Dành cả thanh xuân để làm đôi chân cho đứa con bại não, bà Trang chưa bao giờ dám mơ về một ngày được cùng con đứng trên bục vinh danh đại học. Thế nhưng, sau 22 năm ròng rã cùng con chiến đấu với nghịch cảnh, người mẹ ấy đã có thể mỉm cười trong nước mắt khi nhìn con cầm trên tay tấm bằng cử nhân. Đây không chỉ là thành quả của một cá nhân, mà là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng và nghị lực sống phi thường.
Trong lễ tốt nghiệp mới đây của Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM, Nguyễn Thành Lâm ngồi trên xe lăn với sự hỗ trợ của mẹ để lên sân khấu nhận tấm bằng cử nhân. Một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng đủ khiến nhiều người không khỏi tò mò: hành trình phía sau của chàng trai này là gì?
Gặp Lâm sau buổi lễ tốt nghiệp vài ngày, điều gây ấn tượng với tôi không chỉ là sự điềm tĩnh, mà còn là cách chàng trai này nhìn nhận những khó khăn của mình như một điều… bình thường. Bên cạnh Lâm, “người bạn đồng hành” quen thuộc vẫn là chiếc khung tập đi. Dù việc di chuyển có nhiều hạn chế, từng bước đi đều nặng nề, nhưng Lâm vẫn có thể tự chạy xe ba bánh đi học, đi làm.
Lâm kể bản thân chào đời không may mắn như nhiều bạn khác, cậu bị bại não co cứng do sinh ngạt. Lâm tâm sự rằng những năm đầu đời, việc ngồi, bò hay di chuyển là điều tưởng chừng rất xa vời. Đến năm 3 tuổi, Lâm vẫn chưa thể tự ngồi, cơ thể rất yếu. “Gia đình khi đó đã đưa mình từ Tiền Giang (nay là Đồng Tháp) đến Vĩnh Long để tập vật lý trị liệu. Mình và mẹ thuê phòng trọ ở đó cho tiện việc điều trị, còn ba thỉnh thoảng sẽ đến thăm”, Lâm kể.
Sau khoảng thời gian kiên trì, cơ thể Lâm đã có những bước tiến. Thành quả đầu tiên của cuộc đời cậu không phải là điểm số, mà là cái ngồi vững chãi ở tuổi lên bốn. Từ đó đã mở ra hy vọng cho cuộc đời Lâm và cả gia đình.
Lên 7 tuổi, độ tuổi đến trường, gia đình Lâm lại đối mặt với những lời bàn tán như: “Nó bị vậy đi học làm gì” hay “Bị vậy sao không lo tập đi đứng”… Nhưng lúc đó bà Nguyễn Thị Thùy Trang (47 tuổi, mẹ của Lâm) vẫn quyết tâm cho con trai được đi học. “Năm 7 tuổi, mẹ đưa mình về lại nhà và đăng ký cho đi học. Vì đi học muộn nên gia đình xin trường cho miễn học mẫu giáo”, Lâm nhớ lại.
Từ đó, hành trình đến trường của Lâm bắt đầu, dù không hề dễ dàng, nhưng chưa bao giờ thiếu vắng bóng mẹ. Suốt 9 năm ròng rã từ tiểu học đến THCS, mẹ chưa bao giờ để Lâm đơn độc trên con đường đến trường. Lâm nhớ lại, những năm tiểu học, hình ảnh in sâu trong ký ức cậu là người mẹ đứng lặng lẽ ngoài cửa lớp mỗi giờ ra chơi, trên tay lúc nào cũng sẵn đồ ăn vặt cho con.
“Nhờ thời gian tập ở Vĩnh Long, từ lớp 1 mình đã có thể dùng xe lăn lắc tay để đi học. Vì không yên tâm nên mẹ luôn đi bộ theo sau, cũng may là trường gần nhà. Lên lớp 6, trường xa hơn, mẹ chuyển sang đạp xe đi theo. Dù nắng hay mưa, ngày nào mẹ cũng đưa đón”, Lâm xúc động kể.
