Cuối tháng 1, chị Nguyễn Thị Thái, 43 tuổi, trú phường Bá Xuyên, vừa kết thúc ca làm việc thì nhận được một đường link video từ người quen. Trong đoạn phim, một phụ nữ tự xưng là Nguyễn Thanh Trúc sống ở Trung Quốc muốn tìm gia đình ở Việt Nam. Ký ức của chị chỉ còn hai cái tên: bố Nguyễn Đức Khánh và em út Nguyễn Thị Thái.
“Chỉ cần nhìn mặt, tôi nhận ngay ra đó là chị gái mình”, chị Thái nói.
Chị Nguyễn Thanh Trúc, 51 tuổi, là con thứ ba của ông Nguyễn Đức Khánh, 78 tuổi và bà Nguyễn Thị Thi, 74 tuổi ở tổ 2, phường Mỏ Chè, TP Sông Công (nay là phường Bá Xuyên).
Thông qua người phiên dịch, chị Trúc kể mùa hè năm 1993, khi đang làm việc tại một lò gạch, được một phụ nữ rủ đi làm công việc lương cao. Sau đó, cô gái 18 tuổi năm đó bị đưa đến sống với một người đàn ông không minh mẫn ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Hàng ngày, chị phải lên núi hái thảo dược đem bán. Không tiền, không biết tiếng địa phương, không có phương tiện liên lạc, chị kẹt lại xứ người.
Cuộc sống dần ổn định sau khi chị Trúc kết hôn với người chồng thứ hai. Nhờ mạng xã hội phát triển, chị nhờ một du học sinh Việt Nam tại Trung Quốc quay video và đăng trên các trang mạng ở Việt Nam để tìm người thân. Sau 33 năm, chị quên gần hết tiếng Việt, chỉ nhớ tên bố và em gái.
Hai ngày sau khi video được đăng tải, chị Trúc kết nối được với gia đình. Gặp lại bố mẹ và em gái qua màn hình, ban đầu chị không nhận ra. Khi được nhắc lại những kỷ niệm cũ, chị mới bật khóc.
Việc tìm thấy chị Trúc khép lại biến cố kéo dài gần 40 năm của gia đình ông Khánh.
Bi kịch của gia đình bắt đầu năm 1987 khi bà Thi có dấu hiệu không tỉnh táo và bỏ nhà đi. Tìm vợ không được, ông Khánh tái hôn hơn một năm sau đó.
Năm 1989, người con gái tên Nguyễn Thị Thủy mất tích. Năm 1993, Nguyễn Thanh Trúc cũng “bặt vô âm tín” giống mẹ và chị.
Những năm đó, ông Khánh chỉ biết trình báo chính quyền, nhờ phát loa tìm kiếm nhưng không có kết quả.
Năm 2005, sau 16 năm mất liên lạc, gia đình nhận được thư của chị Thủy gửi từ Trung Quốc, kể chuyện bị bán làm vợ một người đàn ông nước này. Hai năm sau, chị đưa chồng con về Việt Nam thăm gia đình.
Năm 2017, hai năm sau khi người vợ kế của ông Khánh qua đời, gia đình nhận được tin công an tìm thấy bà Thi tại cửa khẩu Lạng Sơn. Bà vẫn nhớ tên chồng, 4 người con và địa chỉ gia đình ngoại nên được đón về. Trở về sau 30 năm, bà Thi bạc trắng tóc, lúc nhớ lúc quên. Bà kể từng bị một nhóm người bắt đi sang bên kia biên giới và phải nhặt ve chai cho chủ.
Hiện tại, cuộc sống của bà Thi phụ thuộc vào chồng con. Ban ngày, ông Khánh lo cơm nước; tối đến chị Thái lại sang phụ giúp tắm rửa, trò chuyện, vỗ về mẹ.
Bà Dương Thúy Hằng, Tổ trưởng tổ dân phố số 2, phường Bá Xuyên, cho biết vợ chồng ông Khánh hiện sống trong căn nhà tạm, dựa vào khoản trợ cấp mất sức lao động của ông và trợ cấp khuyết tật của bà. “Bà Thi trở về nhưng trí não không minh mẫn, thi thoảng vẫn lang thang đi nhặt rác. Rất may ông bà có con trai, con gái sống gần thường xuyên qua săn sóc”, bà Hằng nói.
Trong cuộc gọi video với chị Trúc đầu tháng 2, chị Thái cùng bố mẹ kết nối với chị Thủy. Lần đầu tiên sau 39 năm gia đình mới nhìn thấy đủ mặt các thành viên.
“Bố mẹ già rồi, các chị sắp xếp về thăm nhé”, Thái nói với các chị và nhận được cái gật đầu.
