Tôi báo đại một món ăn như câu trả lời đối phó, rồi khẽ thừ người ngồi nghĩ vẩn vơ.
Ngày trôi ngang đời mình bỗng đầy vội vã, nhưng mà, tôi cứ tất bật từ sáng tới tối như thế, để làm gì?
Nghe cũng có lý. Tôi đi làm, kiếm tiền, gửi về quê, nghĩ rằng như vậy là đang làm tròn bổn phận. Mỗi tháng một khoản, mỗi năm vài lần về thăm, tôi tin rằng như vậy là đủ.
Nhưng rồi có những lúc bất chợt tự hỏi, một năm mình về nhà được mấy ngày? Ba ngày Tết, thêm vài dịp giỗ chạp, cưới hỏi. Còn lại, mấy trăm ngày kia, ba mẹ sống ra sao, vui buồn thế nào, tôi đâu có thật sự biết.
Rồi một ngày, ba mẹ lên thành phố, báo tôi ra bến xe để đón. Tôi xin nghỉ phép, đưa gia đình đi ăn, hỏi chuyện nhà, kể vài câu về công việc. Cuối buổi, mẹ bảo tôi chở qua bệnh viện, bảo “Tiện lên đây khám bệnh luôn”.
Hóa ra những lần tranh thủ lên thành phố thăm con, chỉ vì cơ thể ba mẹ đã rệu rã tới mức cần cái cớ để đi thăm khám. Và hóa ra, những chuyện quan trọng của ba mẹ, tôi không còn tham gia trong đó từ đầu nữa. Tôi chỉ biết khi mọi thứ đã được sắp xếp gọn gàng, khi họ đã tự lo xong phần lớn, và chỉ “tiện” ghé qua thăm mình một chút cho vơi nỗi nhớ con.
Hay như chị gái tôi quần quật làm từ sáng tới tối trong nhà máy, tăng ca liên miên, cố gắng dè xẻn từng đồng, chịu áp lực tứ phía, tất cả cũng là để cháu tôi có cuộc sống tốt hơn.
Chị muốn thằng nhỏ không thiếu ăn hay lo lắng mỗi lần làm mất bút mực chỉ vì sợ sẽ chẳng có tiền mua mới như chị em tôi ngày nhỏ. Chị muốn nó sống cuộc đời không nhiều nỗi sợ, khác chúng tôi.
Nhưng có những buổi tối chị về nhà, đèn vẫn sáng, mà con đã ngủ. Cánh cửa phòng khép hờ, tiếng con thở đều đều. Tôi thấy chị đứng đó một lúc, nhìn con, rồi thôi. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác. Chị ở cùng nhà với con, mà lại như không thật sự ở cùng.
Có những câu chuyện con muốn kể nhưng chị không có mặt. Có những khoảnh khắc con lớn lên từng chút, nhưng chị không kịp nhìn thấy. Hôm nọ thằng bé từ trường về, khoe khám sức khỏe học đường, cao lên được 5cm. Chị nhìn con, mới ngỡ ngàng thấy nó đã lớn bổng từ lúc nào.
Tôi đã cố gắng, chịu đựng, rồi đi qua những ngày mệt mỏi, cũng vì nghĩ đến một lúc nào đó, mọi thứ sẽ “ổn” hơn.
Vậy mà, một cơn ho kéo dài hai tuần, tôi vẫn chưa có thời gian để đi khám. Một lần chóng mặt thoáng qua, tôi tự nhủ chắc do mệt mà chẳng quan tâm. Một buổi tối kiệt sức, tôi vẫn mở laptop vì “việc chưa xong”. Tôi luôn nghĩ sẽ có lúc rảnh để chăm sóc bản thân. Nhưng lúc “rảnh” đó, hình như chưa bao giờ đến.
Đổi lại, ngoài có thêm một chút tiền trong tài khoản, một vài lời khen, một tấm bằng, một vị trí, một cái gì đó gọi là thành quả, thì phần lớn thanh xuân đã trôi qua trong những ngày chạy theo áp lực, công việc, mệt mỏi, hơn thua,…
Dù biết thành công nào cũng cần đánh đổi bằng nỗ lực. Nhưng thật sự, cái giá đang trả có phải quá đắt hay không?