Lâm thừa nhận, khó khăn lớn nhất không chỉ nằm ở thể chất mà còn là cảm giác tự ti. Suốt những năm qua, Lâm không tránh khỏi những ánh nhìn khác biệt và lời bàn tán. “Ban đầu mình cũng bị ảnh hưởng, nhưng rồi nghĩ họ nói xong rồi thôi, nếu cứ bận tâm thì chỉ làm mình buồn thêm. Vì vậy, mình chọn tập trung học và phát triển bản thân”, Lâm nói.
Bước ngoặt lớn đến vào những năm THPT, khi Lâm buộc phải tự lập nhiều hơn. Chàng trai kể nhà cách trường 7 km, mẹ không biết chạy xe máy nên một mình đến trường bằng chiếc xe điện 3 bánh. Từ đây, hành trình đến trường không còn bóng dáng mẹ bên cạnh mỗi ngày. Nhưng đổi lại, Lâm có thêm những người bạn đồng hành, bạn bè, thầy cô luôn sẵn sàng hỗ trợ khi cần.
Không chỉ dừng lại ở việc đến lớp, Lâm còn thi đỗ vào Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học. Lâm kể ngày nhận tin trúng tuyển, cả gia đình vỡ òa trong hạnh phúc. Nhưng niềm vui ấy cũng đi kèm với nỗi lo của người mẹ. “Lúc nó ở gần mà tôi còn lo, phải đi theo sau mỗi lần đến trường, huống chi lên thành phố sống một mình”, bà Trang nói.
May mắn thay, Lâm có người chú ruột ở thành phố hỗ trợ trong suốt khoảng thời gian học đại học. Sau nhiều năm kiên trì đến lớp, Lâm đã có thể cầm trên tay tấm bằng cử nhân loại khá. “Mình muốn cùng mẹ cầm chung tấm bằng đại học vì hành trình này nếu không có mẹ có lẽ đã không có mình ngày hôm nay. Mình biết ơn bản thân vì không bỏ cuộc và cả những người đã luôn bên cạnh giúp đỡ”, Lâm bộc bạch.
Ngày nhìn thấy con trai trưởng thành, bà Trang không giấu được sự xúc động. Người mẹ ấy đã dành gần như toàn bộ thời gian của mình để chăm sóc con. Từ những ngày thuê trọ xa nhà để tập vật lý trị liệu, đến những năm tháng đưa đón con đi học, từng bữa ăn, bộ quần áo… tất cả đều xoay quanh đứa con trai đặc biệt.
Bà Trang nghẹn ngào chia sẻ: “Thấy con mình như vậy, tôi thương lắm. Hồi nhỏ, tay chân, cơ thể nó đã yếu ớt lại còn bệnh suốt nên cứ ai hỏi tới là tôi lại khóc. Có những lúc rất vất vả, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ dừng lại. Tôi chỉ sợ, nếu không cho con đi học thì sau này con biết làm gì để sống. Đến hôm nay, nhìn con trai cầm trên tay tấm bằng đại học, tôi mừng lắm. Trước đây, tôi chưa từng nghĩ sẽ có ngày này”.
Bên cạnh Lâm còn có sự hỗ trợ của những người bạn tốt. Trần Tuấn Kiệt, bạn học cùng khoa, người thường xuyên hỗ trợ Lâm trong những năm đại học, chia sẻ: “Những hôm học cùng, Lâm chạy xe đến trường rồi gọi mình xuống hỗ trợ đưa bạn lên lớp. Nhìn bạn đi học đều đặn như vậy, mình thật sự rất nể. Nếu là mình, chắc đã nản từ lâu rồi”.
Hành trình của Lâm là câu chuyện của những nỗ lực lặp đi lặp lại mỗi ngày, từ việc tập ngồi, tập đi, đến kiên trì đến lớp, vượt qua ánh nhìn và cả những giới hạn của bản thân. Lâm bộc bạch: “Ai cũng có những khó khăn riêng, nhưng điều quan trọng là đừng để nó định nghĩa cuộc đời mình. Cứ kiên trì, tin vào bản thân và đừng ngại khác biệt vì đôi khi chính những điều tưởng là điểm yếu lại trở thành sức mạnh”.