Lớn lên thiếu vắng tình thương và sự chăm sóc của mẹ đẻ, nay mẹ trở về trong cảnh tuổi già, bệnh tật, với anh em chị Thái, đó vẫn là điều may mắn. “Mẹ không có công dưỡng nhưng có công sinh. Còn cha mẹ để được chăm sóc với tôi là niềm vui, hạnh phúc”, chị nói.
Ông Khánh cho biết nửa đời người luôn áy náy khi lạc mất vợ, hai đứa con đi biệt tích. Giờ kết nối được với các con, bà Thi tìm được về, tuổi già của ông coi như trọn vẹn.
Năm nay, các chị gái của Thái đều lên kế hoạch về Việt Nam thăm cha mẹ. Lúc đó, đại gia đình “sẽ được ôm nhau, bằng da bằng thịt”.
Buổi đối thoại chủ đề "Kể tốt câu chuyện hữu nghị Việt - Trung" trong khuôn khổ chương trình "Hành trình đỏ - Nghiên cứu, học tập của thanh niên" tại Trung Quốc với 192 đại biểu thanh niên, thiếu nhi Việt Nam hiện có mặt tại Trung Quốc.
Anh Vương Tử Triệu - phát thanh viên hạng I, Ủy viên Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Quảng Đông - mở đầu phần chia sẻ bằng chuyến đi đến TP.HCM.
Anh kể trong một lần di chuyển, gặp khó khăn trong việc tìm đường đã gặp một tài xế xe ôm dành hơn một giờ dẫn đường cho anh.
Khi đưa anh đến nơi cần tìm, người này không nhận tiền mà chỉ để lại một câu nói: "Chào mừng đến Việt Nam".
Cũng trong chuyến đi đó, tại một quán cà phê anh tình cờ gặp một ca sĩ người Việt. Hai người bắt đầu trò chuyện và sau đó cùng hát bài Bằng hữu, một bài hát khá nổi tiếng của Trung Quốc. Chỉ với một bài hát quen thuộc, không cần nhiều lời giải thích, khoảng cách giữa hai bạn trẻ Việt - Trung dường như được rút ngắn.
Anh Triệu nói những trải nghiệm này giúp anh ghi nhớ cách thể hiện sự thiện chí trong đời sống thường ngày, từ những hành động cụ thể và trực tiếp.
Cũng lựa chọn cách kể từ những chi tiết nhỏ, chị Chu Anh Thụy, MC Đài phát thanh - truyền hình Quảng Châu, thường kể lại những câu chuyện bạn bè của chị khi đến Việt Nam. Một người lớn tuổi khi biết họ là người Trung Quốc đã chủ động chào bằng tiếng Trung dù chưa thật trôi chảy.
Theo chị, khi kể câu chuyện hữu nghị, điều quan trọng nằm ở lựa chọn cách thể hiện đủ gần để người nghe có thể cảm nhận.
Anh Lê Minh Đức - Bí thư Đoàn Thanh niên Thông tấn xã Việt Nam - nhắc đến những chi tiết thường gặp trong đời sống của thanh niên hai nước như quan tâm đến ẩm thực, phim ảnh hay các hoạt động giao lưu, học tập và làm việc.
Những yếu tố này có thể thành chất liệu xây dựng nội dung truyền thông. Anh Đức cho rằng sự phát triển của AI đang tạo ra nhiều công cụ hỗ trợ người làm báo và sáng tạo nội dung từ sản xuất, phân phối đến cá nhân hóa thông tin.
Các nền tảng số và công nghệ mới có thể được tận dụng để xây dựng những sản phẩm truyền thông phù hợp hơn với thói quen tiếp nhận của người trẻ.
Chị Nguyễn Bích Hà, nhà sáng tạo nội dung số của Schannel Network, bật mí mình có cảm hứng bắt đầu làm video từ nhà sáng tạo nội dung Lý Tử Thất nổi tiếng của Trung Quốc. Chị lựa chọn ghi lại và chia sẻ hình ảnh văn hóa, con người Việt Nam.
Trùng hợp, người bạn quốc tế đầu tiên của chị cũng đến từ Trung Quốc, bắt đầu từ việc xem các video về du lịch, ẩm thực Việt Nam trên nền tảng TikTok. Hai người kết nối từ phần bình luận, sau đó tiếp tục trao đổi và giữ liên lạc.
Từ một video về bánh mì Việt Nam, câu chuyện giữa hai người dần mở rộng sang những nội dung khác về đời sống. Trong những chuyến đi sau đó, chị tiếp tục ghi nhận những trải nghiệm tương tự.
Khi đến khu vực cửa khẩu Hà Khẩu, chị sử dụng Tiểu Hồng Thư - một nền tảng mạng xã hội của Trung Quốc - để tìm kiếm địa điểm và nhận thấy nhiều bạn trẻ Trung Quốc chia sẻ về Việt Nam.