Đổi thời gian bên ba mẹ để lấy tiền gửi về. Đổi những buổi tối bên con lấy những giờ làm thêm mỏi mệt. Đổi sức khỏe của mình lấy một cảm giác an tâm khi thấy tiền trong tài khoản còn đủ cho những lần đóng tiền trọ tiếp theo.
Chúng ta vẫn phải làm việc, vẫn phải cố gắng. Cuộc sống không cho phép mình dừng lại hoàn toàn. Nhưng có lẽ, điều cần thay đổi không phải là làm ít đi, mà là hiểu rõ hơn mình đang sống vì điều gì.
Để khi tất bật, mình không quên mất những điều đáng giữ. Để khi mệt, mình biết dừng lại đúng lúc mà yêu bản thân. Để khi nhìn lại, không thấy mình đã đi quá xa những người mình thương.
Chúng ta tất bật, đến cuối cùng, chỉ để “sống” trọn vẹn một cuộc đời ý nghĩa, mà thôi.
Hiện nay, Pháp đang thúc đẩy lệnh cấm mạng xã hội đối với trẻ dưới 15 tuổi.
Phát biểu trong chuyến thăm Trung tâm Pháp ngữ quốc tế, Tổng thống Macron nhấn mạnh rằng việc lạm dụng màn hình và mạng xã hội đang "lấy đi thời gian phát triển bản thân" của giới trẻ, khiến các em ít vận động và dần xa rời thói quen đọc sách. Ông cho rằng cần xây dựng một "chương trình hành động tích cực", song song với các biện pháp hạn chế, để tạo ra những lựa chọn lành mạnh thay thế cho việc sử dụng các thiết bị số.
Tổng thống Macron chỉ ra tính hai mặt của công nghệ: vừa là công cụ hữu ích phục vụ học tập, vừa có thể trở thành "chất độc" nếu bị lạm dụng và gây nghiện.
Ông cảnh báo nguy cơ gia tăng tình trạng cô lập, mất tập trung và lệ thuộc vào các thiết bị điện tử trong thế hệ trẻ, đồng thời đề xuất mỗi tháng dành một ngày hoàn toàn ngắt kết nối để "học lại cách sống không phụ thuộc vào màn hình".
Cùng tham dự sự kiện, Bộ trưởng Giáo dục Edouard Geffray cho biết sẽ tiến hành tham vấn để triển khai sáng kiến này trong các cơ sở giáo dục từ đầu năm học mới vào tháng 9.
Theo ông, dù điện thoại di động đã bị cấm ở cấp trung học cơ sở và có thể sớm mở rộng lên trung học phổ thông, Chính phủ Pháp vẫn muốn tạo ra những khoảng thời gian chung để học sinh hạn chế sử dụng thiết bị số, từ đó lan tỏa thói quen này sang gia đình và đời sống xã hội.
Cùng ngày, Tổng thống Macron đã họp trực tuyến với Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen cùng lãnh đạo 12 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) trong đó có Đức, Áo, Tây Ban Nha và Ý, nhằm thúc đẩy các biện pháp hạn chế trẻ em tiếp cận mạng xã hội.
Theo Tổng thống Pháp, số quốc gia ủng hộ các biện pháp này đã tăng gấp đôi so với mùa thu 2025, cho thấy xu hướng siết chặt quản lý đang lan rộng tại châu Âu. Ông đồng thời kêu gọi EU sớm xem xét dự luật đã được Pháp thông báo hôm 9-4, qua đó tạo cơ sở để áp dụng lệnh cấm mạng xã hội đối với những người dưới 15 tuổi từ ngày 1-9.
Trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh, vậy doanh nghiệp có nên chi trả cho trải nghiệm phỏng vấn của ứng viên, và nếu có thì đâu là giới hạn hợp lý?
Câu chuyện bắt đầu từ chia sẻ của một ứng viên nhận 100.000 đồng hỗ trợ sau buổi phỏng vấn trực tiếp. Dù số tiền không quá lớn nhưng đủ để tạo ấn tượng, bởi nó chạm đến thực tế quen thuộc, ứng viên cũng phải bỏ ra chi phí và công sức từ bước đầu tìm việc.