Chia sẻ tại Hành trình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc (diễn ra cuối năm 2025 tại Quảng Châu, do Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Đông tổ chức), TS Trương Thị Bích Hạnh, Phó hiệu trưởng Trường THPT chuyên Khoa học xã hội và nhân văn (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội), đã đưa ra cách tiếp cận giàu chiều sâu lịch sử để lý giải nền tảng của tình hữu nghị và giá trị của giao lưu nhân văn giữa hai quốc gia.
Theo TS Trương Thị Bích Hạnh, nhìn lại lịch sử, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 - thời điểm mang tính bước ngoặt đối với cả hai dân tộc, có 3 điểm tương đồng cơ bản giữa hai nước Việt - Trung, được gọi là "3 chữ đồng": đồng văn (cùng chung nền tảng văn hóa), đồng chủng (có sự gần gũi về nguồn gốc) và đồng bệnh (cùng đối mặt với nguy cơ mất nước và tình trạng lạc hậu). Chính những điểm tương đồng này đã tạo nên sự gắn bó tự nhiên, thúc đẩy các thế hệ yêu nước hai nước tìm đến nhau trong hành trình cứu quốc.
Bà Hạnh cho biết có 3 thế hệ người Việt Nam sang Trung Quốc tìm đường cứu nước. Từ những nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19, đến thế hệ Phan Bội Châu với nỗ lực xây dựng các tổ chức cách mạng, và sau đó là thế hệ do Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Ở chiều ngược lại, nhiều nhà cách mạng Trung Quốc, tiêu biểu là Tôn Trung Sơn, cũng từng hoạt động tại Việt Nam, góp phần tạo nên sự giao thoa tư tưởng và hành động giữa hai dân tộc.
Theo TS Trương Thị Bích Hạnh, những thành công hay thất bại của các thế hệ đi trước đều để lại di sản quý giá, trong đó có nền tảng của tình hữu nghị Việt - Trung ngày nay. Đây chính là "gốc rễ" để hai nước tiếp tục phát triển giao lưu nhân văn trong bối cảnh hiện đại.
Từ nền tảng lịch sử đó, bà Hạnh cho rằng giao lưu nhân văn Việt Nam - Trung Quốc hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Không chỉ dựa trên sự tương đồng về lịch sử và văn hóa, hai nước còn có quá trình đồng hành trong việc tìm kiếm con đường phát triển và thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950.
Đặc biệt, TS Hạnh nhấn mạnh sự mở rộng từ "3 chữ đồng" trong lịch sử sang một "chữ đồng" mới trong hiện tại - đó là "đồng hành", cùng hướng tới xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai. Qua đó, bà khẳng định các chương trình giao lưu nhân văn không chỉ mang ý nghĩa giao lưu đơn thuần, mà còn là sự tiếp nối lịch sử, góp phần củng cố hiểu biết, tăng cường tin cậy và làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Là một học giả của Trung Quốc, ông Ngưu Khải Quân, Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, ĐH Trung Sơn, cũng cho rằng Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng và liên kết về mặt văn hóa. Trong số các quốc gia Đông Nam Á, người Trung Quốc dễ dàng giao tiếp và thấu hiểu nhất chính là với người Việt Nam và người Singapore. "Xét từ góc độ này, nếu Trung Quốc muốn giao lưu và hợp tác sâu rộng với các nước Đông Nam Á, thì Việt Nam và Singapore sẽ là những cầu nối quan trọng nhất, cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân", ông Ngưu Khải Quân nhận định thêm.
Theo ông Quân, hiện nay có rất nhiều sinh viên Trung Quốc sang Việt Nam học tập, khảo sát và cũng có rất nhiều lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc. Đồng thời, giao lưu học thuật giữa các chuyên gia, học giả hai nước cũng nở rộ và số lượng người Trung Quốc đang làm ăn, kinh doanh tại Hà Nội và TP.HCM cũng rất lớn. "Tôi cho rằng đây đều là những cầu nối quan trọng giúp hai nước Trung - Việt thấu hiểu nhau hơn", Viện trưởng Ngưu Khải Quân nêu.