Tại Hoàng Sơn, một chủ quán bánh nướng truyền thống cho biết cửa hàng của ông được nhiều bạn trẻ Việt Nam biết đến qua mạng xã hội.
"Những trải nghiệm này hoàn toàn có thể làm thành các sản phẩm chung giữa nhà sáng tạo nội dung hai nước như video song ngữ, vlog trải nghiệm hoặc các cuộc trò chuyện giữa người trẻ để đăng tải trên các nền tảng quen thuộc", chị Hà nói.
Đằng sau những tấm thẻ xác nhận khuyết tật đối vớinhiều trường hợp sẽ là một hành trình đi xa và vất vả.
Thương mẹ, từ một người phụ nữ từng đi chợ, làm vườn, chăm lo mọi việc trong nhà, mẹ trở thành người cần được chăm sóc.
Gia đình tôi sau đó làm hồ sơ để mẹ được hưởng chế độ trợ cấp ở diện là con liệt sĩ bị khuyết tật (ông ngoại tôi là liệt sĩ, bà ngoại là thương binh). Khoản hỗ trợ hàng tháng tuy không lớn, nhưng phần nào giúp trang trải chi phí thuốc men cho mẹ. Chúng tôi rất biết ơn về sự hỗ trợ này, vì gia đình thuộc diện khó khăn và neo đơn. Nhưng để có được tấm giấy xác nhận ấy, hành trình với chúng tôi đúng là hành trình những chuyến đi xa.
Vì mẹ thuộc diện con liệt sĩ (theo quy định về thủ tục hành chính trường hợp thân nhân là conbị khuyết tật nặng phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh - TT) nên mẹ không thể chỉ khám ở xã như diện khuyết tật thông thường, mà phải nhiều lần xuống bệnh viện tuyến tỉnh theo chỉ định để khám và hoàn tất hồ sơ.
Quãng đường cả đi lẫn về hơn 100 cây số, trong khi mẹ không thể tự đi lại. Mỗi lần như vậy, gia đình đều phải thuê xe taxi, vì tuyến đường và phương tiện công cộng ở ngoài quê không phù hợp cho người ngồi xe lăn.
Chi phí khám bệnh, chi phí di chuyển, thời gian chờ đợi… tất cả dồn lại thành một gánh nặng không nhỏ cho mấy mẹ con. Thật vất vả, để được xác nhận là "khó khăn", người ta lại phải vượt qua một hành trình cũng khá khó khăn
Câu chuyện của mẹ tôi không phải là cá biệt. Nhiều người khuyết tật ở diện con em liệt sĩ, đặc biệt ở vùng nông thôn, đang gặp những rvtương tự khi tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Tôi nghĩ, một trong những điều cần được cải thiện là cách thức triển khai. Thay vì yêu cầu người khuyết tật di chuyển xa để thẩm định, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể tổ chức các đợt khám, đánh giá tại địa phương cấp thôn, xã. Việc cử đội ngũ y bác sĩ đến tận nơi, thậm chí là tận nhà (trường hợp nhiều người neo đơn, không thể đi lại,..) không chỉ giảm chi phí cho người dân, mà còn thể hiện sự chủ động của chính sách.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cũng cần được đơn giản hóa. Việc phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ phức tạp vô tình khiến nhiều người nản lòng, thậm chí từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình. Một chính sách nhân văn không chỉ nằm ở nội dung hỗ trợ, mà còn ở cách nó đến được với người cần.
Ngoài chính sách trợ cấp, vấn đề lớn hơn là khả năng tiếp cận các tiện ích và cơ hội việc làm của người khuyết tật.
Nhiều công trình công cộng vẫn thiếu lối đi cho xe lăn. Phương tiện giao thông chưa thân thiện. Nơi làm việc hiếm khi được thiết kế phù hợp. Điều đó khiến người khuyết tật, dù có năng lực, vẫn khó hòa nhập.
Để thay đổi điều này, cần có những quy định rõ ràng hơn về thiết kế không gian tiếp cận trong xây dựng, giao thông và môi trường làm việc.
Người khuyết tật không cần được "ưu tiên" theo nghĩa đặc biệt, mà cần một môi trường đủ công bằng để họ có thể tự bước đi theo cách của riêng mình.
Sau những tháng ngày đầu đầy tuyệt vọng, mẹ tôi dần học cách sống cùng chiếc xe lăn. Bà tập làm lại những việc nhỏ, từ việc tự di chuyển trong nhà, đến việc nấu ăn, chăm sóc bản thân. Có những ngày mẹ buồn, có những lúc mệt mỏi, nhưng bà không cho phép mình dừng lại quá lâu. Bà vẫn lọ mọ làm những việc trong khả năng để ngày trôi qua có ý nghĩa.