Đáng chú ý, một tài khoản được cho là nhân sự công ty sau đó xác nhận đây là chính sách có thật và vẫn đang được áp dụng.
Nhiều ý kiến trái chiều nhanh chóng xuất hiện. Một số người cho rằng đây là cách thể hiện sự tôn trọng cần thiết, giúp ứng viên cảm thấy được ghi nhận. Ngược lại, không ít ý kiến đặt câu hỏi liệu doanh nghiệp có đang làm quá bước vốn dĩ thuộc về trách nhiệm cá nhân khi tìm việc.
Nhiều người chia sẻ trải nghiệm tương tự, cho thấy đây không phải là trường hợp cá biệt.
Một số doanh nghiệp đã triển khai các hỗ trợ cho ứng viên đến phỏng vấn, như chi phí đi lại, tặng voucher hoặc quà nhỏ mang dấu ấn thương hiệu. Với các vị trí yêu cầu cao, mức hỗ trợ được mở rộng, bao gồm chi phí di chuyển liên tỉnh, lưu trú, thậm chí tổ chức các buổi phỏng vấn kết hợp tham quan môi trường làm việc.
Ở quy mô quốc tế, việc hỗ trợ chi phí phỏng vấn thường gắn với các tiêu chí cụ thể, được quy định rõ ràng trong quy trình tuyển dụng.
Có nơi, ứng viên ở cách địa điểm phỏng vấn trên 50 km sẽ được hoàn trả chi phí đi lại và hỗ trợ lưu trú theo quy định. Cũng có trường hợp không chỉ dừng ở hỗ trợ chi phí, mà còn đầu tư vào toàn bộ trải nghiệm tuyển dụng, từ khâu chuẩn bị, sắp xếp lịch đến phản hồi sau phỏng vấn, nhằm tạo cảm nhận tích cực ngay cả với những ứng viên không trúng tuyển.
Vì vậy, những khoản hỗ trợ này không phải là chi tiết phát sinh, mà đang dần trở thành một phần trong chiến lược cạnh tranh nhân lực của doanh nghiệp.
Nếu chỉ nhìn bề ngoài, khoản hỗ trợ trong quá trình phỏng vấn có thể được xem là chi tiết nhỏ. Nhưng ở chiều sâu hơn, việc doanh nghiệp lựa chọn có hay không, triển khai đến đâu, lại phản ánh rõ cách họ nhìn nhận tuyển dụng, là khoản chi phí cần tối ưu, hay cơ hội để xây dựng hình ảnh và thu hút nhân tài.
Mức độ đầu tư này thường không đồng đều giữa các vị trí. Theo ông Trần Đăng Quân (trưởng phòng nhân sự một công ty dệt may tại TP.HCM), với nhóm lao động phổ thông, tốc độ và chi phí vẫn là ưu tiên.
Ngược lại, ở nhóm nhân sự có kinh nghiệm hoặc cấp quản lý, những hỗ trợ trong quá trình phỏng vấn có thể tác động đến quyết định tham gia và mức độ thiện cảm với doanh nghiệp.
Tuy vậy, chi phí không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Điều ứng viên quan tâm hơn là cách doanh nghiệp tổ chức quy trình tuyển dụng. "Một quy trình rõ ràng, giao tiếp minh bạch giúp tạo cảm giác chuyên nghiệp và đáng tin cậy, nếu có điểm thiếu nhất quán dễ khiến ứng viên rút lui, ngay cả khi có hỗ trợ chi phí", ông Quân nói.
Ở góc độ vận hành, bà Nguyễn Thảo Vy (phụ trách tuyển dụng tại một công ty vận tải), cho rằng điểm mấu chốt nằm ở cách doanh nghiệp thiết kế hành trình cho ứng viên. Với các vị trí có mức cạnh tranh cao, từng khâu như liên hệ, sắp xếp lịch, tổ chức phỏng vấn đều cần được chuẩn bị có chủ đích.
"Chi phí đi lại có thể chỉ là phần nhỏ. Quan trọng hơn là thông điệp doanh nghiệp tôn trọng thời gian và công sức của ứng viên. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc họ có tiếp tục theo đuổi cơ hội hay không", bà nhận định.