Nhận định về các biện pháp thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới, ông Ngưu Khải Quân kỳ vọng trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò cầu nối tích cực trong tăng cường hợp tác kinh tế cũng như đẩy mạnh giao lưu nhân văn giữa hai nước nói riêng và Trung Quốc - ASEAN nói chung. "Tôi cho rằng trước hết, hai bên có thể thúc đẩy hợp tác kinh tế. Một trong những khía cạnh hợp tác nhiều tiềm năng phải kể đến là lĩnh vực robot và năng lượng mới. Đây được coi là những thế mạnh của Trung Quốc hiện nay", ông Quân khẳng định.
Ngoài ra, hai bên có thể thúc đẩy giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân. Theo Viện trưởng Quân, cả văn hóa và kinh tế đều còn rất nhiều dư địa để hai bên trao đổi, giao lưu và học hỏi. Khi được hỏi đánh giá của ông về Năm giao lưu nhân văn Việt - Trung 2025, ông Ngưu Khải Quân cho biết sẽ sử dụng 3 từ: thấu hiểu, tôn trọng, và giao lưu.
"Chỉ cần hai bên tăng cường giao lưu, thì chúng ta sẽ thấu hiểu nhau hơn, từ đó dẫn đến sự tôn trọng lẫn nhau. Và càng tôn trọng nhau, thì quan hệ hai nước sẽ càng tiến xa hơn và bền vững hơn. Như tôi đã đề cập, văn hóa hai nước Trung - Việt có rất nhiều điểm tương đồng. Trong số những người nước ngoài tôi từng tiếp xúc, người Việt Nam là những người mà tôi dễ dàng trao đổi sâu sắc nhất. Khi đã có sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau, những mâu thuẫn nhỏ giữa các quốc gia đều có thể giải quyết được. Giao lưu càng nhiều, quan hệ đôi bên sẽ càng bền vững và lâu dài", ông Quân nhấn mạnh.
Có mặt trong Hành trình hữu nghị Việt - Trung, ông Nguyễn Việt Dũng, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, đã cùng các đại biểu tham quan nhiều di tích mang dấu ấn sâu đậm của tình hữu nghị Việt - Trung như: Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, nơi có ngôi mộ liệt sĩ Việt Nam Phạm Hồng Thái. Ông Dũng đã có những chia sẻ sâu sắc về tầm quan trọng và ý nghĩa của hành trình thăm các "địa chỉ đỏ" đối với quan hệ hai nước.
Theo ông Nguyễn Việt Dũng, hành trình đỏ là nhịp cầu nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại năng động. Việc đoàn đại biểu được thăm lại những di tích lịch sử gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối tại Trung Quốc là một trải nghiệm vô cùng xúc động. Đây là cơ hội để thế hệ trẻ thấu hiểu sâu sắc về tình đoàn kết, sự kề vai sát cánh giữa hai dân tộc trong những giai đoạn lịch sử gian khổ nhưng vẻ vang, từ đó tiếp thêm động lực để giữ gìn và phát huy tình hữu nghị truyền thống.
Cũng trong hành trình này, đoàn đại biểu đã gặp những học giả Trung Quốc yêu mến Việt Nam. Ông Phòng Vĩnh Phu, nghiên cứu viên cao cấp Trung tâm Đông Nam Á (ĐH Trung Sơn), là một trong những người gắn bó lâu dài với Việt Nam và nói tiếng Việt như người Việt. Ông đã hơn 30 lần đến Việt Nam, đi qua nhiều địa phương từ Lạng Sơn đến Phú Quốc. Năm 2012, dù đã cao tuổi, ông vẫn cố gắng về Nghệ An để thăm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cho biết mỗi ngày ông dành hơn một giờ để đọc tin tức Việt Nam. Ông bày tỏ ấn tượng với sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là tinh thần cải cách và khát vọng vươn lên trong giai đoạn mới.
