tôi lại khóc. Có những lúc rất vất vả, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ dừng lại. Tôi chỉ sợ, nếu không cho con đi học thì sau này con biết làm gì để sống. Đến hôm nay, nhìn con trai cầm trên tay tấm bằng đại học, tôi mừng lắm. Trước đây, tôi chưa từng nghĩ sẽ có ngày này”.
Bên cạnh Lâm còn có sự hỗ trợ của những người bạn tốt. Trần Tuấn Kiệt, bạn học cùng khoa, người thường xuyên hỗ trợ Lâm trong những năm đại học, chia sẻ: “Những hôm học cùng, Lâm chạy xe đến trường rồi gọi mình xuống hỗ trợ đưa bạn lên lớp. Nhìn bạn đi học đều đặn như vậy, mình thật sự rất nể. Nếu là mình, chắc đã nản từ lâu rồi”.
Hành trình của Lâm là câu chuyện của những nỗ lực lặp đi lặp lại mỗi ngày, từ việc tập ngồi, tập đi, đến kiên trì đến lớp, vượt qua ánh nhìn và cả những giới hạn của bản thân. Lâm bộc bạch: “Ai cũng có những khó khăn riêng, nhưng điều quan trọng là đừng để nó định nghĩa cuộc đời mình. Cứ kiên trì, tin vào bản thân và đừng ngại khác biệt vì đôi khi chính những điều tưởng là điểm yếu lại trở thành sức mạnh”.
Trung sĩ Lê Kiên (27 tuổi, quê xã Vĩnh Tường, TP.Cần Thơ) hiện công tác tại Trại tạm giam số 3 Công an TP.Cần Thơ. Anh được nhiều người biết đến là một người chiến sĩ trẻ rất giỏi võ jujitsu.
Từ nhỏ, Kiên thích tập võ nên thử tìm hiểu nhiều môn như: karate, taekwondo, judo. Tuy nhiên, sau cùng anh đam mê nhất với jujitsu bởi môn võ này chú trọng những kỹ thuật thiên về khống chế, kiểm soát đối phương, thay vì các kỹ thuật như đòn đấm, đá, chỏ, gối. Đây là môn võ xuất xứ từ Brazil. Lực lượng cảnh sát, quân đội một số nước còn lấy làm giáo án bắt buộc trong chương trình huấn luyện.
Thấy hấp dẫn, khi là sinh viên năm 2, Kiên tìm kiếm các câu lạc bộ dạy môn võ jujitsu nhưng không có. Lúc đó, anh chịu khó tự tập luyện cùng một nhóm bạn, thuê huấn luyện viên từ TP.HCM xuống dạy mỗi tháng. Phải chờ một thời gian khá lâu thì mới có chỗ tập đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị. Với sự khổ luyện, đến năm 2021 Kiên đoạt huy chương bạc giải vô địch quốc gia, mở đầu cho chuỗi thành tích sau này.
Kiên có 2 bằng cử nhân triết học và luật tại Đại học Cần Thơ. Ra trường, Kiên có ngay việc làm yêu thích, thu nhập ổn định. Tuy nhiên, với mong muốn phục vụ Tổ quốc, tháng 2.2024, anh tình nguyện nhập ngũ. Hồ sơ của Kiên được địa phương xem xét cho tham gia nghĩa vụ công an nhân dân tại Công an tỉnh Hậu Giang (cũ).
Kiên cho biết việc anh thi đấu thể thao được các cấp chỉ huy tạo nhiều thuận lợi về thời gian tập luyện và điều kiện thi đấu. Năm đầu nhập ngũ, anh đã được điều động ra Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao công an nhân dân. "Tại đây, sự hướng dẫn tận tình của các cán bộ, huấn luyện viên và các vận động viên giàu kinh nghiệm đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều để phát triển chuyên môn", Kiên bộc bạch.
Đây chính là một yếu tố quan trọng giúp Kiên giành nhiều thành tích với môn võ jujitsu. Anh đã thi đấu bùng nổ tại Đại hội thể thao cảnh sát và cứu hỏa thế giới năm 2025 diễn ra tại Mỹ. Ở hạng cân dưới 62 kg, Kiên thể hiện phong độ ấn tượng khi giành chiến thắng tuyệt đối ở cả 2 nội dung GI và No GI, mang về 2 tấm huy chương vàng danh giá.
Không lâu sau đó, tại giải vô địch jujitsu Đông Nam Á năm 2025 diễn ra ở Philippines, Kiên tiếp tục mang về 1 huy chương bạc và 1 huy chương đồng cho đoàn VN. Không chỉ tỏa sáng trên thảm đấu, tại đơn vị công tác, Kiên luôn được đồng đội và chỉ huy tin tưởng. Từ một chiến sĩ nghĩa vụ, bằng sự nỗ lực tự thân, anh đã được Công an TP.Cần Thơ xét chuyển sang chế độ chuyên nghiệp vào tháng 2.2026.
Đánh giá về Kiên, trung tá Nguyễn Văn Phương, Trưởng phân trại tạm giam Phụng Hiệp, Trại tạm giam số 3 Công an TP.Cần Thơ, cho biết Kiên là chiến sĩ trẻ có ý chí cầu tiến cao. Dù thường xuyên phải tập trung huấn luyện cường độ cao cho các giải đấu lớn, nhưng khi trở về đơn vị, Kiên luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Kiên sống hòa đồng và sẵn sàng giúp đỡ đồng đội. Sự nỗ lực của Kiên là tấm gương sáng để các đoàn viên, thanh niên trong đơn vị học tập và noi theo.