Nhưng không ít ý kiến cho rằng việc đầu tư vào trải nghiệm tuyển dụng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tương xứng. Trong những ngành có nguồn cung lao động dồi dào, hoặc với các vị trí không đòi hỏi chuyên môn cao, lợi ích từ việc nâng cấp trải nghiệm có thể không rõ rệt, thậm chí trở thành gánh nặng chi phí nếu triển khai dàn trải.
Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng thay vì chạy theo một chuẩn mực trải nghiệm chung, doanh nghiệp cần xác định mức độ đầu tư phù hợp với đặc thù ngành nghề, quy mô và chiến lược nhân sự. Khi được định vị đúng, trải nghiệm tuyển dụng sẽ không còn là yếu tố mang tính phong trào, mà trở thành lợi thế thực chất trong cạnh tranh nhân lực.
Thực tế là nếu thiếu phương pháp phù hợp, cơ sở vật chất hỗ trợ hay sự thấu hiểu từ giáo viên và bạn bè, việc hòa nhập rất dễ trở thành hình thức.
Có thể khẳng định đây là yếu tố tiên quyết trong giáo dục và hỗ trợ học sinh khuyết tật. Không chỉ hiện diện ở trường, học sinh khuyết tật phải tiếp cận, sử dụng một cách độc lập, an toàn và hiệu quả cơ sở vật chất, học liệu và dịch vụ giáo dục trong trường.
Học sinh khuyết tật có thể di chuyển thuận lợi trong trường, tiếp cận lớp học, thư viện, nhà vệ sinh cùng thiết bị học tập phù hợp. Tiếp cận còn phản ánh mức độ môi trường giáo dục được thiết kế để phục vụ tất cả học sinh thay vì buộc học sinh phải thích nghi với những giới hạn sẵn có. Điều này đảm bảo mọi học sinh đều có cơ hội học tập bình đẳng, phát triển toàn diện.
Mỗi học sinh khuyết tật có đặc điểm, khả năng và nhu cầu hỗ trợ riêng nên không thể áp dụng phương pháp giảng dạy hay đánh giá chung cho tất cả. Bình đẳng cơ hội không phải là ưu tiên hay thiên vị khi đánh giá mà là cung cấp hỗ trợ cần thiết để các bạn đứng trên một điểm xuất phát tương đương để học tập và được đánh giá một cách công bằng, phù hợp năng lực và thể chất.
Học sinh khiếm thị có thể được cung cấp đề thi dạng chữ nổi hoặc file âm thanh, học sinh khiếm thính được hỗ trợ phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu trong quá trình học, học sinh găp khó về vận động được bố trí thêm thời gian làm bài hoặc áp dụng hình thức kiểm tra phù hợp. Điều này không làm thay đổi bản chất việc đánh giá, chỉ là đảm bảo học sinh có thể tiếp cận và thể hiện năng lực của mình một cách đầy đủ nhất.
Để học sinh khuyết tật thực sự đạt được tính tiếp cận, bình đẳng, chỉ riêng nỗ lực của nhà trường là chưa đủ mà cần nhiều bên liên quan cùng tham gia. Cán bộ y tế đóng vai trò tư vấn, cung cấp thông tin về đặc điểm của từng dạng khuyết tật, cùng giám định mức độ để làm cơ sở xây dựng kế hoạch hỗ trợ phù hợp.
Chuyên viên tâm lý đánh giá nhu cầu, mức độ cần hỗ trợ và đồng hành trong quá trình can thiệp. Các tổ chức xã hội góp phần hỗ trợ nguồn lực, chương trình can thiệp và nâng cao nhận thức cộng đồng.
Học sinh khuyết tật vận động, khiếm thính hay khiếm thị luôn cần sự phối hợp của giáo viên, cán bộ y tế và chuyên viên tâm lý học đường hoặc nhân viên công tác xã hội kết nối nguồn lực cần thiết. Nếu thiếu một mắt xích trong hệ thống hỗ trợ, hiệu quả giáo dục sẽ khó đạt được một cách toàn diện.