"Tôi đã tham gia giảng dạy cho nhiều sinh viên người Việt Nam, họ rất chăm chỉ, dễ mến, có chí tiến thủ. Các thế hệ thanh niên hai nước cần kiên trì đi theo con đường lý tưởng cách mạng của các bậc tiền bối, vun đắp cho tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững", ông Phòng Vĩnh Phu bày tỏ. (còn tiếp)
Với những đặc thù là khu vực đông sinh viên và người dân lưu trú, nên vấn đề an ninh, trật tự ở Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM luôn đặt ra nhiều thử thách.
PGS.TS Nguyễn Minh Tâm, Phó giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM, Chủ tịch Hội đồng Quản lý Trung tâm quản lý ký túc xá và Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM, xúc động cho biết "Trạm an ninh" là ước mơ của ĐH Quốc gia hơn 10 năm nay. Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tâm, từ nhiều năm trước, ĐH Quốc gia cũng làm việc với Công an tỉnh Bình Dương để có một đồn công an triển khai an ninh trật tự, an toàn giao thông, nhưng khi tổ chức thực hiện vướng nhiều quy định về hành lang pháp lý, chưa đủ điều kiện để thành lập. Nay Trạm an ninh Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM được khánh thành là tiền đề rất tốt cho Khu đô thị trong công tác giữ vững an ninh trật tự, đảm bảo môi trường học tập và lưu trú tốt nhất cho sinh viên, giảng viên…
Trạm an ninh Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM được xây dựng theo Quy chế phối hợp giữa Trung tâm quản lý ký túc xá và Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM với Công an phường Linh Xuân và Công an phường Đông Hòa về phối hợp đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và phòng chống tội phạm tại Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM trên địa bàn 2 phường.
Ông Tăng Hữu Thủy, Giám đốc Trung tâm quản lý ký túc xá và Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM, cho biết việc đưa vào vận hành Trạm an ninh Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ là bước củng cố quan trọng để tăng hiện diện lực lượng tại chỗ, rút ngắn thời gian phối hợp xử lý và nâng hiệu quả điều hành thực địa trên toàn khu vực.
Trung tâm sẽ cùng công an 2 phường xây dựng cơ chế vận hành để đảm bảo Trạm an ninh sẽ là điểm tập hợp lực lượng thường trực của công an, an ninh cơ sở 2 phường và lực lượng đối ứng của trung tâm để tổ chức tuần tra, kiểm tra theo lịch định kỳ, đột xuất; là địa điểm thường trực của lực lượng an ninh đảm bảo an ninh trật tự, an toàn đô thị, phòng chống cháy nổ của trung tâm và toàn Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM, đồng thời đây cũng là nơi trao đổi thông tin, nắm tình hình, giao ban, hội ý, hội họp giữa công an 2 địa phương với trung tâm; giao ban công tác tuần tra, kiểm tra địa bàn theo lịch đã thống nhất.
Bên cạnh đó, với địa thế nằm trên ngọn đồi cao, trung tâm còn mong muốn đây là địa điểm đẹp để sinh viên check-in, hỗ trợ cán bộ giảng viên, sinh viên, phụ huynh kịp thời, đồng thời cũng kỳ vọng đây là địa điểm có thể tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quy mô nhỏ của sinh viên.
Việc khánh thành và đưa vào vận hành, sử dụng đồng thời hoàn thiện cơ chế triển khai, phối hợp Trạm an ninh Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ giúp tăng cường hiệu quả công tác phối hợp giữa 3 đơn vị giúp nâng cao chất lượng công tác phối hợp, tuần tra, kiểm soát hướng đến đảm an ninh, an toàn tại ĐH Quốc gia TP.HCM; giúp sinh viên có môi trường rèn luyện, sinh hoạt, học tập chất lượng hơn, an toàn hơn; góp phần hoàn thành mục tiêu chiến lược của ĐH Quốc gia TP.HCM và xây dựng đô thị đại học trí thức, xanh, thân thiện, hiện đại.
Trạm an ninh Khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM với diện tích xây dựng 72 m2, diện tích khuôn viên thảm cỏ xung quanh 400 m2, với tổng mức đầu tư 700 triệu đồng. Trạm được khởi công ngày 7.3 và hoàn thành, đưa vào sử dụng ngày 9.4.