"Tàn nhưng không phế" - câu nói tưởng chừng quen thuộc ấy, với mẹ tôi, không phải là khẩu hiệu, mà là một hành trình.
Người khuyết tật, hơn ai hết, cần vượt qua chính mình. Nhưng để làm được điều đó, họ cần một môi trường không rào cản, một xã hội không định kiến, và một hệ thống chính sách đủ thấu hiểu.
Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, mà còn bằng cách nó đối xử với những người yếu thế nhất.
Người khuyết tật không cần những lời hứa lớn lao. Họ cần những thay đổi cụ thể từ chính sách thuận tiện hơn, không gian dễ tiếp cận hơn, và một ánh nhìn công bằng hơn từ cộng đồng.
Từ năm 2023, phụ huynh và nhà trường của thị trấn Greystones, hạt Wicklow thực hiện sáng kiến mang tên "It Takes a Village" (Cần cả một cộng đồng). Mục tiêu là không cho trẻ em tiếp xúc với điện thoại thông minh trước khi lên cấp hai (13 tuổi), nhằm bảo vệ các em trước áp lực của mạng xã hội. Mô hình này thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia châu Âu.
Dù không mang tính bắt buộc về mặt pháp lý, 70% phụ huynh có con học tiểu học tại đây đã ký cam kết không mua điện thoại thông minh cho con.
Bà Rachel Harper, hiệu trưởng Trường Tiểu học St Patrick, người khởi xướng dự án, cho biết ý tưởng hình thành sau đại dịch Covid-19. Khi học sinh trở lại lớp, bà nhận thấy sự căng thẳng gia tăng ở nhóm trẻ 8-9 tuổi.
Harper liên lạc với hiệu trưởng của 7 trường tiểu học ở Greystones để cùng tiến hành khảo sát thông qua phụ huynh. Hơn một nửa số phiếu trả lời cho biết con cái họ mắc hội chứng lo lắng, nhiều người đã đưa con đi khám tâm lý. Một số lớn phụ huynh nói "ngay cả việc đưa con đến lớp cũng là một thách thức".
Từ kết quả này, Rachel Harper quyết định cần phải hành động. Nhưng nếu chỉ "cấm" ở từng gia đình hoặc từng trường, hiệu quả sẽ thấp. Bà đề nghị thị trấn đồng loạt "nói không" với việc cho trẻ dùng smartphone.
"Chúng tôi không tước đi quyền lợi của trẻ, mà chỉ muốn trì hoãn thời điểm các em dùng thiết bị cá nhân cho đến khi có đủ kỹ năng tự bảo vệ mình trong không gian mạng", bà Harper nói.
Sau các buổi họp tại nhà hát thị trấn với sự tham gia của đại diện gia đình, bác sĩ và các tổ chức xã hội, các hiệu trưởng trường tiểu học trong vùng đã ký thư ủng hộ quy tắc. Để giúp trẻ rời xa màn hình, chính quyền địa phương tổ chức thêm nhiều hoạt động thay thế như tiệc trên bãi biển không dùng thiết bị công nghệ, mở các quán cà phê giao lưu trực tiếp và tăng cường câu lạc bộ thể thao.
Hướng đi của Greystones được củng cố bởi các nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu của Imperial College London cho thấy trẻ dùng mạng xã hội trên ba giờ mỗi ngày có nguy cơ mắc trầm cảm và lo âu cao. Các nền tảng này được thiết kế để giữ chân người dùng dựa trên cơ chế dopamine, khiến trẻ liên tục kiểm tra thông báo và rơi vào trạng thái "sợ bỏ lỡ" (FOMO).
Nỗ lực của Greystones đi ngược lại xu hướng chung tại Ireland. Theo báo cáo năm 2023 của tổ chức CyberSafeKids, 93% trẻ em 8-12 tuổi nước này sở hữu thiết bị thông minh cá nhân. Gần 25% trẻ 6 tuổi đã có điện thoại thông minh và tỷ lệ này vọt lên 74% ở nhóm 12 tuổi.
Khi mới ra đời, mô hình của Greystones từng bị hoài nghi là thiếu thực tế. Tuy nhiên, việc bảo vệ trẻ em trên môi trường trực tuyến hiện trở thành vấn đề toàn cầu. Trong khi Australia đã cấm mạng xã hội với người dưới 16 tuổi và nhiều nước châu Âu cân nhắc giới hạn độ tuổi, phụ huynh tại Greystones đã chọn cách tự vạch ra ranh giới ngay từ gia đình, với quan điểm cần sức mạnh của cả cộng đồng để nuôi dạy một đứa trẻ.