Chiều 7.4, đoàn công tác của T.Ư Đoàn do anh Nguyễn Tường Lâm, Bí thư T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, dẫn đầu, đã tới thăm và chúc mừng Đại sứ quán Lào và Đại sứ quán Campuchia tại Việt Nam, nhân dịp tết cổ truyền của hai nước.
Đón tiếp đoàn công tác tại Đại sứ quán Lào, có bà Khamphao Ernthavanh, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam. Tại đây, anh Nguyễn Tường Lâm gửi lời chúc mừng năm mới tới Đại sứ và toàn thể cán bộ Đại sứ quán Lào và nhân dân Lào nhân dịp tết cổ truyền Bun Pi May 2026.
Anh Nguyễn Tường Lâm khẳng định, dưới sự quan tâm của lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, quan hệ giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Lào ngày càng được củng cố, phát triển thực chất, góp phần vun đắp mối quan hệ "hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện" Việt Nam - Lào.
Điểm lại kết quả năm 2025, anh Nguyễn Tường Lâm cho biết hai bên đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác thiết thực như: các chuyến thăm, làm việc, chương trình giao lưu thanh thiếu nhi, hoạt động hỗ trợ tại địa phương và các sự kiện đối ngoại thanh niên quy mô lớn.
Nhân dịp này, anh Nguyễn Tường Lâm bày tỏ mong muốn trong thời gian tới sẽ tiếp tục nhận được sự phối hợp chặt chẽ của Đại sứ quán Lào và các tổ chức thanh niên Lào, để triển khai hiệu quả các hoạt động giao lưu, hợp tác.
Đại sứ Khamphao Ernthavanh bày tỏ sự xúc động trước tình cảm của T.Ư Đoàn. Bà khẳng định, thanh niên chính là lực lượng kế cận trong việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.
Bà Khamphao Ernthavanh đánh giá cao sự hỗ trợ của T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đối với lưu học sinh Lào đang học tập tại Việt Nam, coi đây là nhân tố quan trọng để thắt chặt thêm tình anh em giữa hai dân tộc.
Tại Đại sứ quán Campuchia, bà Touch Sopharath, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Campuchia tại Việt Nam, đã đón đoàn công tác.
Anh Nguyễn Tường Lâm đã gửi lời chúc mừng năm mới tới Đại sứ cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và nhân dân Vương quốc Campuchia, đồng thời bày tỏ vui mừng trước không khí thân tình, hữu nghị của cuộc gặp.
Anh Nguyễn Tường Lâm khẳng định, trong thời gian qua, dưới sự quan tâm của lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, các hoạt động giao lưu, hợp tác giữa tổ chức thanh niên hai nước được triển khai phong phú, thiết thực, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của thanh niên. Qua đó, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giáo dục thế hệ trẻ về mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và bền vững lâu dài Việt Nam - Campuchia.
Anh Nguyễn Tường Lâm cũng điểm lại một số kết quả hợp tác nổi bật của thanh niên hai nước và cho rằng các hoạt động này góp phần củng cố nền tảng xã hội cho quan hệ hai nước.
Nhân dịp này, anh Nguyễn Tường Lâm trân trọng cảm ơn sự phối hợp, hỗ trợ của Đại sứ quán Campuchia trong thời gian qua, đồng thời bày tỏ mong muốn tiếp tục tăng cường hợp tác, mở rộng các chương trình giao lưu, nhất là trong khuôn khổ ASEAN.
Đại sứ Touch Sopharath cảm ơn sự quan tâm của tuổi trẻ Việt Nam. Bà nhấn mạnh rằng, việc bà chọn Việt Nam là quốc gia đầu tiên để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao trên cương vị Đại sứ đã minh chứng cho tầm quan trọng của mối quan hệ hai nước.
Bà Touch Sopharath hứa sẽ là cầu nối tích cực để thúc đẩy các hoạt động giao lưu giữa thanh niên hai nước, đặc biệt là các chương trình khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.